Vô Thức (hay Vô minh)

với nhiều tầng lớp trùng trùng điệp điệp

Nguyễn Văn Thành

Lausanne, Thụy sĩ

 

Trong bài chia sẻ nầy, chúng ta sẽ cùng nhau khảo sát những xung đột có mặt giữa hai người, như đă xảy ra giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, thể theo câu chuyện huyền sử thường tŕnh bày cho chúng ta. Câu hỏi chính yếu cần được nêu ra một cách rơ ràng, ngay chính, là : Xung đột bắt nguồn từ nơi đâu ?

 

Với lối nh́n của Phân Tâm Học, tôi sẽ trả lời, một cách tóm gọn như sau : tôi tưởng đă ngồi lại trao đổi với người anh chị em, nhưng kỳ thực, tôi chưa biết ngồi lại.

Tôi tưởng đă lắng nghe tôn trọng họ, nhưng kỳ thực, tôi chưa biết thế nào là lắng nghe và tôn trọng...

Trong rất nhiều trường hợp, tôi có những kiến thức sách vở, lư thuyết đầy ḿnh. Nhưng v́ khổ đau tràn ngập, tôi trở nên loạn động và bất an trong tâm hồn. Lúc bấy giờ, tôi có mắt nhưng không thấy, có tai nhưng không nghe. Tôi có một con tim, nhưng ḷng tôi đă trở nên đông lạnh, cơ hồ một tảng băng sơn di động, trên mặt biển, ở các miền Bắc và Nam cực.

 

Xuyên qua lăng kính và lối nh́n ấy, khi Vô thức khống chế Ư thức, trong mọi sinh hoạt thường ngày của chúng ta, xung đột là hiểm họa thường xuyên bùng nổ, làm băng hoại mọi quan hệ giữa người với người.

 

Nhằm quảng khai trọng điểm nầy, tôi sẽ lần lượt tŕnh bày :

 

Trong phần Một, cơ cấu tổ chức của nội tâm, theo quan điểm của Phân Tâm Học, thuộc trường phái của Freud.

 

Trong phần Hai, Vô thức là một « chế độ sinh hoạt » của con người, xuất đầu lộ diện ở khắp nơi, dưới những h́nh thức trá ngụy rất khó phát hiện.

 

Trong phần Ba, Vô thức luôn luôn có mặt, trong ḷng cuộc đời. Đồng thời, Vô thức là một « thách đố » lớn lao, cung cấp cho chúng ta nguyên liệu, như những quặng sản đồng, ch́, sắt, thép...để chúng ta có cơ may trở thành « người luyện vàng », có khả năng thăng tiến bản thân và phục vụ anh chị em đồng bào, cùng sống hai bên cạnh với ḿnh.

 

 

 

 

Phần Một - Vô Thức : Giai đoạn thành h́nh,

                                        Thể thức sinh hoạt

 

Theo quan điểm của Phân Tâm Học, Nội tâm bao gồm ba thành tố hay là ba cơ cấu tổ chức, khác biệt nhau, nhưng có những liên hệ mật thiết với nhau và thường xuyên tác động qua lại trên nhau.

Cấu trúc thứ nhất là Tự Ngă,

Cấu trúc thứ hai là Siêu Ngă,

Cấu trúc thứ ba là Bản Ngă.

 

 

1.- Tự Ngă

 

Cấu trúc Tự Ngă c̣n mang tên là « Cái ấy » ( le Ca trong tiếng Pháp và The Id trong tiếng Anh). Cấu trúc nầy thành h́nh và xuất hiện rất sớm, trước hai cấu trúc kia. Xét về phương diện thứ tự thời gian, cấu trúc Tự Ngă đă có mặt, khi đứa bé c̣n là một thai sinh, trong ḷng mẹ.

Nội dung của Tự Ngă bao gồm nhiều Xung Năng (pulsion trong tiếng Pháp, hay là Urge và Drive trong tiếng Anh).

Để hiểu rơ một phần nào xung năng là ǵ, trong đời sống của một đứa bé sơ sinh, chúng ta cần phân biệt những yếu tố sau đây :

Thứ nhất, xung năng là những sức ép hay là sức đẩy bật hướng đến sự sống, hoàn toàn tự nhiên và phản xạ, phát xuất từ những tầng sâu trong cơ thể của đứa bé. Khi đạt tới cao điểm, trong những chu kỳ và nhịp độ biến chuyển, xung năng sẽ tạo nên cho em, một t́nh trạng bực bội, khó chịu, căng thẳng... thúc ép em đi t́m một đối tượng ở bên ngoài, để được giải tỏa và khai phóng.

 

Thứ hai, trong những năm đầu tiên của cuộc sống, đứa bé c̣n ở trong t́nh trạng hoàn toàn vô thức và lệ thuộc. Em chưa thể nhận biết xung năng của ḿnh là ǵ, bắt nguồn từ đâu, hướng đến mục đích ǵ, đối tượng nào có thể đáp ứng và thỏa măn. Em chưa thể nào tự ḿnh giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Em chưa có khả năng dùng lời nói, để giải thích cho kẻ khác biết em đang cảm nghiệm thế nào và đang có những nhu cầu như thế nào.

 

Thứ ba, nhằm bộc lộ ra ngoài một cách khách quan, t́nh trạng bức xúc đang xảy ra trong nội tâm, trẻ em chỉ có một số hành vi rất hạn chế như : khóc la, thét gào, vùng vẫy tay chân, thay đổi sắc mặt...

 

Thứ bốn, duy người mẹ - hay là người thay thế mẹ - có mặt liên tục, suốt ngày đêm với trẻ em, mới có thể từ từ ư thức được nhu cầu của em và t́m cách đáp ứng, thỏa măn những nhu cầu ấy. Chính v́ lư do nầy, người mẹ được gọi là đối tượng đầu tiên, nguyên thủy của đứa bé mới sinh, trước tất cả mọi đối tượng khác. Đồng thời, người mẹ cũng đang đảm nhiệm vai tṛ « làm Siêu Ngă » cho đứa con.

 

Thứ năm, trong ba năm đầu tiên của cuộc sống, nếu đứa con không có mẹ và không có ai liên tục thay thế mẹ, trong ṿng từ ba đến sáu tháng, em sẽ phải chết, hay là trầm ḿnh trong bệnh hoạn. Thể theo lối nh́n của Bác sĩ R. Spitz, hội chứng « Thiếu T́nh Thương », (carence affective hay là hospitalisme), đă bẻ găy và vùi dập, trong đứa bé, mọi xung năng phát xuất từ sự sống và hướng đến sự sống (1). Nói cách khác, trước kia xung năng là một sức đẩy bật hướng đến sự sống. Bây giờ, v́ sự sống không được đón nhận và nh́n nhận, xung năng đă đi vào con đường tàn lụi, hướng đến sự chết (pulsion de mort).

 

2.- Siêu Ngă

 

Khi quan sát từ ngoài một đứa bé sơ sinh, trong những tháng ngày đầu tiên, chúng ta sẽ ư thức được thế nào là Tự Ngă, ở thể trạng thuần đơn, trước khi tiếp thu ảnh hưởng của hai cấu trúc kia là Siêu Ngă và Bản Ngă. Cuộc sống thường ngày, lúc bấy giờ, được phân chia thành 5 hoặc 6 chu kỳ. Mỗi chu kỳ bao gồm sáu giai đoạn tiếp nối nhau :

Giai đoạn một : Giấc ngủ thâm sâu và b́nh lặng.

Giai đọan hai : Giấc ngủ náo hoạt.

Giai đoạn ba : Chuyển tiếp giữa ngủ và thức.

Giai đoạn bốn : Tỉnh thức hoạt bát nhưng b́nh lặng.

Giai đọan năm : Tỉnh thức náo động.

Giai đoạn sáu : khóc la inh ỏi.

 

Một cách đặc biệt, vào giai đoạn Tỉnh thức hoạt bát và b́nh lặng ( giai đoạn bốn ), sau ngày sinh độ một tuần lễ, đứa bé đă bắt đầu vận dụng một cách năng động năm giác quan của ḿnh, nhất là thị, thính và xúc giác.

Người lớn, nhất là bà mẹ, dựa vào ba giác quan chính yếu nầy, có thể kích thích đứa bé và trao đổi với em, miễn là bà biết tôn trọng một cách nghiêm chỉnh hai loại ngưỡng kích thích : không bao giờ ở dưới ngưỡng sơ thởi, không bao giờ vượt quá ngưỡng chịu đựng, c̣n được gọi là ngưỡng khổ đau.

Khi yếu tố kích thích ở dưới ngưỡng sơ khởi, đứa bé không phản ứng, không trả lời. Khi bà mẹ vượt quá ngưỡng chịu đựng, em sẽ có những phản ứng từ chối như khóc la, thét gào, rút lui, khép kín ḿnh, ngoảnh mặt qua chỗ khác, múa động chân tay...

Trong cuốn sách « Quan Hệ Mẹ Con : bài học đầu tiên của cuộc sống », xuất bản năm 2000 (2), tôi đă tŕnh bày và giới thiệu một số động tác cụ thể, mà bà mẹ hay là những người lớn trong gia đ́nh có thể thực hiện một cách dễ dàng, để tổ chức cuộc sống cho đứa bé sơ sinh, từ những ngày em mới sinh ra.

Khi tổ chức như vậy, người mẹ và những ai đang tiếp tay cho bà mẹ, đă bắt đầu đảm nhiệm « vai tṛ làm Siêu Ngă », nghĩa là từ từ chuyển biến Tự Ngă của đứa bé thành Bản Ngă, bằng cách cung ứng từ ngoài những khuôn khổ, những qui luật cũng như những đường hướng hoạt động. Không có cái KHUNG « tạo an toàn » nầy, để đứa bé có thể nương tựa, qui chiếu và ngày ngày điều hướng cuộc đời, em sẽ suốt đời bơ vơ, loạn động, không có khả năng lớn lên, tăng trưởng, phát triển và trở nên người.

Sau nhiều năm quan sát, nghiên cứu, học hỏi... tác giả T.B. BRAZELTON đă đưa ra những điểm mốc sau đây (3):

Chung quanh 3 tuổi, trẻ em coi trọng tất cả những ǵ mà em tự ḿnh có thể làm ra,

Khi trẻ em lên tới 5 tuổi, em sẽ cảm nghiệm chính con người của ḿnh là « trung tâm » và « trọng tâm » của vũ trụ. Tất cả những điều c̣n lại đều là phụ thuộc, xoay vần chung quanh trung tâm ấy,

Từ 6-7 tuổi trở lên, trẻ em bắt đầu có khả năng hướng ḿnh ra bên ngoài, để học tập tiếp thu những bài học về THỰC TẾ, về QUI LUẬT. Đây là yếu tố quyết định, cho cuộc sống thành người. Hẳn thực, bao lâu chúng ta chưa ư thức một cách rơ rệt về những khả năng và giới hạn  cụ thể của ḿnh, nghĩa là biết những ǵ ḿnh làm được và những ǵ ḿnh không có phép làm, chúng ta chưa thể TỰ LẬP và TRƯỞNG THÀNH, mặc dù tuổi đời đă vượt quá 20.

Để có thể thực thi và kiện toàn tiến tŕnh xây dựng bản thân nầy, một đứa bé từ ngày sinh ra, cần bàn tay tổ chức và giúp đỡ của những người lớn trong gia đ́nh, bắt đầu từ bà mẹ, là nhân vật gần gũi với em, hơn tất cả những người khác. Theo thuật ngữ của Phân Tâm Học, họ đang đóng vai tṛ làm Siêu Ngă cho đứa bé, trong suốt tiến tŕnh học làm người.

Vai tṛ làm Siêu Ngă bao gồm hai chức năng trọng yếu :

Thứ nhất là soi sáng và hướng dẫn đứa bé về tất cả những ǵ  em có thể làm hay là không thể làm. Đó là nguyên tắc thực tế.

Thứ hai là nâng đỡ, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, để trẻ em có thể từng bước đi lên, chấp nhận những bài học về qui luật làm người, một cách dễ dàng và hứng thú. Đó là nguyên tắc vui thích.

Thực ra, theo lối nh́n của Freud, thực tế và vui thích là hai bộ mặt khác nhau của một nguyên tắc duy nhất, trong cuộc sống làm người. Để trẻ em có thể tiếp thu và hội nhập một cách nhuần nhuyễn một bài học, trong bất kỳ lănh vực nào, bài học ấy phải tạo vui thích  và gây hứng thú cho trẻ em. Bằng không, em sẽ khước từ hay là bỏ cuộc giữa chừng. Đồng thời, bài học ấy phải tạo nên cho em một kỹ năng tinh nhuệ, khả dĩ giúp em sống tự lập sau này.

Ngôn ngữ là một minh họa có khả năng giúp chúng ta hiểu rơ về mối liên hệ mật thiết giữa hai bộ mặt của nguyên tắc vui thích và thực tế. Sở dĩ trẻ em học nói huyên thuyên  suốt ngày, v́ em thích bắt chước người mà em thương mến. Đồng thời, nhờ biết nói, em có thể hiểu người khác và làm cho kẻ khác hiểu ḿnh, trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi.

Tuy nhiên, không phải bất cứ bà mẹ nào, khi sinh con ra, đều có khả năng làm  Siêu Ngă, với những chuẩn mực quân b́nh và lành mạnh, như Freud đă đề xuất, nghĩa là hướng dẫn, soi sáng, thay v́ áp đặt, cưỡng bức, ức chế, từ trên và từ ngoài. Thêm vào đó, để có thể hướng dẫn một cách hài ḥa và hữu hiệu, bà mẹ phải học quan sát, lắng nghe đứa con của ḿnh và t́m cách tiếp xúc, trao đổi với em. Những ǵ em đă làm được, bà mẹ để cho em làm một ḿnh, theo tốc độ của em. Không làm thay làm thế. Không bao che từ đầu chí cuối

Có dịp quan sát cách làm của nhiều bà mẹ đem con đến khám tại pḥng mạch của ḿnh, Bác sĩ Phân Tâm D.W.WINNICOTT đă ghi nhận nhiều cách can thiệp khác nhau của các bà mẹ, sau khi họ nghe đứa con của ḿnh khóc la, và đang có một vấn đề cần giải quyết (3).

 

Loại thứ nhất : bà mẹ trả lời quá sớm, trước khi đứa con có th́ giờ cảm nhận hay là mơ tưởng, bằng một h́nh ảnh, vấn đề hiện tại của ḿnh.

Loại thứ hai : bà mẹ trả lời quá chậm, sau khi đứa con thét gào và tỏ ra mệt mỏi, kiệt quệ, « đầu hàng », bỏ cuộc, v́ không có ai lắng nghe, một cách đúng lúc và đúng tầm.

Loại thứ ba : cách thức bà mẹ trả lời không thích hợp với nhu cầu thực sự của đứa con. Ví dụ : đứa con bị ướt tă, khó chịu. Người mẹ lấy b́nh sữa ra, cho con bú.

Loại thứ bốn : bà mẹ trả lời theo nguyên tắc cố định, không t́m hiểu nhu cầu thực sự của đứa con nằm ở chỗ nào. Ví dụ : bây giờ là 4 giờ chiều. Theo ư của bà, em khóc v́ đ̣i cữ sữa thông lệ của em, đương khi nhu cầu thực sự của em là đi ra chơi bên ngoài.

Loại thứ năm : bà mẹ trả lời, theo lối giải thích hoàn toàn tùy tiện và chủ quan, trước khi t́m cách kiểm chứng giả thuyết của ḿnh. Ví dụ : chau khóc ghen, v́ tôi nói chuyện với bác sĩ... đương khi lư do thực sự là em sợ người lạ mặt.

 

Lẽ đương nhiên, như trên đây tôi đă đưa ra nhận xét, v́ thân phận và điều kiện làm người, không một bà mẹ nào, ngay từ ngày đầu tiên, khi đứa con sinh ra, đă biết làm Siêu Ngă, một cách hoàn hảo và tuyệt vời. Sai lầm là lẽ thường t́nh, tự nhiên. Điều cốt yếu là bà mẹ biết học. Biết dừng lại, khi thấy ḿnh sai lầm. Biết lắng nghe, tham khảo ư kiến của những người có kinh nghiệm và kỹ năng tinh nhuệ, trong lănh vực nuôi dạy con cái. Và điều tôi muốn nhấn mạnh, trước tất cả mọi điều khác, là : Bà mẹ hăy HỌC với đứa con của ḿnh. Chính thái độ và tác phong của em sẽ giúp chúng ta điều chỉnh những ǵ đă sai lệch, kiện toàn những ǵ đă tốt đẹp, bổ túc những ǵ c̣n thiếu sót. Và khi đứa con đă biết nói, chúng ta hăy tiếp xúc, trao đổi, lắng nghe, t́m hiểu, tạo cho em một khung gian diễn tả, bộc lộ nhu cầu của ḿnh. Với những điều kiện hành xử như vậy, khó khăn nào cũng có thể vượt qua. Thất bại hay là lầm lỡ nào cũng có thể trở thành một bài học hay là một kinh nghiệm quí hóa, trong vai tṛ làm Siêu Ngă hướng dẫn và giúp đỡ con cái thành người.

Hẳn thực, khi đứa con bắt đầu tỏ thái độ phản động, chống đối hay là bị động, lệ thuộc, chúng ta cần lập tức nêu ra câu hỏi : phải chăng tôi đang thao tác một loại Siêu Ngă quá độc tài và nguyên tắc hay là quá bao che và nương ch́u, khi không cần thiết.

Trong thuật ngữ « Siêu Ngă », được Freud sử dụng, ( Sur-moi trong tiếng Pháp và Super-ego trong tiếng Anh ), hai từ được ghép lại với nhau. Từ thứ nhất là « Siêu », có nghĩa là « ở trên », về mặt ư thức và hiểu biết. Nói cách khác, để có thể soi sáng và hướng dẫn đứa con của ḿnh, người mẹ cần có một lối nh́n bao quát, toàn diện, nghĩa là nhận ra những liên hệ mật thiết giữa những tầng lớp khác nhau trong nội tâm của đứa con. Ngoài ra, bà c̣n phải thấy được ảnh hưởng của nhiều yếu tố có mặt trong môi trường đang tác động, bằng cách nầy hay cách khác, trên cơ thể non yếu của em.

Từ thứ hai là Ngă, nghĩa là người mẹ đă hành xử như một chủ thể, có khả năng làm chủ bản thân và cuộc sống của ḿnh. Cho nên, bà có khả năng « đồng cảm » với đứa con. Hiểu biết em từ bên trong. Khám phá hay là phát hiện được những nhu cầu và nguyện vọng của em, mặc dù em chưa có điều kiện và phương tiện diễn tả những t́nh trạng nội tâm, và nhất là những xúc động buồn lo, tức giận, sợ hăi...

 

Những nhà Phân Tâm, thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba sau Freud, sẽ sử dụng thuật ngữ « Bản Ngă trợ tá » ( le moi auxiliaire ), để xác định vai tṛ của người mẹ, đối với đứa con của ḿnh, ít nhất trong năm đầu tiên của cuộc sống. Hẳn thực, khi người mẹ làm « Bản Ngă trợ tá », bà đang tạo ra cho đứa con những điều kiện thuận lợi, để đứa con từ từ trở nên một Bản Ngả tự lập. Bà mẹ là một tấm gương soi, trong đó đứa con nhận thấy con đường đi tới của ḿnh., Ngày ngày, bà là người « bắc nhịp cầu », hay là người « làm trung gian », để đứa con có thể rời bỏ bến bờ lệ thuộc và từ từ đi qua bến bờ tự lập và hiểu biết.

 

Thông thường, người mẹ đảm nhận công việc nầy, với tất cả vốn liếng tự nhiên và trực giác có sẵn của ḿnh. Trái lại, những nhà Tâm Lư Trị Liệu đặc trách về các trẻ em có những rối loạn tiếp xúc hay là những hội chứng tự kỷ (Autism) cần kinh qua hơn bốn năm học, với nhiều lư thuyết chuyên môn và thực tập, mới có khả năng làm « Bản Ngă trợ tá » cho những loại trẻ em nầy. Họ « đồng hóa » với trẻ em, nhằm giúp trẻ em từ từ « ngoại hiện », nghĩa là « phóng ra ngoài » những xung năng đang bị ứ đọng và kềm kẹp, ở bên trong nội tâm. Nhờ đó, trẻ em mới có cơ may t́m lại đời sống tiếp xúc và trao đổi với những trẻ em khác cùng lứa tuổi.

 

Tôi cố t́nh nêu lên một vài nhận xét chuyên môn như vậy, để nhấn mạnh rằng : Bắc nhịp cầu trung gian hay là làm Siêu Ngă « đứng đắn và lành mạnh », để giúp kẻ khác trở thành người, trong những quan hệ tiếp xúc hằng ngày là trách nhiệm, mà mỗi người trong chúng ta cần phát huy và học tập, để phục vụ anh chị em đồng bào. Đó là một cách « dựng Nước và giữ Nước », chưa được chúng ta lưu tâm, một cách thiết thực và nghiêm chỉnh.

 

 

3.- Bản Ngă (le Moi hay là the Ego)

 

Từ ngày sinh ra cho đến lúc ĺa đời, học làm người là một tiến tŕnh không bao giờ có dứt điểm. Tuy nhiên, gần như ở khắp nơi, trên mặt địa cầu, xă hội thường ấn định hai điểm mốc quan trọng : 7 tuổi là tuổi biết suy luận và phân biệt điều nào tốt nên làm, điều nào xấu phải tránh. Chung quanh hai mươi tuổi là điểm mốc thứ hai. Từ đây, mỗi người bước vào tuổi trưởng thành, phải đảm nhận trách nhiệm, trước mặt xă hội, về tất cả những hành vi của ḿnh.

 

Thế nhưng, trong thực tế, ai đă thực sự làm người ? Ai có thể khẳng định rằng : tôi đă trở thành một Bản Ngă, tôi đă biết ḿnh tôi là ai, cần làm ǵ, có những giá trị nào. Một cách đặc biệt, những người đă chọn lựa cho ḿnh một lư tưởng, trong tinh thần « hoàn toàn tự do và sáng suốt », phải chăng họ đă nắm vững mọi đường đi nẻo về của ḿnh, trong ḷng cuộc đời ?

Trước một thách đố lớn lao t́nh cờ xảy ra, ngoài mọi dự tính, tất cả chúng ta đều có nguy cơ « bị dao động, mất quân b́nh ». Lúc bấy giờ, chúng ta lại tự động trở về với những câu hỏi cơ bản :

Tôi là ai ?

Phải chăng tôi có những khả năng cần thiết, để đương đầu với những vấn đề đang xảy đến cho tôi ?

Phải chăng tôi vẫn c̣n là con người có giá trị ?

Phải chăng tôi luôn luôn là con người được yêu thương và tôn trọng, trong những quan hệ với bạn bè, người thân và những ai quen biết ?

Trong hoàn cảnh cụ thể hiện tại, tôi phải làm điều ǵ ? Điều nào là ưu tiên số một, cần được tôi thực thi, không tŕ hoăn ?

Trong những năm được cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ trong gia đ́nh, và suốt những tháng ngày được thầy cô và bao nhiêu người khác giáo dục, tại trường học và ngoài xă hội, phải chăng tôi đă được trang bị, một cách đầy đủ và kỹ lưỡng, để tiếp tục hiên ngang và can trường làm người, làm bản ngă ?

Cha mẹ tôi đă qua đời từ lâu, các thầy cô đă ra đi, khi nhiệm vụ hoàn tất... nhưng những « khuôn khổ », những bài học làm người, mà tôi đă tiếp thu và hội nhập với các vị, phải chăng đang c̣n là những vốn liếng sống động, quí báu có khả năng giúp tôi vượt qua những chặng đường gian truân ?

 

Nói một cách vắn gọn, phải chăng « cách họ dạy », hay là « cách họ làm Siêu Ngă » đang c̣n là động cơ thiết thực và hữu hiệu, ngày ngày thúc giục tôi HỌC làm bản ngă ? Ngày ngày làm kim chỉ nam, hướng dẫn tôi, trong chiều hướng học làm người ?

Sau khi QUÊN MẤT tất cả, tôi vẫn c̣n NHỚ được cái ǵ ? Điều nào đang luôn luôn sinh động cho tôi, với tôi và trong tôi, trên suốt con đường làm người, hay là làm bản ngă ?

 

Câu trả lời của tôi - bắt nguồn từ những bài học của Phân Tâm Học - bao gồâm ba chiều hướng trọng yếu :

 

Thứ nhất, làm bản ngả là BIẾT« đồng hành và chia sẻ » với bao nhiêu người khác đang chung sống hai bên cạnh. Sống làm người là một cuộc hành tŕnh với nhiều bạn bè. Không ai là một cô đảo cô đơn, cô độc.

Thứ hai, làm bản ngă là BIẾT « hướng dẫn và nâng đỡ » những người đang cần đến chúng ta, trong vấn đề vật chất, cũng như trên b́nh diện tinh thần. Ai ai trong chúng ta cũng đă thừa kế một gia tài. Đến lượt, chúng ta có trách nhiệm truyền lại gia tài ấy, cho người đến sau.

Thứ ba, làm bản ngă là BIẾT « sống hạnh phúc » và « tạo hạnh phúc cho kẻ khác », với tất cả những vốn liếng sẵn có trong tầm tay của ḿnh, không đứng núi nầy trông núi nọ, không chờ đợi có đủ mọi điều kiện, rồi mới bắt tay vào làm. Tạo hạnh phúc như vậy cũng là một cách  « đồng hành và chia sẻ » với anh chị em đồng bào, đồng loại. Không một ai trong chúng ta là người hoàn toàn « vô sản ». Chúng ta đang có rất nhiều điều, để chia sẻ với người khác : một ánh mắt, một nụ cười, một lời yêu thương, một vành tai biết lắng nghe, một con tim « đồng cảm »...Sống hạnh phúc c̣n có nghĩa là « biết hóa giải hay là chuyển biến những khổ đau » đang xói ṃn cuộc đời, thành vật liệu xây dựng bản thân.

 

Để có thể biết vận dụng ba con đường làm người trên đây, chúng ta không thể không HỌC. Học mỗi ngày. Học với mọi người. Học ăn, học nói, học gói, học mở.

 

                                  ***

 

Cách HỌC, vừa được nêu ra trên đây, theo lối nh́n của Freud là không ngừng chuyển biến Vô thức thành Ư thức, biến điều chưa biết thành điều biết. Khi không biết hay là chưa biết, tôi sẵn sàng đặt ra câu hỏi và yêu cầu kẻ khác trả lời. Trái lại, khi nói về chính ḿnh, tôi cần phân biệt một cách rơ ràng và chính xác điều nào thuộc về thực tế và thực tại của tôi, điều nào chỉ là giả định, suy đoán hay là thuộc về xu thế tổng quát hóa mà thôi.

 

Những điều tôi vừa đề xuất, xem ra có vẽ đơn sơ, hiển nhiên, thuộc khả năng b́nh thường của mỗi người, trong mọi t́nh huống tiếp xúc và trao đổi hằng ngày giữa người với người. Trong thực tế cụ thể, những cách làm ấy đ̣i hỏi một mức độ ư thức rất thành khẩn và bén nhạy, kết quả của bao nhiêu ngày tháng thực tập và tôi luyện. Chính v́ những cách làm ấy chưa được coi trọng đúng tầm, « sau bốn ngh́n năm văn hiến », chúng ta vẫn c̣n chưa « biết học ». Chúng ta chưa rút ra những kinh nghiệm làm người, từ lịch sử đầy máu xương và các câu chuyện huyền sử. Ngày ngày, chúng ta vẫn c̣n « sắp hàng thành hai phe » Sơn Tinh và Thủy Tinh, trong một chiến trận « nồi da xáo thịt » hay là « gà một nhà bôi mặt đá nhau ». Chúng ta tự hào đă thắng địch thù xâm lăng từ phương Bắc, phương Tây, phương Nam và phương Đông. Nhưng chúng ta đang ngă quị trước tên địch thù đă ăn đời ở kiếp, trong cơi ḷng của chúng ta.

 

Trong phần kế tiếp, tôi sẽ nhận diện và đối diện, bằng cách « gọi tên », người địch thù muôn h́nh và muôn mặt ấy.

 

Phần Hai - Vô Thức :một Chế độ sinh hoạt 

 

Xuyên qua những điều được tŕnh bày trên đây, chúng ta thấy rằng : vào những ngày tháng đầu tiên, sau khi một đứa bé ra đời, Tự Ngă và Vô Thức trùng hợp và ăn khớp với nhau. Nhờ sự can thiệp của người mẹ và những người lớn khác trong gia đ́nh, với tư cách là Siêu Ngả, Bản Ngă của đứa bé bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, khi trở nên Bản Ngă,  chưa hẳn đứa bé đă ư thức một cách trọn vẹn về tất cả những hiện tượng đang xảy ra trong nội tâm của ḿnh, thậm chí sau khi biết nói và có khả năng tư duy. Thêm vào đó, chính người mẹ khi đóng vai tṛ làm Siêu Ngă cho đứa con,  chưa hẳn bà đă ư thức một cách rơ rệt và sáng suốt về tất cả những ǵ bà đang làm, đang nói và đang cảm, khi tiếp xúc và trao đổi với đứa con.

 

Một đàng, Vô Thức có mặt trong tất cả ba cấu trúc Tự Ngă, Bản Ngă và Siêu Ngă. Đàng khác, Vô Thức luôn luôn len lỏi nàm vùng và tác động trong suốt cuộc sống làm người của mỗi cá nhân, ở giữa ḷng xă hội. Cho nên, theo ư kiến của một số đồ đệ của Freud, nội tâm có hai cơ cấu tổ chức khác nhau : Một bên là cơ cấu bao gồm Tự Ngă, Bản Ngă và Siêu Ngă. Cơ cấu thứ hai là chiến trường xung đột giữa hai thành tố : Vô thức và Ư Thức.

 

Theo lối nh́n của tôi, khi nói đến Vô Thức và Ư Thức, Freud không đề xuất thêm một cơ cấu tổ chức thứ hai của Nội tâm. Đó chỉ là hai chế độ sinh hoạt, hay đúng hơn, hai mức độ thức tỉnh, hai mức độ sáng suốt, hai mức độ hiểu biết, hai CHẤT LƯỢNG làm người. Cho nên, để trở nên Bản Ngă, chúng ta phải thường xuyên phát huy khả năng chuyển biến Vô Thức thành Ư Thức. Đành rằng, đó là một tiến tŕnh không bao giờ kết thúc, chấm dứt và hoàn thành, bao lâu chúng ta c̣n mang thân phận làm người.

 

Sau đây, tôi xin tŕnh bày một vài sào huyệt của Vô Thức :

 

Sào huyệt thứ nhất  : ngôn ngữ được chúng ta sử dụng hằng ngày.

 

Khi người mẹ báo cáo với bác sĩ : «  Đứa con của tôi rất khó tính. Cháu khóc la và quấy rầy tôi suốt ngày. Tôi không làm được ǵ cả với cháu », Vô thức của bà đă có mặt trong tất cả ba mệnh đề đơn sơ và vắn gọn ấy. Bà tưởng rằng : mỗi điều bà tŕnh bày cho bác sĩ khám bệnh  đều là những tin tức rơ ràng và chính xác.

 

Thực ra, nếu bác sĩ có những kiến thức chuyên môn về Phân Tâm Học, với những câu hỏi, ông sẽ có khả năng gọi Vô Thức của bà mẹ và đem Vô Thức ấy ra vùng ánh sáng của Ư Thức.

Câu hỏi thứ nhất : « Bà vừa tŕnh bày cho tôi nghe : đứa con của bà rất khó tính, có phải vậy không ? Bà làm ơn nói thêm cho tôi biết rơ hơn : cháu khó tính bằng cách nào, cháu làm ǵ cụ thể ? ». Ở dưới những lời khẳng định của bà mẹ, bác sĩ  đă đào bới, yêu cầu bà t́m ra những tin tức cụ thể, những sự kiện khách quan. Trên đó, bà đă thiết lập những giả thuyết và rút ra những kết luận.

Câu hỏi thứ hai : «  Như bà vừa nói ra, đứa con của bà khóc la và quấy rầy bà suốt ngày. Suốt ngày có phải là suốt 24 tiếng đồng hồ, không bao giờ dừng lại ? ». Với câu hỏi nầy, bác sĩ đă gọi ra ánh sáng của Ư Thức, một cơ chế tâm lư mang tên là xu thế phóng đại, cường điệu. Theo lối nói b́nh dân, đó là khuynh hướng « có bé xé ra to », hay là « vơ đũa cả nắm ».

Câu hỏi thứ ba : « Như bà đă tŕnh bày, bà không làm được ǵ cả với đứa con của bà. Nhưng thực ra bà muốn làm ǵ với cháu, mà bà không làm được ? ». Câu hỏi nầy nhằm giúp bà mẹ định nghĩa một cách chính xác, những động từ mà bà thường dùng. Hẳn thực, khi bà mẹ có một mục tiêu rơ rệt, ngang tầm phát triển của đứa con, bà sẽ có khả năng thực hiện và thành tựu mục tiêu ấy.

 

Một vài ví dụ đơn sơ và dễ hiểu như vậy cho chúng ta thấy được một phần nào : Vô Thức không phải là một « bí mật cao siêu, mầu nhiệm ». Trái lại, Vô Thức có mặt ở trước và bao quanh chúng ta. Nhưng chúng ta không thấy, không nghe, không cảm, v́ Vô Thức đă trở thành tập quán, xương da, máu thịt của chúng ta.

 

Nhằm đánh thức và giúp chúng ta sử dụng một loại ngôn ngữ chính xác, trong những quan hệ trao đổi hằng ngày, tác giả A. ROBBINS kêu mời mỗi người hăy nh́n năm ngón tay của ḿnh, đặt ra những câu hỏi, trước khi tŕnh bày, phát biểu một ư kiến (5).

Một, ngón tay út phía bên trái, nh́n từ phía lưng, trước khi chúng ta sắp sử dụng những từ như : « luôn luôn, không bao giờ, tất cả, mỗi.. ».Chúng ta đặt ra cho ḿnh câu hỏi : Luôn luôn, không có ngoại lệ à? Tất cả, không thiếu một ai cả sao?

Hai, ngón tay đeo nhẫn. Các từ : « phải, cần, không được, không nên, không thể ». Câu hỏi : Ai đă đưa ra mệnh lệnh và qui luật ấy ? Cái ǵ bắt buộc ? Điều ǵ cản trở như vậy ? Người nào cấm đoán ?

Ba, ngón tay giữa. Các động từ hành động như « làm, thương yêu, hợp tác, đóng góp, thực hiện.. ». Cách đặt câu hỏi : Hợp tác...bằng những cách làm cụ thể và khách quan nào ?

Bốn, ngón tay trỏ. Các danh từ tổng quát và trừu tượng như : « người Việt Nam, ḥa b́nh, tự do, hạnh phúc ». Cách đặt câu hỏi : Người Việt Nam cụ thể là ai, tên ǵ, ở đâu ? Những động tác cụ thể, để thể hiện Ḥa b́nh là ǵ ? Những yếu tố cụ thể cần thành đạt, để có được Tự do là những ǵ ?

Năm, ngón tay cái. Những cách nói về số lượng hay là so sánh, như « quá ít, quá nhiều, tốt hơn, quá xấu.. ». Cách đặt câu hỏi : So sánh với ai, cái ǵ để quyết đoán như vậy ? Hơn là hơn ai ? Thua là thua về phương diện nào ? Dựa vào những chuẩn mực nào để so sánh như vậy ?

 

Sào huyệt thứ hai của Vô Thức : Đúng-Sai, Có lư-Vô lư, Tốt-Xấu.

 

Khi khẳng định về ba cách đánh giá vừa được nêu ra, chúng ta đă ở vào giai đọan thứ ba của một tiến tŕnh tư duy. Đành rằng người nghe chúng ta, sẽ không thể nào hay biết ǵ về hai giai đoạn thứ nhất và thứ hai. Nhưng chính người phát biểu - là chúng ta - có ư thức đến hai giai đoạn kia hay không ? Bao nhiêu ngộ nhận, hiểu lầm và xung đột giữa chúng ta với người khác, đều bắt nguồn từ « những con đường tắt », hay là « những bước nhảy vọt »  ấy.

Trở lại với tiến tŕnh của Tư Duy - c̣n được gọi là những nấc thang của Suy Tư và Lư Luận - chúng ta cần phân biệt ba giai đoạn thiết yếu :

 

Giai đoạn một : Ghi nhận và tiếp thu những tin tức khách quan và cụ thể, do môi trường sinh hoạt cung ứng. Tôi thấy ǵ, tôi nghe ǵ, với đôi mắt và hai lỗ tai của tôi, chứ không phải do dư luận đồn thổi ?

Giai đoạn hai : Từ những dữ kiện ấy, tôi đề xuất giả thuyết nào ? Tôi « thuyên giải làm sao », nghĩa là quyết định và chọn lựa ư nghĩa nào, giữa bao nhiêu con đường xuôi ngược khác nhau ?

Giai đoạn ba : sau khi rà soát lại những tin tức và trắc nghiệm, kiểm chứng lại giả thuyết, tôi rút ra kết luận như thế nào ? Và với kết luận ấy, tôi nói ǵ, làm ǵ, cảm ǵ với con người xương máu đang ở trước mặt tôi ?

 

Mặc dù với ba bước đi lên, được thực hiện và cân nhắc, một cách có hệ thống và khoa học, tôi vẫn c̣n phải thú nhận, với tất cả ḷng thành tâm và khiêm tốn,  rằng : kết luận cuối cùng của tôi chỉ là một lối nh́n CHỦ QUAN của tôi mà thôi. Một người khác, trong vai tṛ và vị trí hiện tại, cũng như với những điều kiện giáo dục và kinh nghiệm về cuộc sống... có thể có những tin tức hoàn toàn khác biệt. Từ đó, người ấy sẽ có một lối thuyên giải khác. Và kết luận cuối cùng của người ấy sẽ phản ảnh lợi ích riêng tư và quá tŕnh học vấn của người ấy.

 

Dựa vào đâu, tôi khẳng định rằng : Tôi đúng, tôi có lư, tôi có toàn quyền về sự thật ? Phải chăng chỉ v́ tôi đang ở dưới một « chế độ Vô Thức » ?

 

Để cùng nhau và giúp nhau dấn bước vào con đường Ư Thức, mỗi người trong chúng ta hăy nh́n nhận và đón nhận ba loại câu chuyện khác nhau :

 

Câu chuyện « Ngôi Thứ Nhất » của tôi,

Câu chuyện « Ngôi Thứ Hai » của người khác, đang nói chuyện và tiếp xúc với tôi,

Câu chuyện « Ngôi Thứ Ba » của một bà mẹ đang «  cưu mang cả hai chúng ta, trong cùng một bọc trứng », hay là của một người cha « có một con tim và bộ óc bao la như Đại Dương », đón nhận mọi ḍng sông và con nước, từ bốn phương chảy về. Họa may, lúc bấy giờ, chân lư sẽ mượn con đường t́nh thương, đề mặc khải ḿnh.

 

Thái độ duy nhất của những người đang nói chuyện với nhau là « cùng với nhau », AND stance. Trong tiếng Anh khoa học ngày nay, có những từ rất nhỏ, rất tầm thường, rất quen thuộc, ở đầu môi lưỡi của mọi người, thậm chí nơi một trẻ em vừa mới bập bẹ học nói. Nhưng giá trị của nó rất lớn lao, kỳ vĩ, về mặt làm người. AND có nghĩa là VÀ. Tôi chuyển dịch là « cùng với ». Trên con đường Ư Thức, cùng với bạn, tôi học lại một lối nh́n. Cùng với bạn, tôi nghe lại với vành tai xôn xao. Cùng với bạn, tim tôi phập pḥng, trăn trở, thổn thức và đập nhịp, để nuôi sống mọi tế bào trong cơ thể. Để làm mới lại những quan hệ nối kết chúng ta, trong cùng một Trời Biển, trong cùng một Nước Non. Không có bạn, tôi mất đi một nửa con đường Ư Thức của tôi. Cho nên tôi lại phải đắm ch́m trong bóng đêm mịt mù của Vô Thức triền miên.

 

Sào huyệt thứ ba của VÔ THỨC : Ư Định của bạn và của tôi.

 

Mặc dù không có dịp được trang bị về Phân Tâm Học, thi sĩ Xuân Diệu đă có những lối nh́n xuất sắc về Vô Thức (6) :

 

«  Ai đem phân chất một mùi hương,

« Hay bản cầm ca, tôi chỉ thương,

« Chỉ lặng chuồi theo ḍng cảm xúc,

« Như thuyền ngư phủ lạc trong sương.

« Làm sao cắt nghĩa được T́nh Yêu ?

« Có nghĩa ǵ đâu một buổi chiều,

« Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

« Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu ... »

 

Hẳn thực, phải chăng trước khi yêu ai, tôi đă biết ngồi lại, cân nhắc, đánh giá một cách b́nh tĩnh và sáng suốt, để rồi sau đó tôi có thể một lần dứt khoát chọn lựa và quyết định, mà không sợ ḿnh đă sai lầm ?

 

Theo lối nh́n của Tâm lư đương đại, trong địa hạt t́nh yêu, cũng như trong bao nhiêu sinh hoạt khác, không bao giờ chúng ta có khả năng quyết dịnh , một cách dứt khoát, trong chỉ một lần. Trái lại, để cho t́nh yêu đâm chồi, nảy lộc, nở hoa và kết trái, ngày ngày chúng ta phải chọn lựa lại, quyết định lại. Từ xưa, tổ tiên và cha ông chúng ta đă nhắn nhủ : « Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân. Mỗi ngày, đổi mới. Mỗi ngày, đổi mới lại. Càng ngày càng đổi mới ». Bằng không, chúng ta chỉ là « hồn ma phiêu bạt », sống cũng không ra sống. Chết cũng không chết hẳn. Cho nên, chúng ta chỉ là gánh nặng, cho nhiều người cùng chung sống.

 

Khi nói về ư định - của bạn, của tôi hay là của một ai khác - chúng ta cũng cần có một lối nh́n sáng suốt và thức tỉnh như vậy :

 

Thứ nhất, ư định phát xuất từ nhiều tầng sâu của nội tâm. Trong đó, vừa có lối nh́n của tư duy soi sáng hướng dẫn, vừa có những xúc động đang động viên và thúc đẩy tôi.

Thứ hai, duy chỉ tôi mới có thể biết ư định của tôi. Tuy nhiên, cái biết ấy rất hạn chế. C̣n bao nhiêu yếu tố khác đang thoát ra ngoài ṿng ư thức của tôi.

Thứ ba, những ai khác, ngoài tôi ra, không thể nào biết ư định của tôi, ngoại trừ sau khi tôi bộc lộ cho người ấy. Trường hợp họ đinh ninh rằng họ biết, là v́ họ đang bói đoán  hay là dự tưởng mà thôi. Đó không phải là cái biết phát xuất từ suy luận, bởi v́ họ không thể nào có những dữ kiện khách quan, để xây dựng tiến tŕnh tư duy của họ.

 

Không có những kiến thức cơ bản và rơ ràng về ư định như vậy, chúng ta dễ áp đặt cho kẻ khác, những ư định không có mặt trong nội tâm của người ấy. Chúng ta chỉ « phóng ngoại » những ǵ đang nung nấu, trong cơi ḷng của chúng ta mà thôi. Khi phóng ngoại như vậy, tôi đang chiếu lên khuôn mặt của kẻ khác, một cuốn phim  xoay vần trong nội tâm của tôi.

 

Ngược lại, khi kẻ khác áp đặt cho tôi một ư định, điều quan trọng, khả dĩ tạo nên những quan hệ xung đột, hận thù giữa tôi và người ấy, không phải chỉ là ư định mà thôi. Nhưng là vết thương ḷng lở lói, do thái độ của người ấy tạo nên, trong lănh vực xúc động và t́nh cảm của tôi. Chính v́ lư do đó, mặc dù người ấy đă rút lại lời nói của họ, hay là cải chính tin tức đă đưa ra, vết thương ḷng của tôi vẫn cứ rướm máu, nhức nhối. Hận thù vẫn tiếp tục. Xung đột vẫn kéo dài.

Để thoa dịu và hàn gắn vết thương trong tâm hồn của một người, như tôi sẽ nói tới, trong những đoạn sau này, là NH̀N NHẬN và ĐÓN NHẬN vết thương xúc động của người ấy. Chỉ biết chừng đó, chúng ta đă bắt đầu có khả năng nâng cao chất lượng làm người, trong bản thân của chúng ta và trong đời sống của nhiều người khác.

 

Thêm vào đó, chúng ta nên nhớ rằng : vết thương vừa có mặt, không những trong người bị áp đặt một ư định. Vết thương ḷng cũng có mặt trong người áp đặt ư định cho người khác, một cách hồ đồ. Sở dĩ họ làm như vậy, là v́ họ đang bị Vô Thức khống chế. Họ đang lo sợ. Họ đang khổ đau. Họ cảm thấy ḿnh không được yêu thương và chú trọng, đúng như ḷng mong đợi. Cho nên, khi chúng ta bị áp đặt từ ngoài một ư định không có căn cứ, thay v́ chối từ, đính chính với một thái độ tự vệ hay là biện minh, chúng ta bắt đầu hướng đến niềm đau của người ấy :

 

«  Bạn vừa nói rằng tôi có ư định phá hoại dự án mà bạn đă tốn rất nhiều công phu, để suy nghĩ và xây dựng. Như vậy là bạn đang khổ đau rất nhiều, v́ cảm thấy ḿnh không những không được nâng đỡ, mà c̣n bị bạn bè cản trở. Bạn có thể chia sẻ thêm cho tôi hiểu : bạn đang khổ tâm đến độ nào. Sau đó, tôi xin tŕnh bày cặn kẻ ư kiến và thái độ của tôi, đối với bạn... ».

 

Hẳn thực, khi một người đang đau khổ, v́ bất cứ lư do ǵ, chất lượng làm người gọi mời chúng ta hăy t́m cách băng bó vết thương c̣n lở lói của người ấy, trước khi phân trần hoặc giải thích thái độ vá tác phong chân thực của ḿnh.

 

Sào huyệt thứ bốn : vấn đề ĐỒNG TRÁCH NHIỆM của mỗi người

 

Trên một chuyến tàu làm người, mọi người cùng có mặt với nhau. Họ mang nhiều tên tuổi khác nhau như : Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mỵ Nương hay là Vua Hùng Thứ Mười Tám, và bao nhiêu người khác...Nhưng tất cả đều liên đới với nhau. Như trên đây tôi đă tŕnh bày cặn kẻ, mỗi người - bất kỳ họ là ai, lớn nhỏ, nam nữ, già trẻ... - đều đóng ba vai tṛ cùng một lúc :

 

Thứ nhất là vai tṛ làm cha mẹ có trách nhiệm truyền thừa cho người đến sau một gia tài phong phú.

Thứ hai là vai tṛ làm người đồng hành và chia sẻ, họp nhau lại thành « một trăm con mắt » để thấy, « một trăm cánh tay » để làm.

Thứ ba là vai tṛ làm một đứa con hạnh phúc, « nuôi lại Tổ Tiên và Cha Mẹ của ḿnh ». Những điều mà quí vị đả bắt đầu, hôm nay tôi tiếp nối. Những điều mà quí vị đă thành đạt, hôm nay tôi mở rộng chân trời. Những điều mà quí vị đă thất bại, hôm nay tôi « rút kinh nghiệm », sáng tạo thêm những con đường cao cả và bao la, thay vào những con đường lầy lội.

 

Thay v́ bước tới và đi lên cùng với nhau như vậy, chúng ta  đă và đang lặp đi lặp lại những con đường ṃn « Sơn Tinh và Thủy Tinh ». Tại sao chỉ hai người ấy mới « có tiếng nói », trong ṿng bốn ngh́n năm văn hiến ? Tại sao duy hai người ấy mới có độc quyền « chỉ đạo » con tim và bộ óc của chín mươi tám  anh chị em khác ?

 

Khi chúng ta tố cáo, kết tội, phê phán... chúng ta đưa tay chỉ phe bên kia và qui chiếu về phía họ mọi trách nhiệm. C̣n chúng ta, chúng ta từ khước trách nhiệm. Chúng ta khoác cho ḿnh vai tṛ « làm nạn nhân » hay là « ăn cơm nguội, nằm nhà ngoài », và ŕnh rập chĩa súng bắn lén sau lưng họ.

 

Khi chúng ta  lưu tâm đến công việc lên án, kết tội...chúng ta chỉ biết  NH̀N QUÁ KHỨ , nh́n LẦM LỖI. Và chúng ta quên rằng : cuộc sống làm bằng hiện tại và tương lai, Yêu Thương và Hiểu Biết. Thêm vào đó, sau khi nhận thấy một vấn đề, phải chăng trách nhiệm của chúng ta là đề xuất và sáng tạo một lối giải quyết ?

 

Trái lại, khi chúng ta biết cùng nhau ngồi lại, rút ra những bài học, chắt lọc những kinh nghiệm, lỗi lầm lúc bấy giờ  sẽ trở thành một bàn đạp, một điểm tựa quí hóa, để chúng ta có khả năng dời núi, lấp sông, xây lại những chiếc cầu « đồng cảm ».

 

Thêm vào đó, mấy ai trong chúng ta đang sống trong ánh sáng của Ư Thức, để can đảm và sáng suốt chấp nhận rằng : Khi có một lỗi lầm xảy ra bất kỳ ở nơi đâu, do bất kỳ ai khởi xướng, chính tôi đă GÓP PHẦN ḿnh trong đó, không nhiều th́ ít. Sở dĩ như vậy, một đàng v́ trong bao nhiêu năm, tôi đă THINH LẶNG ĐỒNG LƠA. Đàng khác, v́ tôi đă la lối ỏm tỏi, chống đối rùm beng bằng mồm miệng. Đang khi đó, tôi không bao giờ tra tay vào một việc làm cụ thể và hữu hiệu.

 

Càng chống đối bằng ngôn từ thuần đơn, tôi chỉ quảng cáo và tạo thêm cơ hội thuận lợi, để cho lỗi lầm càng ngày càng lan tràn và phát triển, như vết dầu loang.

 

Nhằm chuyển hóa một vấn đề hay là một lỗi lầm, Phân Tâm Học đề nghị cho chúng ta những đường hướng hành động thiết thực sau đây :

 

Thứ nhất, ư thức và gây ư thức về tiến tŕnh phát sinh của vấn đề, khi vấn đề đang c̣n ở trong giai đoạn trứng nước. Kêu gào giải quyết vấn đề, tổ chức những cuộc đấu tranh bằng mồm miệng, khi vấn đề đă lên tới giai đoạn cực thịnh, chúng ta chỉ làm công việc chữa bệnh dịch hạch, bằng cách « thoa dầu cù là » ngoài lớp da mà thôi.

 

Thứ hai, ở bên dưới mổi vấn đề to hay nhỏ, luôn luôn có một niềm đau, một vết thuơng ḷng rướm máu, một nỗi lo sợ sâu xa chưa được ai băng bó. Nếu chúng ta muốn đi nhanh, dùng bạo động, chiến tranh, hận thù để giải quyết, có lẽ chúng ta dập tắt được một ngọn lửa. Nhưng đám cháy sẽ lan tràn, tiêu hủy cả một rừng già, một giang sơn gấm vóc.

 

Thứ ba, trong cuộc sống làm người, để giải quyết bất kỳ một vấn đề ǵ, chúng ta không thể không ngồi lại với chính những người trong cuộc, thậm chí đó là một trẻ em. Ngồi lại, lắng nghe, tôn trọng quyền phát biểu của người ấy. Quyền ấy cũng là quyền làm người.

 

Sau hết, truớc khi đi vào nội dung cụ thể của vấn đề tranh chấp, xung đột, hăy nh́n nhận và đón nhận vô điều kiện những xúc động của người đối diện, như lo sợ, tức giận, cảm nghiệm bị đàn áp, bốc lột...Đó là những vết thương ḷng rướm máu đang khống chế và làm băng hoại chất lượng làm người của họ. Hăy mang lại cho họ chất lượng làm người, tràn đầy và thấm nhuần trong tấm ḷng của chúng ta, họ sẽ dần dần trở nên người anh chị em.

 

Bốn cách làm ấy đă có mặt trong tác phong « làm Bản Ngă trợ tá » của một bà mẹ, xuyên qua mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi với đứa con, vừa đi ra khỏi cung ḷng ấm cúng của ḿnh. Cuống rốn nối kết hai mẹ con đă được cắt ĺa. Nhưng một cuống rốn vô h́nh khác làm bằng T́nh Thương, Hiểu Biết và Tinh Thần Trách Nhiệm đang được sáng tạo và thành h́nh mỗi ngày. Nhờ vào đó, đứa con có gan mạo hiểm đi vào ḷng cuộc đời, để trở thành người.

 

 

Sào huyệt thứ năm : Đời sống Xúc Động

 

Gần như trong tất cả mọi cuốn sách được tôi viết ra từ trước cho tới nay, luôn luôn tôi đă dành ra ít nhất một chương, để tŕnh bày những khám phá và nghiên cứu của tôi, về đời sống xúc động. Vừa hoàn tất một tác phẩm, tôi đă nhận thấy ngay lập tức nhiều trọng điểm chưa được « tát cạn ». Bao nhiêu tin tức c̣n nóng hổi, vừa xuất hiện trên các diễn đàn văn hóa...Hẳn thực, từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Phân Tâm Học đă ấn mạnh vai tṛ và tầm quan trọng của xúc động trong toàn diện cuộc sống của con người. Tuy nhiên, trong ṿng 20 năm gần đây, bao nhiêu phương pháp tiếp cận, thuộc nhiều lảnh vực khác nhau, đă ra đời, như khoa học về năo bộ, phương pháp « Tạo Trung Gian » trong khoa học xă hội, Thuyết Cấu Trúc trong địa hạt Triết lư...đă cung ứng nhiều nguồn ánh sáng rất thiết thực và độc đáo. Cho nên, tôi không thể không mang đến cho giới trẻ, nhất là ở Quê Nhà, một vài tin tức về hướng đi của Nhân Loại, trong thời đại Ngh́n Năm Thứ ba.

 

Nói như vậy, tôi muốn ghi nhận và coi trọng phản ứng khó chịu của một số độc giả « không thấy có ǵ mới lạ và hữu ích », trong những tin tức của tôi về khoa học Tâm Lư Hiện Đại. Tôi tôn trọng và cám ơn ư kiến của những người bạn ấy. Nhưng có lẽ tôi « là người có tập tục ăn cơm và uống trà mỗi ngày ». Tôi là người cứ lặp đi lặp lại « Mẹ ơi, con thương Mẹ », trong suốt cuộc đời hơn 65 tuổi, mà chưa bao giờ biết chán. Đối với tôi, mỗi lần lặp lại là mỗi lần sáng tạo, đổi mới, trong những tầng sâu của nội tâm.

 

 

Hôm nay, khi nói đến những xung đột giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, làm sao tôi không nhấn mạnh lại, và nhắc nhở cho đàn em của tôi, rằng : Xúc động là sào huyệt lớn lao nhất của VÔ THỨC. Nhu cầu của con người nằm ở đó. Những đồng thời, động cơ thúc đẩy chúng ta đứng dậy, bước tới, t́m đến với những giá trị lớn lao và cơ bản, trong cuộc sống làm người, cũng bắt nguồn từ đó.  Nếu Sơn Tinh và Thủy Tinh biết ngồi lại với nhau từ buổi đầu,  chia sẻ cho nhau về những xúc động của ḿnh, nh́n nhận và đón nhận nhau, họ đă mở ra cho các thế hệ về sau, những chân trời, những kinh nghiệm, những bài học làm người quí hóa.

 

Điều thứ nhất cần được chúng ta ghi nhận là vấn đề ư thức và diễn tả những xúc động vừa đang hiện h́nh trong nội tâm. Nếu không được mang ra ánh sáng của ư thức, chúng nó sẽ t́m cách NGỤY TRANG, để trốn thoát ra ngoài dưới nhiều h́nh thức khác nhau.

 

Chiếc áo ngụy trang thứ nhất là Tư Tưởng Nhị Nguyên trong những lời tố cáo, phê phán, qui lỗi : Tao hơn mày thua, tao yêu Nước, mày bán Nước.

 

Chiếc áo ngụy trang thứ hai là xu thế ước đoán hay là khoác cho kẻ khác những ư định tiêu cực như phá hoại, gian lận, phản bội... : Mày cố ư khinh thường tao.

 

Chiếc áo ngụy trang thứ ba là tập quán chụp mũ, gắn nhăn hiệu, bằng những danh hiệu rất mơ hồ và tổng quát : Mày là đồ cù lần.

 

Chiếc áo ngụy trang thứ bốn là bộ mặt mô phạm, dạy đời : đưa ra những lời khuyên, đề nghị cho kẻ khác những cách giải quyết, theo ư chủ quan của ḿnh, hay là trấn an một cách thông lệ : Thôi, can đảm lên chứ. Con trai mà khóc, người ta sẽ cười chết.

 

 

Điều thứ hai cần ghi nhận là phương thức đối ứng với xúc động nơi người khác.

Khi nhận thấy có người đang bộc lộ dưới nhiều h́nh thức khác nhau, những xúc động của ḿnh, điều chúng ta cần làm trước tiên là nh́n nhận và đón nhận, có nghĩa là coi trọng những cảm nghiệm. Coi trọng như vậy không có nghĩa là đồng ư với cách phản ứng của họ. Nh́n nhận như vậy là « gọi tên » xúc động đang thành h́nh, xuất hiện hay là c̣n ẩn lén trong nội tâm của người đang tiếp xúc với chúng ta :

 

«  Qua lời bạn vừa nói ra... qua hành vi của bạn mà tôi ghi nhận... h́nh như bạn đang bực tức và lo buồn... ».

 

Chúng ta có thể nêu lên hai hay ba tên gọi khác nhau. Thông thường, những xúc động không bao giờ xuất hiện một ḿnh. Hai hay ba phản ứng có thể dính liền và cùng đi với nhau. Theo tác giả G. JAMPOLSKY (7), lo sợ luôn luôn có mặt, mỗi lần chúng ta tố cáo, chụp mũ hay là có tác phong mất b́nh tĩnh, khi bộc lộ một xúc động đang trấn áp nội tâm. Và trước nỗi niềm lo sợ của một người, chỉ có t́nh yêu thương là câu trả lời thích hợp và đứng đắn. Nh́n nhận phát xuất từ ḷng yêu thương chân thành ấy.

 

Nói tóm lại, nh́n nhận xúc động của một người, là khẳng định với người ấy, một cách rơ ràng và chân thực, ba thái độ làm người của chúng ta :

 

Thứ nhất, tôi đang lắng nghe bạn, với trọn con người của tôi,

 

Thứ hai, tôi muốn t́m hiểu bạn, đúng như bạn hiểu chính ḿnh,

 

Thứ ba, tôi tôn trọng và ghi nhận xúc động đang hiện h́nh trong bạn.

 

Khi người khác không được chúng ta nh́n nhận, một cách nghiêm minh và cẩn trọng như vậy, những quan hệ giữa họ và chúng sẽ từ từ suy vong và tàn lụi. Trong những trường hợp trầm trọng hơn nữa, bao nhiêu nguyên nhân gây ra xung đột, hận thù, chia rẽ đều len lỏi, nằm vùng ở đó.

 

Điều thứ ba cần ghi nhận : Thương lượng, để diễn tả và chuyển hóa Xúc Động

 

Mỗi lần nói đến « chuyển hóa Xúc động », chúng ta nói đến hai động tác cần thực hiện : Một là ư thức về những hiện tượng khá phức tạp  đang xuất phát trong nội tâm. Hai là làm chủ. Có người sử dụng lối nói : quản lư, chuyển dịch từ tiếng Anh « To manage, Managing, Management ». Phần tôi, tôi sở hữu hóa lối nói của Kinh Dịch  « chuyển hóa hay là hóa giải », nghĩa là thay vào, khoác vào một bộ mặt, một h́nh thức thích ứng hơn, hữu hiệu hơn, có chất lượng làm người hơn. Tôi xin đan cử một ví dụ : Tức giận là quyền làm người của mỗi người. Nhưng bộc lộ tức giận bằng những tác phong bạo động, la mắng, nạt nộ, trừng phạt, đánh đập... không thuộc về chất lượng làm người. Trong quan hệ giữa người với người, chúng ta cần sáng tạo những h́nh thức thích hợp hơn.

 

Theo ư kiến của Tác giả Douglas STONE, để có thể chuyển hóa một xúc động, chúng ta bắt đầu bằng động tác THƯƠNG LƯỢNG (8).

Hẳn thực, giữa Tư Duy và Xúc Động, có những quan hệ nhân quả qua lại hai chiều. Xúc động bắt nguồn từ một lối nh́n, một cách thuyên giải. Nhưng khi xúc động đă có mặt trong nội tâm, nhất là những xúc động quá mănh liệt và tràn ngập, xúc động lúc bấy giờ sẽ trở lại khống chế tư duy. Trong t́nh huống nầy, tư duy trở thành con múa rối, bị xúc động lèo lái, chỉ huy, trấn áp. Nói khác đi, tư duy không c̣n hoạt động dưới ánh sáng của Ư Thức. Tư duy bị khống chế, tê liệt, trong chế độ Vô Thức.

 

Thương lượng là trở lại với ba nấc thang của Tư Duy, mà tôi đă tŕnh bày truớc đây :

 

Nấc thang thứ nhất : tôi đang thấy ǵ, tôi đang nghe ǵ, một cách cụ thể và khách quan. Sự kiện được ghi nhận là ǵ ?

 

Nấc thang thứ hai : tôi thuyên giải thế nào. Phía bên kia, sau khi nghe tôi, người đối diện sẽ thuyên giải theo chiều hướng nào ?  Khi có những khác biệt giữa hai lối nh́n, tôi sẽ quyết định thế nào, cho hợp t́nh hợp lư ?

 

Nấc thang thứ ba : Sau khi lắng nghe, trao đổi, t́m hiểu...cả người đối diện cùng với tôi đi đến kết luận nào ? Hay là tôi vẫn tiếp tục tố cáo ? Vẫn khư khư tin tưởng như đinh đóng là người kia cố t́nh chèn ép tôi ? Đối với tôi, phải chăng lỗi vẫn hoàn toàn thuộc về phe bên kia ?

 

Sau khi thương lương như vậy, nghĩa là lắng nghe ḿnh và lắng nghe người khác, dưới ánh sáng chan ḥa của ư thức, công việc c̣n lại là diễn tả chất lượng làm người, diễn tả một tấm ḷng ĐỒNG CẢM của ḿnh.

 

Sơ đồ diễn tả đă được tôi giới thiệu và tŕnh bày trong cuốn sách « Đồng Cảm để Đồng Hành » (9) :

 

Bước thứ nhất : Khi tôi thấy... tôi nghe...

Bước thứ hai : Tôi cảm...Tôi gọi tên xúc động,

Bước thứ ba : Xuyên qua xúc động ấy, tôi cần ...

Bước thứ bốn : Vậy bây giờ, tôi xin bạn hăy ...

 

Và sau khi diễn tả ḷng ḿnh, chúng ta hăy lắng nghe nỗi ḷng của kẻ khác. Khi đón nhận niềm đau của anh chị em đồng bào, chúng ta sẽ giật ḿnh tĩnh thức, v́ thấy rằng : niềm đau của chúng ta chỉ là hạt nước bé nhỏ, trong một đại dương bao la, với bao nhiêu niềm đau to lớn của anh chị em đồng bào.

  

Phần Ba - VÔ THỨC : một thách đố lớn lao

 

Đáng lư khi nói đến những sào huyệt của Vô Thức, tôi c̣n phải ghi nhận thêm hai loại khác, cũng quan trọng và lớn lao như năm loại kia. Đó là Bản sắc làm người và Quan hệ tiếp xúc.Tuy nhiên, xuyên qua phần nầy, hai vấn đề ấy sẽ được đề cập, trong những đường nét chính yếu.

 

Khi bàn đến Bản sắc làm người, phần nhiều các tác giả đề nghị nêu lên câu hỏi cơ bản : Tôi là ai, trong ḷng cuộc đời ?  

Robert DILTS (9) hướng dẫn cách trả lời của chúng ta, bằng những câu hỏi khác ăn khớp vào nhau và soi sáng lẫn nhau.

 

Câu hỏi thứ nhất : Cùng đích mà tôi nhắm tới, trong cuộc đời là ǵ ? ( What for ? )

 

Câu hỏi thứ hai : Cùng đích ấy bao gồm những giá trị nào ? ( Why ? )

 

Câu hỏi thứ ba : Những giá trị bao la, diệu vợi ấy trở nên hiện thực, trong ḷng cuộc sống làm người, bằng cách làm nào ? Chương tŕnh hành động ấy nhắm tới những mục tiêu cụ thể nào ? ( HOW ? )

 

Câu hỏi thứ bốn : Trong chương tŕnh ấy, động tác cụ thể, mà tôi thực hiện, ngày hôm nay, là điều nào ? ( What next ?)

 

Câu hỏi thứ năm : Tôi làm điều ấy ở đâu, với ai, trong môi trường nào ?  (Where, with whom... ?)

 

Với phương pháp « kiến tha lâu đầy tổ » hay là « cháo nóng húp quanh », do Tổ Tiên chúng ta đề xướng, tôi biết rằng : tôi chỉ làm một động tác  rất nhỏ mọn, thuộc tầm tay non yếu của tôi, ngày hôm nay. C̣n đám mây đen to tướng kia, đang bao phủ bầu trời của Bà Âu Cơ, sẽ từ từ tan biến đi, khi b́nh minh trở lại ngày mai. Đằng sau khúc sông eo hẹp, mà tôi đang cố t́m đường lách ra, giữa bao nhiêu lau sậy, Biển Cả của Lạc Long Quân đang chờ đợi tôi.

 

Hẳn thực, như Phần Hai đă cho chúng ta thấy rơ, Vô Thức chằng chịt, trên mỗi đường đi và lối thoát của chúng ta.Và chỗ nào có Vô Thức, chỗ ấy khổ đau cũng có mặt tràn trề, dày dạn.  Chỗ nào có Vô Thức, chỗ ấy xung đột, chiến tranh, hận thù là hiểm họa có thể bùng nổ, trong từng giây, từng phút. Và tôi c̣n muốn thêm, một cách cương quyết rằng : Chỗ nào có con người chung sống với nhau, chỗ ấy thế nào cũng có những thế hệ Sơn Tinh và Thủy Tinh. Không những ở Việt Nam. Nhưng trên mỗi xứ sở của Hoàn Cầu.

 

Tuy nhiên , tôi không dừng lại, bế tắt và bất động, trước nhận xét hoàn toàn khách quan và hiện thực ấy. Tôi không bi quan, yếm thế. Trước mỗi vấn đề, mà tôi phân tích, tôi luôn luôn tŕnh bày ít nhất một hoặc hai cánh cửa mở rộng. Trước mỗi bóng đen của Vô Thức bao trùm, khống chế, trấn ngự... luôn luôn có một tia sáng Ư Thức kêu mời, khuyến khích. Ai lắng mà không nghe ? Ai nh́n mà không thấy ? Ai t́m học, mà không có một vị thầy hay cô giáo đang sẵn sàng xuất hiện. Vấn đề chính yếu là chúng ta có can đảm đứng dậy, đi ra và đón nhận ánh sáng hay không ?

 

Qua bao nhiêu nhận xét, mà tôi đă tŕnh bày và giới thiệu, trong suốt cuốn sách này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điều :

 

Cuộc sống là một thách đố. Vô thức là một thách đố. Khổ đau là một thách đố. Trong mỗi thách đố, cơ may để tiến lên làm người luôn luôn có mặt, một cách tràn trề và lai láng.

 

Nhưng vực thẳm  cũng ở sát bên cạnh, tạo nguy cơ, để chúng ta có thể ngụp lặn và đắm ch́m.

 

 Cuộc sống luôn luôn là một chọn lựa. Và chọn lựa khó khăn nhất là thay đổi lối nh́n về ḿnh, trong chính nội tâm của chúng ta.

 

Cơ may lớn lao và chắc chắn nhất là người anh chị em đồng bào cùng đi, cùng bước với chúng ta. Khi họ rơi, chúng ta nâng đỡ. Khi chúng ta ngă, họ đưa tay kéo chúng ta lên. Khi đèn nhà tôi tắt, tôi qua thắp lại, bên ngôi nhà láng giềng. Khi mặt tôi lọ lem, họ nói cho tôi hay biết: tôi đang lọ lem.

Nguy cơ, trái lại, xảy ra, khi tôi khước từ người anh chị em. Họ đưa tay, tôi không nắm bắt. Họ kêu cứu, tôi không trả lời. Họ muốn sống, tôi mang tới bom đạn và gươm giáo. Sống cô đơn, cô độc, tôi mất khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ họ thường dùng.

 

Nỗi buồn lớn lao của tôi, mỗi lần nghe lại câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, không phải là mối t́nh tranh chấp của cả hai người đối với Mỵ Nương. Trên Đất Nước Lạc Việt, có hằng trăm, hằng ngàn, hằng triệu Mỵ Nương, c̣n duyên dáng, mặn mà hơn Nàng Công Chúa Mỵ Nương của Vua Hùng Thứ Mười Tám. Nhưng tôi buồn thấm thía, v́ hai người đă một lần sát cạnh nhau, trong bào thai của mẹ. Và bây giờ họ không có khả năng nói chuyện với nhau, bằng tiếng Mẹ Đẻ. Họ đă quên hẳn tiếng nói làm người. Họ trở thành người xa lạ, người Nước Ngoài. Không có Quê Hương, để nhớ đường trở về. Không có Quê Hương, để thương khóc, khi ra đi. Họ không c̣n có khả năng cùng nhau kết dệt một giấc mơ trong đó có Trời, có Biển, có Núi, có Sông. Có những cánh đồng c̣ bay thẳng cánh. Có những em bé ca hát líu lo, dẫn trâu về ràn. Có những cô thiếu nữ ḥ giả gạo, dưới ánh trăng đêm. Có những bà mẹ đang dắt tay con đi vào những hang động huyền sử của Nước Non.

 

Buồn làm sao, v́ cả Sơn Tinh và Thủy Tinh đă quên rằng họ là những người « luyện vàng », nghĩa là có khả năng hiến tặng một tấm ḷng, mặc dù người Anh hay người Em của ḿnh, trong một phút giây khổ đau, vô thức, mê muội... đă mở lời tố cáo, phê phán, nghi kỵ, hằn học, ganh đua, tranh giành phần hơn.

Phải chi hai người đang t́m lời, để chuyện tṛ với nhau :

 

Em là Nước ? Anh xin làm Biển Cả,

Cùng theo Em đến những miền xa lạ,

Gieo văi T́nh Thương, Khung Trời mở rộng,

Hiến cho đời mầm non, trào nhựa sống.

 

Em là Hoa ? Anh xin làm Mảnh Đất,

Aáp ủ vun trồng, dịu dàng thân mật,

Dưới mỗi bước chân, hương trầm ngào ngạt,

Trên khắp Non Sông, nương đồng bát ngát.

 

Em là Trời ? Anh xin làm Không Khí,

Đón nhận Em trong Trái Tim b́nh dị,

Em an b́nh, tâm hồn Anh diệu vợi,

Em hạnh phúc, cuộc đời Anh phơi phới.

 

Em là Mây ? Anh nguyện làm Gió Mát,

Thổi ân t́nh vào ḷng ai ngột ngạt,

Gieo thái ḥa giữa vùng đất bạo động,

Nuôi chí khí, đánh thức người tuyệt vơng.

 

Em là Núi ? Anh nguyện làm Rừng Xanh,

Động viên Em với tất cả ḷng thành,

Hăy đứng thẳng, nh́n Mặt Trời tỏa rạng,

Tay vươn cao tiếp thu nguồn Ánh Sáng.

 

Em là Đất ? Anh hóa thân thành Nắng,

Sưởi ấm Em bằng tấm ḷng thầm lặng,

Suốt mùa đông, chết đi nuôi Em sống,

Qua tiết xuân, gọi mời Em hy vọng.

 

 

Luyện vàng, theo lối nh́n của văn hào Paulo CUELHO, là giấc mơ kỳ vĩ, trong cuộâc sống làm người. Khi « va chạm » vào chúng ta, với bất kỳ ư đồ ǵ,  đồng, ch́, sắt, thép sẽ từ từ hóa thân thành vàng nguyên chất.

Tuy nhiên, để có khả năng luyện vàng như vậy, nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết lừng danh của tác giả nầy, mang tên là « Người Luyện Vàng » (11), đă phải từ bỏ tất cả, trong cuộc đời hiện tại của ḿnh, băng ngàn, leo núi, vượt trùng dương, đi vào Sa Mạc. Tại nơi đây, ông đă học lắng nghe tiếng gió, khám phá những dấu chân trên mặt cát muôn h́nh vạn trạng, thương lượng với những người sinh sống bằng chiến tranh. Thế nhưng, cũng nhờ sa mạc, ông đă biết yêu, đă gặp thầy, đă đào đất t́m được « Ḥn Đá Khôn Ngoan », bên cạnh một Kim Tự Tháp. Với báu vật cuối cùng nầy, ông đă biết cách luyện vàng, để có tiền trở về quê hương của ḿnh.

Tại một căn lều bỏ hoang, mà trước đây ông đă từng chiếm cứ và qua đêm với đàn cừu của ḿnh, ông đă gặp lại giấc mơ ngày xưa. Giấc mơ ấy, tại nơi đây, đă bảo ông hăy ra đi học làm người luyện vàng. Hôm nay, sau hơn hai mươi năm,  cũng giấc mơ ấy, tại nơi đây, bảo ông hăy đào bới những tầng sâu thăm thẳm, ở chỗ ông đă từng nằm trước đây và bây giờ đang nằm. Kỳ thực, một kho vàng lớn lao đang ở trong đôi tay của ông. Ôâng không ngờ, ông đă kinh qua hai mươi năm, học làm người luyện vàng. Bây giờ, tại căn lều mà ông đă sinh sống suốt cuộc đời thơ ấu, hai bàn tay ông đă đào bới được kho báu lớn lao.

Sau câu chuyện nầy, văn hào Paulo Cuelho đă kết luận : khi chúng ta cưu mang, ấp ủ và ngày ngày vỗ về một giấc mơ, tất cả trăng sao, gió mưa, đất trời và toàn thể vũ trụ...đều đóng góp phần năng động và giúp chúng ta thực hiện hoài bảo của ḿnh.

 

Trở lại với tất cả những điều chúng ta đă khám phá, về những tầng sâu của nội tâm, chúng ta cũng có thể kết luận gống y hệt Paulo Cuelho : Nếu chúng ta cưu mang chất lượng làm nguời, trong đáy sâu thăm thẳm của tâm hồn, chính Vô Thức và bao nhiêu khổ đau, trong ḷng cuộc đời, đều là chất liệu quí hóa giúp chúng ta thành người và có khả năng chuyển biến kẻ khác thành người cùng với chúng ta.

 

Lausanne, Thụy sĩ - Mùa Xuân 2003

                     Đọc và xem lại  ngày 28-04-2006

 

 

 

 

 

Bí chú và Sách tham khảo :

 

1*.-SPITZ R.  - The first year of life -I.U.P N.York 1965

2*.-NGUYỄN văn Thành - Quan hệ Mẹ Con - T́nh Người, Lausanne 2000.

3*.- BRAZELTON T.B. - Points forts II - Stock,  Paris 2000

4*.-WINNICOTT D.W.-The family and Invidual development- Basic Books, New York 1965.

5*.-ROBBINS R.- Unlimited Power : a black choice -Simon and Schuster, N.Y. 1997 p.251.

6*.-100 bài thơ t́nh - Nhà Xb Giáo dục, Hà Nội 1993, tr. 9.

7*.-JAMPOLSKY G. - Aimer c-est se libérer de la peur - Ed. Soleil, Genève 1980

8*.-STONE D. - Difficult Conversations -M :Joseph, London 1999.

9*.- NGUYỄN văn Thành - Đồng Cảm để Đồng Hành - T́nh Người, Lausanne 2003.

10*.- DILTS R. - Applications of NLP - Metapubl. CA 1983.

11*.-CUELHO P. - L-Alchimiste - éd. ill. par Moebius 1995

12.-NGUYỄN văn Thành – Huyền Sử Việt Nam, Con Đường Luyện Vàng   -   Chính Luận, Seattle Washington 2004.

13.-NGUYỄN văn Thành   -  Đường vào  Nội Tâm  - TN 1997.

14.-NGUYỄN văn Thành  -  Khung Trời Mở Rộng  -  TN 2000. 

 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 08/31/06