Về những ngôi đ́nh nổi tiếng ven sông Cầu

 Nguyễn Thị Hải Vân

 

 

Đ́nh làng là một sản phẩm của lịch sử, không phải ra đời từ thời nguyên thuỷ mà như nhiều nhà nghiên cứu cho biết, nó chỉ xuất hiện ở nước ta từ khoảng thế kỷ XV. Một số nhà dân tộc học nghệ thuật thường nói rằng: Đ́nh làng đă manh nha từ thế kỷ XV, định h́nh vào thế kỷ XVI, phát triển vào nửa cuối thế kỷ XVII và lụi tàn dần từ thế kỷ XVIII, sang thế kỷ XIX th́ bắt đầu có sự thay đổi cơ bản về nhận thức đối với bản chất của ngôi đ́nh.

 

 

Nói tới đ́nh, người ta thường quan tâm đến nhiều dạng, như: Phương đ́nh, thuỷ đ́nh và rất nhiều loại h́nh đ́nh khác nữa. Song, ngôi đ́nh mà chúng tôi quan tâm, đó là đ́nh làng thờ Thành hoàng làng. Trước hết, muốn nói về đ́nh làng, th́ chúng ta có thể hiểu rằng, đ́nh được ra đời là do sự “cưỡng hôn” giữa chính quyền Trung ương và tổ chức làng xă. Nói như vậy, có nghĩa, nó nảy sinh từ sự áp đặt của triều đ́nh đối với dân chúng. Đ́nh làng được h́nh thành cùng thời với một loại người mang tính chất “hai mang” (đó là lư/xă trưởng). Đây là những người đă thay mặt triều đ́nh để quan hệ với dân chúng, đồng thời cũng thay mặt xă thôn để đề đạt những nguyện vọng của dân chúng với triều đ́nh.

 

Như vậy rơ ràng vào thời Lê sơ đă có một hiện tượng, Nhà nước Trung ương muốn tḥ bàn tay chính trị của ḿnh vào xóm thôn, như ở đ́nh Quảng Văn được làm vào năm 1492 ở Đông Đô là cụ thể nhất. Từ đây triều đ́nh đă “cấy” vào nông thôn một đ́nh làng - đó là nơi ban bố chính lệnh của triều đ́nh, đồng thời triều đ́nh cũng đưa Thành hoàng làng vào các đ́nh làng. Đ́nh làng là nơi thờ Thành hoàng làng, nhưng thành có nghĩa là cái thành, hoàng là cái hào khô vây quanh cái thành, v́ vậy mà Thành hoàng chủ yếu là ở trên vùng đất cao, là vị thần bảo vệ thành thị. Khi Thành hoàng đến với người Việt và được “cấy” vào trong các đ́nh làng, thực chất chỉ để sử dụng cái tên gọi, nên chúng ta gọi là Thành hoàng làng (trừ Tô Lịch, c̣n chúng ta không có Thành hoàng mà chỉ có Thành hoàng làng). Thành hoàng làng cũng như cái đ́nh làng đă trở thành một thực thể văn hoá của làng xă từ thế kỷ XVI, như ở vùng Bắc Ninh cũ có thể thấy được là đ́nh Lỗ Hạnh và đ́nh Thổ Hà, những đ́nh của thế kỷ XVII th́ phổ biến gần như trên khắp miền của văn hoá người Kinh ở châu thổ Bắc Bộ cho đến tận Hà Tĩnh.

 

Chúng tôi xin đề cập đến một số ngôi đ́nh nổi tiếng của đất Bắc Ninh. Người ta thường nói:

 

“ Cầu Nam, chùa Bắc, đ́nh Đoài”

 

Nhưng, thực sự ngôi đ́nh ở Bắc Ninh cũng đă có nhiều dấu tích mang ư thức dân gian, mà thông qua đó, chúng ta vẫn t́m thấy được sự “thổn thức” của quá khứ, những lời dạy bảo của tổ tiên, những ước vọng truyền đời của cư dân nông nghiệp Việt. Theo triền của sông Cầu, có thể bắt gặp ngôi đ́nh nổi tiếng đầu tiên trên đất Bắc Ninh là đ́nh Ngô Nội. Đ́nh Ngô Nội được làm vào nửa cuối thế kỷ XVII, ở đây c̣n giữ được nhiều mảng chạm, mà thông qua đó, chúng ta như thấy sự náo nức của quá khứ, sự đồng nhất giữa con người với thiên nhiên vũ trụ, đó là những vân xoắn mà qua giá trị biểu tượng và xuất thần, chúng ta như nghe thấy tiếng gầm của sấm chớp, để thoảng như hiểu rằng, người xưa muốn thông qua những vân xoắn ấy để muốn nhắc nhở với thần linh: Hỡi các đấng cao viễn hăy theo gợi ư của chúng tôi đây, nổi sấm lên, gọi mây về, cho mưa xuống để chúng tôi có được vụ mùa bội thu. Trong tạo h́nh của đ́nh Ngô Nội c̣n thấy được nhiều mảng chạm đặc biệt (cũng tương tự như thế đă thấy được ở đ́nh Cổ Mễ, đ́nh Đáp Cầu, đ́nh Viêm Xá/Diềm Xá), đó là những con rồng với nét đao rất mạnh và có những con người cũng như các thú vật đang leo trèo trên râu rồng. Một số nhà dân tộc học nghệ thuật cho chúng ta biết rằng: Rồng gắn với mây, với mưa, là “tinh dịch” của trời cha tràn vào ḷng đất mẹ cho muôn loài sinh sôi. Như vậy, con rồng là biểu tượng của mưa, và rơ ràng, thông qua mưa, th́ mọi vật, mọi loài đều sinh sôi, phát triển. Và, bằng tư duy mênh mông của người nông dân ở châu thổ Bắc Bộ, đă dẫn đến một hiện tượng, rồng là một con vật linh thiêng nhưng rất tự do trong mối quan hệ với muôn loài. Rồng tượng trưng cho bầu trời, đao của nó tượng trưng cho sấm chớp, đôi mắt của nó là nơi sáng nhất bao giờ cũng bay ra bộ đao lớn, trên thân là những đao nhỏ, v́ vậy khi rồng thống nhất với bầu trời, với sấm chớp, th́ h́nh tượng này cũng là tiếng gọi mưa, gọi mùa sinh sôi. Trong các mảng chạm đă có rất nhiều con vật nhỏ leo trèo trên râu của nó, có thể nghĩ, đó là con của rồng - sản phẩm của sự giao phối thiêng liêng, thuộc ḍng tư duy tràn vũ trụ cổ truyền(1).

 

Ở đ́nh Ngô Nội c̣n có một h́nh chạm rất đặc biệt ở cốn ngoài gian giữa của đại đ́nh, ngang tầm mắt, dễ thấy, đó là h́nh tượng đôi trai gái đang giao phối. Đă một thời, người ta nghĩ rằng, đây là những h́nh tượng liên quan đến việc chống phong kiến, nhưng thực sự ở nước ta phong kiến là vấn đề hiện đang c̣n bàn căi, nhiều người c̣n cho rằng, nước ta không có chế độ phong kiến nên lấy đâu ra phong kiến để mà chống. Chúng ta có thể t́m được h́nh tượng này ở nhiều nơi trên vùng châu thổ sông Hồng. Cụ thể như đ́nh Thổ Tang (Vĩnh Phúc) có cảnh trai gái ôm nhau t́nh tự, cũng tương tự như ở đ́nh Dương Liễu (Hà Tây), hay mạnh bạo hơn là ở chùa Điềm Giang (Ninh B́nh) cũng có những h́nh tượng như vậy.

 

Ở đây, h́nh tượng như ở đ́nh Ngô Nội không có nghĩa đă gắn với sự dâm bôn, mà người ta thường nghĩ đấy là một gợi ư cho thần linh để cầu sự no đủ, được mùa... ở đ́nh Cổ Mễ, gần sát với chùa Cổ Mễ (chùa Cổ Mễ có rất nhiều tượng đẹp, giá trị nghệ thuật rất cao) là một kiến trúc bề thế, gồm 3 gian 2 chái, ở đây vẫn c̣n tiếng “th́ thầm của vũ trụ” để con người “hoà” vào trong không gian bao la, đó cũng là những vân xoắn, những con rồng với những đao mác lớn, rồi những h́nh tượng gắn với lễ hội, phần nào có cả những đề tài sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của địa phương, của vùng sông Cầu này, mà người ta c̣n ngờ như có bóng dáng của hát quan họ nữa. Mặt khác, ở đ́nh này c̣n rất nhiều bia kư nói về những sự kiện lịch sử riêng, như: Lịch sử lập làng, lịch sử lập đ́nh, sự đóng góp công đức của quần chúng... Nh́n chung, đ́nh và chùa Cổ Mễ là một cụm di tích rực sáng trong toàn bộ khu vực này, đó là một địa điểm du lịch văn hoá nghệ thuật mà chúng ta cần phải quan tâm.

 

Vượt qua chân cầu (nối sang Bắc Giang) đến đ́nh Đáp Cầu. Đ́nh có 3 gian 2 chái, theo cách dựng cổ truyền, nhưng nét đặc biệt đáng quan tâm của đ́nh này là có 6 hàng chân. Thông thường phổ biến ở các đ́nh khác, th́ ngoài bộ v́ nóc, tiếp đến là mối liên kết giữa cột cái và cột quân bằng một cốn tam giác chồng rường, c̣n cột hiên nối ra cột quân thường là một kẻ cong gồng lưng chịu lực của mái hiên, nhưng ở đây, có lẽ qua đ́nh này, đă cho thấy h́nh thức mở đầu cho một kiểu kiến trúc đặc biệt, với kết cấu giữa cột quân và cột hiên cũng được thực hiện theo kiểu cốn tam giác chồng rường. Trong đó, cả cốn trên và cốn dưới đều thống nhất một niên đại cùng phong cách nghệ thuật, bởi những con rồng đó đều có đao mác nhọn đầu, một sản phẩm rơ rệt của cuối thế kỷ XVII. Đặc biệt ở trong đ́nh c̣n chạm rất nhiều con vật nhỏ đang leo trèo trên đầu và đao rồng. Nh́n chung, trong cả bố cục này như vẫn thấy sự vần vũ của bầu trời để tạo nên một sinh khí thiêng liêng tràn vào cơi thế, đồng thời với những con người điểm xuyết trong “không gian” đó, tuy được gọi là thiên thần, song rơ ràng lại rất trần gian, bởi trong cách thức ăn mặc, các động tác, mà qua đó, ta vẫn như cảm thấy có một ư nghĩa nào đó liên quan đến những vấn đề của cuộc sống đời thường, họ góp phần nói lên những ước vọng mà người nông dân Việt đang mong mỏi và muốn vươn tới.

 

Cũng theo mạch chảy của ḍng sông, chúng ta c̣n gặp một ngôi đ́nh đặc biệt đó là đ́nh Diềm - nơi quê hương của bà mẹ được coi là Thuỷ tổ của Quan họ, ở đây trong  đền Vua Bà có rất nhiều tục lệ mà nổi tiếng nhất là tục cướp cầu, tuy tục này, về cơ bản, cũng giống như ở các nơi khác, với hướng Đông - Tây (hướng vận động của mặt trời). Quả cầu cũng màu đỏ như biểu tượng về mầu của mặt trời để hội tụ nguồn sinh khí vô biên. Cướp cầu (coi như sự vận động của mặt trời), suy cho cùng, dù có cố t́nh tạo nên sự mất trật tự để trở về với thời “hỗn mang”, th́ khi cướp, kết quả cuối cùng, cầu cũng chui vào lỗ bên Đông nhiều hơn, v́ bên Đông là sự “khởi nguồn”, bên Tây là sự “kết thúc” phản ánh ước vọng cầu được mùa. Trong sự lao xao “hỗn mang” ấy, dù cho các cụ có định vị các “bàn” (bàn có quy định về số người, về nhóm người tham gia trong tṛ chơi), th́ ở nhiều nơi trong lễ hội, nhất là trong hội cướp cầu, người ta cần thiết phải có hiện tượng mất trật tự, bởi hiện tượng này đồng nhất với thời “ăn lông ở lỗ”, đó là một thời kỳ chưa ổn định của luật lệ. Nhiều lễ hội đă khởi đầu bằng hiện tượng không có trật tự, như để đưa quy luật thời gian trong năm đi dần vào trật tự, và khi cướp cầu xong người ta “nhắc nhở” với thần linh rằng: Đến đây, giờ này sự hỗn độn đă qua rồi, xin thần hăy đem tới cho chúng tôi “trật tự” của thời gian, đừng gây nên thiên tai để chúng tôi luôn có vụ mùa bội thu. Hiện tượng như thế chúng ta cũng thấy ở tục ném đá của chùa Hương, hay tục Dô ông đám ở Đồng Kỵ. Như vậy, có nghĩa là, hiện tượng “lao xao mất trật tự” đă khá phổ biến (mà chúng ta cũng đă từng thấy ở trong tục cướp cầu của đền Vua Bà), và khi các “cụ” nói đến “tả tơi chơi hội” là nói đến những sự “giày ṿ của thời gian chiêm bao”, tức thời gian hỗn mang c̣n đọng lại trong tiềm thức.

 

Ở bên cạnh đền Vua Bà là đ́nh Diềm, qua thời chống Pháp đ́nh bị phá huỷ một phần nên nay chỉ c̣n 1 gian 2 chái lớn. Tuy nhiên, đáng quan tâm nhất của đ́nh Diềm là bộ cửa vơng được xếp vào loại lớn nhất trong tất cả đ́nh làng của người Việt từ trước đến nay. Toàn bộ cửa vơng sơn son thếp vàng rực rỡ, từng diện nhỏ đều được chạm rất kỹ, thu hút sự chú ư của mọi người ngay từ phút đầu. Bức cửa vơng này chạy suốt từ thượng lương (xà nóc), ở độ cao xấp xỉ 7m, đi dần xuống tận nền đ́nh với nhiều cấp, bám theo bộ cột cái trong.

 

Tầng trên cùng là một tấm ván chạy suốt chiều rộng của gian giữa đ́nh (3,90m), chạm thủng 4 con rồng ḅ vào giữa cùng chầu một mặt trời ở trung tâm, trên lưng mỗi rồng đều chạm một vũ nữ thiên thần. Tiếp dưới chạm một dải cánh sen, chia thành 3 khoảng, nhô ra 3 chiếc đầu chim, mỏ ngậm/treo 1 đèn có 5 dải kim ṭng.

 

Tầng thứ hai (cao từ 6,5 m đến 5,7 m), phẩn giữa có 6 cột chạm lộng h́nh rồng kẹp lấy ba cửa thờ tạc thành tầng tầng lớp lớp theo kiểu cửa vơng, với kết cấu sâu dần hạ cấp so le, để lộ những h́nh rồng và mây trong cách chạm thủng... hút dần vào phía trong. Chính giữa mỗi hệ cửa này nhô ra ở chính tâm là tượng một đầu nữ thần có cổ cao 3 ngấn, mặt trái xoan, mắt phượng, mày ngài, mũi dọc dừa, miệng nhỏ xinh, tóc lộ trước trán, tai dài... ư nghĩa của đề tài này, tới nay, vẫn chưa được xác định.

 

Tầng thứ ba (cao từ 5,7 m đến 5 m), gồm 3 phần: Phần trên chia ra 3 lớp diềm giật cấp thụt vào dần, chạm thủng mây lá cách điệu và h́nh cánh sen. Phần giữa cũng tạo thành các cửa khám, 4 lớp xếp so le, có các diềm chạm rồng và mây. Trong tầng này nhô ra 3 tượng đầu chim phượng, mỗi con phượng ngậm một đèn lồng.

 

Tầng thứ tư là tầng chính của bức cửa vơng, gồm nhiều phần (cao 5 m đến 2,8 m), lồng trong các đường diềm với các h́nh chạm mây lá cách điệu, hoặc chạm hồi văn mắt vơng là một dải trang trí chia đoạn ngăn bởi 4 đầu rồng vơng cổ, miệng ngậm ngọc, tóc và bờm h́nh mây mác dựng đứng. Phần này chạm nổi, bong kênh khá kỹ cũng tạo thành 3 “khám”, với các trụ cửa chạm cây cối cách điệu. Như trụ ở hai đầu sát liền với hai cột cái được chạm lộng các khóm trúc có lẫn chim, thú và người (trụ bên phải có chim, thú kèm theo bên dưới là một cô gái đang ngồi mân mê vuốt túm tóc dài vắt rủ xuống ngực; trên ngọn tre một cụ già râu dài, tay phải tỳ lên gối, tay trái đặt lên bàn cờ. Trụ bên trái cũng chạm khóm trúc, dưới cùng có người cưỡi voi đang vươn ṿi lên hái lá tre, c̣n h́nh tượng người có tay trái đặt lên đầu voi, tay phải ôm lấy cây măng mọc thẳng, lẩn vào trong khóm trúc c̣n có chim và thú). Các trụ cửa th́ (ở trong) chạm rồng cuốn cột, đầu quay lên chầu vào nhau qua cửa khám. ở tầng này cũng có ba khoang lớn làm thành các “khám” với chín lớp cửa vơng nhỏ lồng nối vào nhau hun hút như không dừng. Cả chín lớp đều được chạm ở hai bên một bộ tượng đầu rồng nhỏ. Tuy rồng được tạc cùng một thể, song người xem không v́ thế mà thấy đơn điệu. Bố cục và cách sắp xếp đă lôi kéo tâm tư kẻ hành hương trôi về miền văn hoá tâm linh, đó là một “vùng văn hoá mờ”, tới nay vẫn đang chờ giải mă.

 

Ở hai bên, sát với mặt nền đó là h́nh tượng voi, ngựa cùng quản tượng/mă. Rơ ràng h́nh tượng này liên quan đến việc đề cao thần, song ít nhiều nó c̣n như mang một vài h́nh ảnh liên quan đến thế giới bên dưới để cho chúng ta nh́n nhận bộ cửa vơng này như một hiện tượng thông tam giới. Cụ thể dưới bụng ngựa đă chạm h́nh người đầu quỷ đang ôm lấy bụng ngựa và bóp đầu sinh thực khí. Trong cái “lao xao của vũ trụ” đó, các h́nh tượng đă nói lên những ǵ thuộc lĩnh vực tâm linh, gắn với ước vọng, và nó có ư nghĩa như muốn đặt con người trong ḍng thông linh, để con người mong có được những nhu cầu thánh thiện trong cuộc sống, dưới sự bảo trợ bởi các thần linh liên quan đến ngôi đ́nh.

 

Nh́n chung, hầu như tất cả những ngôi đ́nh kể trên đều gắn với Trương Hống, Trương Hát, đó là vị Thánh Tam Giang - Có thể thấy được Thánh Tam Giang thờ từ “thượng Đú Đuổm, hạ Lục Đầu Giang”. Thượng Đú Đuổm là nơi mà hai con sông giao nhau. Trong quan niệm của người xưa, sông gắn với ḍng chảy, trong đó có ḍng đực và ḍng cái, nơi giao nhau đó được coi là hiện tượng giao phối của các thần nước để tạo nên nguồn của cải. Nhân cách hoá hiện tượng này đă nảy sinh ra đức Thánh Tam Giang, để ngài là hiện thân của nguồn hạnh phúc nông nghiệp. Sau đó, các ngài đi vào lịch sử để thành Trương Hống, Trương Hát, giúp Lư Thường Kiệt trong việc chống Tống. Đức Thánh Tam Giang c̣n theo các triền sông về đến tận vùng Hà Nam của sông Hồng để xuất hiện trên đ́nh Vân Xá của Lư Nhân.

 

Như vậy chỉ qua một vài điểm nêu trên về những ngôi đ́nh cụ thể của Bắc Ninh, chúng ta đă thấy biết bao vấn đề cần phải được đặt ra, phải được suy nghĩ nhiều hơn nữa để cho những vẻ đẹp thánh thiện từ thời quá khứ hiện về trong thực tại, bởi bất kể kẻ nào muốn bước vào tương lai đều phải ngoái nh́n quá khứ để định hướng “đường đi” cho chính ḿnh./.

 

Nguyễn Thị Hải Vân

Nguồn: Tạp chí Di Sản số 3 2006

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 09/24/06