NHỮNG SINH HOẠT CHÍNH YẾU CỦA CON NGƯỜi

Nguyễn Văn Thành
 


Trong Bài Chia Sẻ nầy, tôi sẽ lần lượt khảo sát những sinh hoạt «làm người», trong bốn lănh vực chính yếu sau đây:

- Thực tế,

- Lối nh́n hay là quan điểm,

- Đời sống xúc động

- Những quan hệ trao đổi qua lại hai chiều giữa người nầy với người khác, bằng phương tiện ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời.

***

1.-Thực tế của tôi là tất cả những ǵ tôi thấy, tôi nghe và tiếp cận với tay chân hay là làn da và thớ thịt của tôi.

Một người khác cùng chung sống và đang có mặt với tôi, từ một vị trí hay là ở một gốc độ khác, có thể ghi nhận một thực tế khác, hoàn toàn khác biệt, thậm chí mâu thuẫn với thực tế của tôi.

Chính v́ lư do ấy, bao lâu hai người chưa trao đổi qua lại, chia sẽ, góp chung lại với nhau, với một thái độ lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau, thực tế của tôi chưa thể nào xích lại gần với thực tế của người kia.

Vấn đề trở nên phức tạp và phiền toái hơn nữa, khi mỗi người dựa vào những kinh nghiệm quá khứ hay là những dự phóng tương lai, để tŕnh bày về những thực tế có liên hệ gần hoặc xa với ḿnh. Ví dụ: Thực tế của Đất Nước Việt Nam, từ 1975 đến hôm nay, là ǵ một cách thực sự và khách quan, một đàng đối với một người ở lại trong Nước. Đàng khác, cũng một thực tế ấy là ǵ, đối với một người đă ra đi và đang sống ở Nước Ngoài? Nếu hai người có hai chính kiến hay là ở vào hai thế hệ, hoặc lớp tuổi khác nhau, sự cách biệt giữa hai loại thực tế của hai người ấy càng trở nên lớn lao hơn, có khi c̣n khai trừ và loại thải lẫn nhau.

Sau cùng, chúng ta dùng ngôn ngữ, để diễn tả thực tế của ḿnh. Khi bộc lộ nội tâm như vậy, chúng ta không thể không sử dụng ba cơ chế hay là xu thế cần thiết và tất yếu, có mặt trong mọi ngôn ngữ, như: tổng quát hóa, gạn lọc và chủ quan hóa:

Tổng quát hóa có nghĩa là khởi phát từ hai hoặc ba nhận xét cụ thể, chúng ta nhảy vọt lên và đề xuất một kết luận có tính qui luật và thường hằng: Thực tế luôn luôn là như vậy, và phải tiếp tục như vậy, trong mọi trường hợp, đối với mọi người.

Gạn lọc là xu thế chỉ chọn lựa những sự kiện cụ thể, thích hợp với hoàn cảnh và kinh nghiệm của bản thân tôi, và từ đó tôi cố t́nh loại trừ và kết án những ǵ đi ngược lại với những tin tưởng hoặc định kiến đă có mặt trong nội tâm của tôi.

Chủ quan hóa là xu thế gán ghép hoặc áp đặt cho kẻ khác một ư nghĩa do tôi khám phá và đề xuất. Thực tế đối với tôi là như vậy, cho nên mọi người phải chấp nhận thực tế ấy, như là một hiển nhiên, không cần khảo sát thêm và kiểm chứng một cách dài ḍng, phức tạp.

Khi ư thức một cách sáng suốt, đến ba cơ chế tâm lư nầy, luôn luôn có mặt trong ngôn ngữ và tác phong trao đổi hằng ngày, chúng ta sẽ cố quyết học tập hai thái độ, nhằm thăng tiến bản thân và tôn trọng tính người của mọi anh chị em đang có quan hệ với chúng ta.

Thái độ thứ nhất là LẮNG NGHE chính ḿnh, để đề pḥng bao nhiêu cạm bẫy, do chúng ta tạo nên, khi phê phán, đánh giá, tố cáo và kết án kẻ khác. Tổ tiên và cha ông chúng ta đă đề nghị «hăy đánh lưỡi bảy lần trước khi nói», có nghĩa là «hăy thức tỉnh», không mê muội, trầm ḿnh trong những định kiến hoàn toàn vô thức. Nói cách khác, khi đi, tôi biết tôi đang đi. Khi nói, tôi biết tôi đang nói…

Thái độ thứ hai là Lắng Nghe và Tôn Trọng kẻ khác, tạo mọi điều kiện thuận lợi và tốt hảo, nhằm giúp họ diễn tả và tŕnh bày thực tế, do chính họ ghi nhận. Khi chúng ta lắng nghe như vậy, chúng ta đă cho phép người ấy «trở thành người».

***

2.- Sau khi ghi nhận thực tế với năm giác quan, chúng ta sử dụng TƯ DUY, để khẳng định LỐI NH̀N của ḿnh. Lối nh́n, tùy theo cách dùng ngôn ngữ của mỗi tác giả, c̣n mang những tên gọi khác nhau như: ư kiến, quan điểm, lập trường hay là vũ trụ quan.

Nhằm phát huy và thao tác con đường tư duy một cách sáng suốt, có hệ thống và khoa học, chúng ta cần từ từ đi lên từng bước, theo năm cấp thang suy luận sau đây:

Cấp thứ nhất là thâu lượm, khảo sát và kiểm chứng các dữ kiện cụ thể và khách quan có liên hệ đến một vấn đề mà chúng ta muốn giải quyết.

Cấp thứ hai là đề xuất một hay nhiều giả thuyết, nhằm khám phá ư nghĩa của thực tế hay là vấn đề mà chúng ta đang nhận diện và đối diện.

Cấp thứ ba là chọn lựa một hướng đi, hay là mục đích tối hậu
. Từ đó, chúng ta xác định đâu là ưu tiên số một - hay là mục tiêu quan trọng nhất - trong bao nhiêu dự phóng của chúng ta.

Cấp thứ tư là chuyển biến mục đích tối hậu thành những hiện thực hay là những tác động cụ thể hằng ngày.

Cấp thứ năm là đánh giá kết quả cuối cùng, sau một thời gian thực hiện, bằng cách trở về đối chiếu với thực tế lúc ban đầu, để xác định đâu là thành quả khả quan và đâu là những tồn tại chưa được khắc phục. Nói cách khác, chúng ta thất bại, v́ những cản trở nào? Hay là chúng ta đă thành tựu, nhờ vào những năng động nào? Dựa vào cách đánh giá ấy, chúng ta sẽ thêm, bớt hay là chuyển hướng thế nào, trong bao nhiêu dự án sắp tới?

Trong cách dùng từ, để tránh những ngộ nhận đáng tiếc có thể xảy ra, chúng ta cần phân biệt hai động tác có ư nghĩa và phần vụ hoàn toàn khác nhau:

Một bên là nhận định, đánh giá tác phong hay là hành vi của chúng ta và của người khác.

Bên kia là phê phán, xét đoán giá trị của con người, với một đoàn tùy tùng dài tḥng ḷng như tố cáo, loại trừ, chửi bới và tấn công...

Trong cuộc sống làm người, chúng ta không thể không nhận định và đánh giá công việc cũng như hành vi của ḿnh và của người khác. Một cách đặc biệt, khi có nhiệm vụ giáo dục và hướng dẫn ai, phải chăng công việc quan trọng bậc nhất của chúng ta là giúp cho người ấy càng ngày càng phát huy khả năng đánh giá tất cả những ǵ xảy ra trong cuộc đời, bắt đầu từ những ǵ họ nói và làm? Đánh giá như vậy có nghĩa là xác định và phân biệt theo những tiêu chuẩn đang được thịnh hành trong môi trường xă hội,văn hóa và giáo dục: cái ǵ đúng và cái ǵ sai, cái ǵ thích hợp và cái ǵ không thích hợp với đời sống và quan hệ xă hội…

Tuy nhiên, khi làm công việc ấy, chúng ta cần ư thức một cách rơ ràng và sáng suốt: trong mọi hoàn cảnh, đánh giá công việc hay là tác phong của một người không phải là phê phán giá trị và bản sắc làm người của người ấy. Cho nên, trên con đường đi tới của tư duy, một đàng với sứ điệp «TÔI», chúng ta khẳng định quan điểm và xác tín của ḿnh. Đàng khác, chúng ta lắng nghe và tôn trọng người khác, cho phép họ diễn tả và tŕnh bày ư kiến của ḿnh, mặc dù đó là một trẻ em, đang ở vào lứa tuổi «học làm người». Trái lại, khi «nói THAY nói THẾ», hay là «cố t́nh áp đặt từ trên và từ ngoài» cho kẻ khác, một lối nh́n, một cách đơn phương và độc tài, chúng ta chưa thực sự làm người. Đồng thời, chúng ta đang làm tổn thương giá trị làm người, hay là xói ṃn ḷng tự tin của người ấy.



***

3.- Tư duy, như vừa được nói tới, có phần vụ sáng soi và điều hướng chúng ta, trong mọi chương tŕnh và kế hoạch hành động. XÚC ĐỘNG, trái lại, là động cơ thúc đẩy chúng ta thực hiện và hoàn thành công việc, nhằm thỏa măn mọi nhu cầu chính đáng và cơ bản trong cuộc sống làm người. Chính v́ lư do đó, khi các nhu cầu làm người được đáp ứng và toại nguyện, chúng ta vui sướng, hạnh phúc và an b́nh. Trong trường hợp ngược lại, những xúc động như sợ hăi, lo buồn và tức giận sẽ xuất hiện trong nội tâm, như một tiếng c̣i báo động nhằm đánh thức và thúc giục chúng ta «hăy diễn tả, chia sẻ và chuyển hóa t́nh huống hiện tại». Không được hóa giải như vậy, xúc động sẽ tràn ngập và khống chế tư duy, như một ḍng thác lũ phá vỡ bờ đê và làm băng hoại mọi mùa màng trong những cánh đồng hai bên.

Thêm vào đó, ở bên dưới mỗi xúc động đang làm cho nội tâm và nhất là các sinh hoạt b́nh thường của tư duy bị tê liệt, chúng ta hăy lắng nghe và khám phá một hay nhiều nhu cầu của cuộc sống làm người. Hăy lắng nghe và nh́n nhận, một cách chân thành và cẩn trọng, những nhu cầu cơ bản ấy. Phải chăng đó là cách hóa giải hữu hiệu và cũng là con đường làm người cần được mỗi người học tập, tôi luyện trong suốt cuộc đời. Nếu chúng ta không đáp ứng, với những phương thức vừa được tŕnh bày, xúc động sẽ trở thành BẠO ĐỘNG trong ngôn ngữ và hành vi. Ở cuối chặng đường thoái hóa, xúc động sẽ trở thành hận thù và chiến tranh. Và con người lúc bấy giờ, sẽ biến thân thành muông thú đối với nhau, trong mọi quan hệ qua lại hai chiều, như “Tao hơn – mày thua, Tao tốt – mày xấu, Tao có lư – mày phi lư…”. Tắt một lời, “Mors tua, vita mea”, có nghĩa là “Mày phải chết, để cho tao sống, chúng ta không thể đội trời chung”.

Trong khuôn khổ của bài chia sẻ nầy, tôi chỉ đề cập đến ba xúc động chính yếu sau đây mà thôi:

Thứ nhất là TỨC GIẬN. Xúc động nầy có phần vụ nhấn mạnh rằng: «Tôi đang cần TỰ DO và tôi cần khẳng quyết quyền KHÁC BIỆT, đối với những người đang chung sống hai bên cạnh.

Thứ hai là BUỒN
PHIỀN. Sứ điệp của xúc động nầy là:

«Tôi đang cần tạo lập những QUAN HỆ hài ḥa và mới mẻ, với con người và sự vật đang bao quanh tôi».

Thứ ba là LO SỢ. Xúc động nầy đang dùng ngôn ngữ không lời, để nhắn nhủ cho chính chúng ta rằng: «Tôi đang cần được sống trong bầu khí AN TOÀN. Xin đừng có ai đe dọa, tố cáo và kết án tôi».

Khi cả ba nhu cầu cơ bản ấy được lắng nghe, trân trọng, đáp ứng và toại nguyện, ai ai trong chúng ta cũng sẽ tự nguyện thi thố tài năng của ḿnh một cách tối đa và tốt hảo, trên con đường làm người. Đồng thời, một cách hăng say và nhiệt t́nh, chúng ta sẽ vận dụng mọi cơ may, để đóng góp và xây dựng cho kẻ khác, để họ cũng có những điều kiện làm người như chúng ta, với chúng ta và nhờ chúng ta.

***

4.- Sinh hoạt cuối cùng, trên tiến tŕnh làm người của chúng ta, là kết dệt những quan hệ ĐỒNG CẢM và ĐỒNG HÀNH, với anh chị em đồng bào và đồng loại. Theo lối nh́n của tác giả Stephen Cover, đây là loại quan hệ «Người Thắng-Tôi Thắng-Chúng ta cùng Thắng». Không có kẻ hơn, người thua. Không có người tự tấn phong là hạng «siêu nhân», và những thành viên c̣n lại được cư xử và đăi ngộ như là «công cụ», «đồ vật», «bệ gác chân», hay là «một loại người phó sản».

Trong hiện t́nh thoái hóa của Quê Hương Việt Nam, v́ những lư do thực tiển và động cơ chính trị, quan hệ XIN CHO đă bị đầu độc và ô nhiễm trầm trọng. Xin có nghĩa là quị lụy, sụp lạy trước một ông quan toàn quyền và thực dân. Cho có nghĩa là ban phát một cách nhỏ giọt, từ trên và từ ngoài, một cách tùy nghi và tùy tiện.

Trong khi đó, quan hệ b́nh thường và lành mạnh giữa người và người, nhất là trong địa hạt T́nh Yêu dâng hiến, bao gồm bốn động tác cơ bản: XIN và CHO, NHẬN và TỪ CHỐI. Hẳn thực, chính lúc tôi cho, tôi đang nhận lại bao nhiêu hồng ân, bằng cách nầy hoặc cách khác. Khi xin ai một điều ǵ, tôi đang nh́n nhận tính chủ thể của người ấy. Cho nên, tôi không có thái độ cướp giật, ép buộc, đ̣i hỏi, đấu tranh, giống như hùm beo muông sói.

Cũng trong tinh thần và lăng kính ấy, khi ai xin tôi một điều ǵ, tôi cần khảo sát điều kiện thực tế của ḿnh, để có thể chọn lựa một trong hai con đường: Một là CHO một cách b́nh tâm và thanh thản. Hai là từ chối, trả lời «KHÔNG», một cách nhă nhặn và khiêm tốn. Xin như vậy không phải là nài nỉ, ép buộc người kia phải cho. Và khi cho trong tinh thần ấy, tôi không phải là người ở trên, ban phát xuống một cái ǵ dư thừa, vô ích, vô dụng. Trong cách cho như vậy, tôi không cưu mang một hậu ư là «thả tép câu tôm». Hẳn thực, khi cho bất kỳ một điều ǵ, một cách thực sự và trọn vẹn, tôi CHO chính CON NGƯỜI của tôi. Tôi CHO cả MỘT TẤM L̉NG làm người.

Chính v́ bao nhiêu lư do vừa được đề xuất trên đây, trong mọi quan hệ bao gồm t́nh yêu, t́nh bạn, t́nh anh chị em đồng bào, đồng loại…tôi dùng sứ điệp «NGÔI THỨ NHẤT, TÔI», để diễn tả vả khẳng định con người của ḿnh, thay v́ lạm dụng ngôi thứ hai, để nói thay, nói thế cho kẻ khác, theo kiểu «cả vú lấp miệng em».

Trong tinh thần và lăng kính ấy, khi biết lắng nghe và tôn trong con người đang chung sống, chúng ta sẽ có khả năng sáng tạo và thiết lập với mọi người, những quan hệ xây dựng và hài ḥa, c̣n mang tên là « tương sinh, tương thành ». Hẳn thực, khi chúng ta cố quyết « làm người », chúng ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ khác « thành người, vói chúng ta, nhờ chúng ta và như chúng ta ».

Lausanne, Thụy Sĩ

Nguyễn Văn Thành

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 09/25/06