QUẢNG NAM

Nguyễn Thanh Liêm

 

 

            Theo sách sử th́ những người Việt Nam đầu tiên vào khai khẩn mở mang Miền Nam là những người đến từ vùng Thuận Quảng. Thuận đây là châu Thuận Hóa và Quảng tức là Quảng Nam. Truy ra nguồn gốc th́ phần lớn người Nam Kỳ đều xuất phát từ đất Quảng Nam này. Quảng Nam chiếm vị thế rất quan trọng trong lịch sử và địa lư của nước Việt Nam. Từ xưa đây là ải địa đầu hướng về và mở rộng (Quảng) ra ở Phương Nam của người dân Việt, nhất là người dân Việt chối từ sự thống trị của Chúa Trịnh tham quyền và nhà Lê suy mạt. Từ lúc Đàng Trong của Chúa Nguyễn thành h́nh th́ Quảng Nam đă từng là nơi cung cấp cho chính quyền Phương Nam rất nhiều vật lực cũng như nhân tài để bảo vệ quê hương và mở mang xứ sở, tạo nên một nước Việt mới hùng mạnh vào bậc nhất ở vùng Đông Nam Á.

 

Tỉnh Quảng Nam, thời Việt Nam Cộng Ḥa, là một tỉnh lớn của Miền Trung, giáp giới với tỉnh Thừa Thiên ở phía Bắc và tỉnh Quảng Tín ở phía Nam (bây giờ là giáp tỉnh Quảng Ngăi ở phía này). Phía Đông của Quảng Nam là biển Đông Hải và phía Tây là núi rừng Ai Lao. Quảng Nam cách biệt với Ai Lao bởi dăy Trường Sơn, dăy này có những ngọn cao hơn 1000 mét như núi Bà Nà (cao 1400 m), núi A Tuất (cao 2500 m). Ở phía Bắc là núi Hải Vân ngăn chia Quảng Nam với Thừa Thiên. Ở phía Nam cũng có dăy núi phân cách Quảng Nam với Quảng Ngăi. Tuy bị nhiều núi non làm cho đồng bằng phải thu hẹp lại nhưng Quảng Nam vẫn c̣n tương đối rộng hơn nhiều tỉnh khác ở Miền Trung, có nơi từ bờ biển vào giáp núi dài trên 40 cây số. Bờ biển Quảng Nam chạy từ đèo Hải Vân đến vịnh Dung Quật, dài trên 100 cây số, nhiều quăng có băi cát trắng rộng từ hai đến bốn cây số. Quảng Nam có nhiều sông ngang dọc thuận tiện cho giao thông thủy lợi. Những sông chính ở đây là sông Thủy Tú, sông Cẩm Lệ, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Ly Ly, sông Tam Kỳ, sông Vĩnh An, sông Cây Trâm, sông Trầu. Hầu hết là những con sông ngắn và hẹp. lưu lượng không điều ḥa trừ ra sông Thu Bồn. Thu Bồn là con sông dài nhất của tỉnh Quảng Nam chảy từ nguồn Chiên Đàn ra đến cửa Đại, dài cả trăm cây số, khi th́ len lỏi giữa núi non hiểm trỡ, khi th́ nhọc nhằn leo qua các thác ghềnh, khi th́ thênh thang nhẹ nhàng di chuyển giữa các cánh đồng ph́ nhiêu trù phú. Mỗi khúc sông có hoàn cảnh môi sinh riêng biệt của nó như là vùng sản xuất quế và mật ong ở Trà My, Thiên Phước, vùng đá trắng có khắc chữ cổ Chiêm Thành ở ḥn Kẽm gần Trà Linh, đến những ruộng trồng bắp xanh tươi qua mỏ than Nông Sơn đến những xóm làng trù mật sau những lũy tre xanh của vùng Trung Phước, cho đến vùng G̣ Nổi ph́ nhiêu với những băi dâu xanh cung cấp thức ăn cho nong tằm của các làng lân cận. Liên quan tới ḥn Kẽm và ḷng hiếu thảo của người dân Quảng Nam, có câu ca dao hêÙt sức dễ thương:

“Ngó lên ḥn Kẽm đá dừng,

    Thương cha, nhớ mẹ quá chừng bạn ơi.”

           

  “Sông Thu Bồn nối liền hai miền xuôi ngược, nối liền miền công nghiệp mỏ, miền thủ công nghiệp và miền nông nghiệp với nhau, qua các sông Trường Giang, sông Vĩnh Điện nối liền các thị xă Tam Kỳ, Hội An, thị trấn Vĩnh Điện với thành phố Đà Nẳng.” (Quảng Nam, Địa Lư – Lịch Sử – Nhân Vật, của Lâm Quang Thự, tr. 20).

Thắng cảnh ở Quảng Nam có Ngũ Hành Sơn, ở phía Đông huyện Ḥa Vang, gồm năm ngọn cao vót đặt tên là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn. Trong núi có nhiều hang động khắc tên vào đá như Huyền Không, Linh Nham, v v . . Đẹp nhất trong các động là Huyền Không Động. Trong núi Ngũ Hành có nhiều đá cẩm thạch nên người Pháp gọi núi nầy là Núi Cẩm Thạch (Montagnes de Marbre). Bà Bảng Nhăn (vợ ông Bảng Nhăn Phan Quỳ) có bài thơ nổi tiếng sau đây về Ngũ Hành Sơn:

            “Cảnh trí nào hơn cảnh trí này,

            Bồng lai thôi cũng hẳn là đây.

            Núi chen sắc đá màu phơi gấm,

            Chùa nức hơi hương khói lộn mây.

            Ngư phủ gác cần ngơ mặt nước,

            Tiều phu chống búa tựa lưng cây.

Nh́n xem phong cảnh ưa ḷng khách,

Khen bấy thợ trời khéo đắp xây.”           

Ngoài  Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam c̣n có Ḥn Non Nước với dải Sông Hàn và núi Sơn Trà hợp thành cảnh đẹp thiên nhiên thường được nhắc nhở trong câu ca dao:

      “Quê em có dải sông Hàn,

            Có ḥn Non Nước, có hang Sơn Trà.”   

 

Diện tích của tỉnh có khoảng 12,000 cây số vuông nhưng diện tích đồng bằng chỉ có 1500 cây số vuông thôi, trong đó diện tích trồng trọt chỉ có 117,000 mẫu. Hội An là tỉnh lỵ của Quảng Nam, ở cách Sài G̣n 970 cây số về hướng Bắc. Nằm trên tả ngạn sông Thu Bồn, thành phố Hội An là một thành phố cổ có một thời phồn vinh nhờ ở những thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha ra vào buôn bán, lập nên nhiều thương điếm và phố xá. Đà Nẳng là hải cảng sâu rộng, rất quan trọng về phương diện quân sự và thương mại, và là thành phố lớn nhất ở Miền Trung cũng nằm trong lănh thổ Quảng Nam. Hội An trước và Đà Nẳng sau là hai trung tâm ngoại thương quan trọng của Quảng Nam. Hai trung tâm này cũng là hai cánh cửa du nhập văn hóa từ nhiều nơi đến. Nông nghiệp là sinh hoạt kinh tế chính của tỉnh. Dù có một số đồng bằng khá ph́ nhiêu do phù sa bồi đắp nhưng bà con nông dân cũng rất khốn khổ v́ thời tiết khắc nghiệt; mùa hè quá nóng làm khô cháy hoa màu, mùa mưa thường làm nước dâng cao gây lụt lội, thiệt hại không ít cho nông dân. Chăn nuôi (sản xuất trứng gà và vịt) và đánh cá (làm nước mấm) cũng là những nghề đem lại nhiều lợi tức. Nước mấm Nam Ô của Quảng Nam cũng khá nổi tiếng.Vào năm 1966 dân số Quảng Nam có khoảng 800,000 người, và Quảng Tín 400,000. Dân Quảng Nam phần đông là người Kinh sống tập trung ở miền đồng bằng, các thị xă và thị trấn. Trong số người Kinh có những người Việt gốc Hoa, người Minh Hương, sinh sống nhiều đời ở đây. Đồng bào Thượng, vào khoảng 50,000 sống rải rác ở các vùng núi phía Tây như người Cà Tu, người Ta Riêng, người Cor, người Xê Đăng, người Kay Iong, người Nậm, v v . . .Sau nữa là những người họ Trà, họ Chế vốn là người Chăm (hay người Chiêm Thành) đă hội nhập vào xă hội văn hóa Việt từ nhiều đời. Sản phẩm của Quảng Nam đặc biệt có gạo “lúa can”, “khoai điệp”, thuốc “Cẩm Lệ”, trà, quế, hồ tiêu, mật ong, sáp, yến, v v . . . 

 

            Trước thế kỷ XV Quảng Nam là đất của Chiêm Thành mà ngày xưa người Trung Hoa gọi là nước Lâm Ấp. Tên Chiêm Thành cũng do người Trung Hoa đặt ra lấy từ chữ Champapura của người Chăm. Theo Phạn ngữ th́ “Champa là một loài hoa màu trắng, hương thơm đậm đà, đă được các nhà nghiên cứu xác định tên khoa học là Michelia Champaca Linn, tương ứng với hoa ngọc lan trong tiếng Việt”( theo Dohamide Dorohiêm trong quyển Bang Sa Champa, tr. 215) và là quốc hiệu của Chiêm Thành, và pura là thành phố hay kinh thành, Champapura tức là kinh thành hoa ngọc lan vậy. Kinh đô của xứ Lâm Aáp xưa, từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ X là Shinhapura, mà theo Phạn ngữ th́ là kinh thành sư tử (shinha là sư tử và pura là kinh thành) ở trong vùng đất của Quảng Nam. Vị trí xưa của Shinhapura là Trà Kiệu ngày nay, cách Đà Nẳng khoảng 40 cây số về phía Tây Nam. Một kinh đô khác của Chiêm Thành là Indrapura thời vua Indravarman II (875-991) nằm tại Đồng Dương Quảng Nam. Nhưng từ thế kỷ thứ XI, triều vua Yang Pu Ku Vijaya (999 - ?) kinh đô Chiêm Thành được dời về Vijaya tức là Đồ Bàn hay Chà Bàn ở vùng B́nh Định bây giờ. Sau đó lại được dời về kinh thành Champapura và cuối cùng là Virapura nằm trong khu vực thành phố Phan Rang ngày nay. V́ là đất kinh đô của Champa xưa nên Quảng Nam c̣n nhiều vết tích của những thành củ, tháp xưa của văn hóa Chàm. Các đền tháp của kinh đô Shinhapura đều đă sụp đổ nay chỉ c̣n một ít chân móng tường thành bị đất đá che lấp. Hồi năm 1927 J.Y.Claeys của Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội đă mở cuộc khai quật ở vùng này. Kết quả khai quật cho thấy các dấu vết của những tháp đền thờ ba vị thần Brahma, Siva và Vishnu của đạo Bà La Môn. Có nhiều tượng sư tử đứng chầu (đúng với cái tên thành phố sư tử) và nhiều tượng thú vật khác đă được đem về trưng bày tại Cổ Viện Chàm ở Đà Nẳng. Quần thể kiến trúc của thánh địa Mỹ Sơn c̣n nhiều vết tích hơn Shinhapura. Mỹ Sơn ở cách Đà Nẳng khoảng 68 cây số về phía Tây Nam. Mỹ Sơn là thánh địa Chàm. Tại đây c̣n dấu vết của khoảng 20 tháp cổ do vua Bhadravarman cho xây cất vào hậu bán thế kỷ thứ IV, thờ thần Bhadresvara. Hiện nay Mỹ Sơn và Hội An được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Kinh thành Indrapura ở Đồng Dương c̣n dấu vết một đền tháp tên là Laksmindra Lokesvara do vua Indravarman II cho xây cất khoảng năm 875 để thờ Dharma (Phật Pháp). Kinh thành Indrapura có thể xem như trung tâm Phật giáo Chiêm Thành. Ở đây, hồi năm 1978, người ta c̣n t́m được một pho tượng Quan Thế Aâm Bồ Tát cao 1, 14 mét, nguyên bản rất quư. Ngoài những đền tháp trên đây, Quảng Nam c̣n nhiều di tích của những tháp nhỏ rải rác dọc quốc lộ 1 như Tháp Bằng An (xă Điện An, huyện Điện Bàn), Tháp Chiên Đàn (xă Tam An, huyện Tam Kỳ), Tháp Khương Mỹ (xă Tam Xuân, huyện Núi Thành, gần Tam Kỳ). Phần lớn các di chỉ văn hóa Chàm được tập trung về Cổ Viện Chàm, hay Viện Bảo Tàng Henri Parmentier ở Đà Nẳng. Trước 1975, viện có 1484 cổ vật và chỉ 20% được trưng bày. Sau 1975 nhiều cổ vật bị mất cắp. (Những tin tức về di chỉ văn hóa Chàm trên đây được tóm tắt từ quyển Quảng Nam Trong Lịch Sử  của giáo sư  sử gia Trần Gia Phụng).

           

Người Quảng Nam cần cù, nhẫn nại, nhưng thẳng thắn, bộc trực, rơ ràng, ṣng phẳng, không quanh co. Họ có tinh thần yêu thích tự do, sinh hoạt dân chủ, có tính bất khuất, có óc cầu tiến, có tinh thần cởi mở, khai phóng. Nhưng người Quảng Nam cũng hay bị mỉa mai là “hay căi”. Câu tục ngữ nổi tiếng về đặc tính của người dân Quảng Nam là “Quảng Nam hay căi”. Người Quảng Nam có hay căi thật không? Nếu thật có như vậy th́ câu hỏi tiếp theo là tại sao họ hay căi? Giáo sư sử gia Trần Gia Phụng có những phân tích và giải thích rất đáng chú ư sau đây (sau khi đă mặc nhiên công nhận lời phát biểu của câu tục ngữ):

“Hay căi v́ tính thích tự do phóng túng, dân chủ, không muốn bị g̣ bó theo một khuôn phép nào, không thụ động dễ dàng chấp nhận bất cứ một ư kiến nào. Một điểm nhỏ trong lịch sử cần được chú ư là những đợt di dân xuống phía nam phát triển mạnh từ Nguyễn Hoàng trở đi. Các chúa Nguyễn chỉ lập phủ chúa quanh quẩn ở vùng Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay chứ không xuống quá đèo Hải Vân. Những khuôn phép lễ nghi, và lề thói sinh hoạt cung đ́nh từ Thăng Long vào Thuận Hóa, dừng lại theo chúa Nguyễn và vua Nguyễn ở Thừa Thiên. Nhưng lưu dân vượt Hải Vân xuôi nam ít nhiều thoát ra ngoài sự ràng buộc của cung cách vua chúa; cọng với tinh thần tự do, sinh hoạt dân chủ nên dễ phát biểu ư kiến bất cứ lúc nào, từ đó trở thành hay căi.

            Hay căi biểu lộ sự thẳng thắn, bộc trực, rơ ràng và ṣng phẳng. Tính bộc trực thể hiện rơ nét nhất trong cách nói chuyện của người Quảng Nam. Khi nói chuyện người Quảng Nam hay đi thẳng vào vấn đề, ít quanh co, không rào trước đón sau, nhiều khi ăn nói cộc lốc đến nỗi bị mang tiếng là “an cục nói ḥn” (nhóm từ này h́nh như chỉ có ở Quảng Nam), và dễ làm mất ḷng người khác. Những ǵ bất đồng th́ nói ra, chứ không để bụng, không “ghim” vào ḷng, để rồi “hăy đợi đấy”, có dịp sẽ trả đủa. . . .

            Hay căi c̣n biểu lộ ḷng tự tin và ư chí học hỏi, cầu tiến. Trong những cuộc thảo luận, trao đổi mà chỉ có ư kiến một chiều th́ không thể tiến bộ được. Người có hiểu biết, tin rằng lư luận ḿnh đúng mới dám căi. Hay căi c̣n làm cho cuộc thảo luận trở nên sôi nổi, nẩy bật ra những ư kiến mới lạ, từ đó phát sinh được những giải đáp mới mẻ tiến bộ.

            Hay căi chứng tỏ bản lĩnh độc lập tự chủ, chứ không dễ dàng bị khuất phục, và ḷng tôn trọng lẽ phải dựa trên phương pháp tranh luận chứ không phải bằng bạo lực. Phải chăng do đặc tính địa phương này mà Phan Chu Trinh và phong trào Duy Tân theo chủ trương tranh đấu bất bạo động?

            Hay căi là một điều tốt, chúng tỏ ḷng thẳng thắn, sự tích cực tham gia ư kiến, nhưng ǵ cũng căi, đôi khi không biết cũng căi, rồi căi chầy căi cối, căi bướng căi gàn, căi v́ tự ái, đi đến chỗ cứng đầu, bảo thủ, lại gây những trở ngại không ít cho công việc. Đay là mặt trái của tính hay căi. Xem ra không ít người Quảng Nam hay căi theo ư hướng không tốt nầy, nên câu tục ngữ “Quảng Nam hay căi” dần dần mang thêm ư nghĩa chăm biếm, mỉa mai, và đeo đẳng tất cả con dân Quảng Nam.” (Quảng Nam Trong Lịch Sử, Trần Gia Phụng, tr. 69-71).

      

            Liên quan tới tính hay căi là tinh thần hiếu học của người Quảng Nam. Nhiều người học giỏi đỗ cao. Và theo Trần Gia Phụng th́ “Trước đây, trong miền Nam, người ta thường rước các thầy đồ Quảng” về nhà dạy con cái học hành, như ngoài bắc rước các “thầy đồ Nghệ”. Điều này chứng tỏ giới nho sĩ (thầy đồ) hai xứ này phải vừa học giỏi, vừa đạo đức mới được trọng vọng như vậy”.

 

            Một số những đặc tính của người dân Quảng Nam trên đây và cả giọng nói của người Quảng Nam nữa đă được mang theo vào Miền Nam bởi những lưu dân đầu tiên đến từ vùng Thuận Quảng, nhất là vùng Quảng Nam vậy.      

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 08/31/06