MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ SỰ ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT
Thích Thiện Bảo

Đức Phật không chỉ là một nhân vật lịch sử được cả thế giới biết đến, mà c̣n là một bậc Giác ngộ vĩ đại, một vị Thánh nhân trong tâm tưởng của mọi người.

Muốn t́m hiểu đạo Phật, trước hết phải hiểu Đức Phật, bởi chính cuộc đời của Ngài nói lên tinh thần giáo lư mà Ngài đă chứng ngộ và tuyên thuyết.

Nói về Đức Phật, nếu ta chỉ đứng trên quan điểm lịch sử thôi th́ chưa đủ, chưa khắc họa được một cách hoàn mỹ con người siêu việt ấy. Do vậy, kết hợp giữa Đức Phật lịch sử và Đức Phật huyền thoại sẽ mang lại cho chúng ta một bức chân dung sắc nét, toát lên đầy đủ tinh thần, tính cách và tầm cỡ của Đức Phật.

Đức Phật ra đời cách đây đă hơn hai thiên niên kỷ. Thời ấy, phương tiện ghi chép lịch sử chưa được như ngày nay, chủ yếu là truyền miệng từ đời này sang đời khác, nên việc lưu lại lịch sử Đức Phật rất khó chính xác. Tuy nhiên, không v́ thế mà chúng ta không khẳng định được những nét cơ bản hợp lư trong lịch sử cuộc đời Ngài.

Những cứ liệu lịch sử do các nhà khoa học chứng minh th́ đă rơ, nhưng những truyền thuyết dân gian cũng không thể chối bỏ, bởi truyền thuyết cũng phần nào dựa trên những yếu tố cơ bản có thật để xây dựng. Những t́nh tiết dù không có thật nhưng cũng nói lên, phản ánh được tinh thần của vấn đề. Con người  không thể bảo rằng cái ǵ chưa chứng minh được th́ điều ấy là không có thật. Ngày nay, khi mà khoa học chưa thể t́m ra một cách đầy đủ về cuộc đời Ngài, th́ truyền thuyết là những nét chấm phá để chúng ta có thể dựa vào đó mà hoàn thiện h́nh ảnh một con người vĩ đại đă mang lại cho nhân loại sự độc đáo về tư duy, về triết học; mang lại cho những người quan tâm đến đời sống tâm linh một con đường an lạc, giải thoát siêu việt, và thiết thực nhất là mang lại cho xă hội một nền tảng đạo đức cao cả về ḷng từ bi, vị tha vô lượng.

Có khá nhiều sử sách ghi chép khác nhau về năm sinh, năm xuất gia của Đức Phật. Điều này có nhiều nguyên do (do quan niệm, do cách suy luận, do dựa vào nhiều cứ liệu lịch sử khác nhau...) nhưng nguyên do cơ bản nhất có lẽ là xuất phát từ đặc điểm tư duy của người Ấn Độ. Người Ấn xưa không đặt nặng vấn đề thời gian, chính v́ vậy mà lịch sử Ấn Độ xưa thường không chú trọng việc ghi chính xác ngày tháng. “...  Người Ấn chú ư đến những điều giáo huấn, nghi thức hơn là tính chính xác của lịch sử” (Nguyễn Tấn Đắc - Văn hóa Ấn Độ). Tuy nhiên, dù chưa xác định chính xác niên đại,  th́ năm sinh của Đức Phật - theo một số sách sử nghiên cứu, được nhiều ư kiến đồng t́nh, ghi lại - cũng chỉ dao động trong ṿng khoảng 100 năm. Do vậy, chúng ta có thể chấp nhận được, v́ điều này không ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng giáo lư của Ngài, bởi trong ṿng một thế kỷ, hệ tư tưởng con người không có sự khác biệt nhiều.

Theo Phật lịch của chúng ta hiện nay th́ Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Tây lịch. Quê hương Đức Phật là một vùng đất với các cánh đồng có những cây Sa la (Sàla) sừng sững. Phía Bắc là dăy núi Hy Mă Lạp Sơn (Hymalayas)  với đỉnh núi quanh năm tuyết phủ. Phụ vương Ngài là một quốc vương cai trị vùng đất này, thủ phủ là thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) gần biên giới Nepal và Ấn Độ ngày nay.

Vua Tịnh Phạn là một vị vua rất nhân từ và sáng suốt. Đức vua và hoàng hậu đă lớn tuổi nhưng chưa có con nối dơi, do đó, có được một hoàng tử là niềm mong ước của thần dân. Vào một ngày đẹp trời, thành Ca Tỳ La Vệ tổ chức lễ Tinh tú, nhà vua và quần thần cùng nhau dâng lễ. Hoàng hậu Ma Da là một người đức hạnh và rất từ tâm, sau khi dâng lễ, Người liền ra khỏi thành để bố thí thức ăn và đồ mặc cho những người nghèo khó, tàn tật... 

Đêm hôm đó, hoàng hậu chiêm bao thấy voi trắng sáu ngà từ trên không sa xuống và ẩn vào bên hông bên phải (Phong tục Ấn xem bên phải là thiêng liêng. Người ta luôn đặt những h́nh tượng tôn kính về bên phải).

Sáng hôm sau, hoàng hậu đem điềm chiêm bao đó tâu lên đức vua; nhà vua liền mời các vị bốc sư đoán mộng, những vị này đều đoán là hoàng hậu sẽ sanh ra một hoàng nam tài đức song toàn.

Dự đoán tốt đẹp ấy đă trở thành sự thật. Hoàng hậu sau đó hạ sinh được một thái tử khôi ngô tuấn tú, thần thái tinh anh rất là đặc biệt.

Theo tập tục Ấn Độ thời bấy giờ, người phụ nữ khi sắp sanh phải trở về quê hương cha mẹ của ḿnh để được mẹ ruột chăm sóc. Trên đường đi về quê, đến làng Lâm  Tỳ Ni (Lumbini) th́ hoàng hậu hạ sinh thái tử trong lúc Người đứng vịn vào một cành cây Vô ưu (một loại cây có tên khoa học là Shorea Robusta).

Năm 1896, các nhà khảo cổ (nhà khảo cổ người Anh tên là Cuningham) đă khai quật được một số di chỉ quan trọng ở Lâm T́ Ni, trong số đó có một thạch trụ cao 6,5 mét do hoàng đế Asoka dựng năm 245 trước Tây lịch, trên đó có ghi đại ư như sau: “Quốc vương Devànampiya Piyadasi sau 25 năm lên ngôi đă ngự đến đây chiêm bái. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă Đản sinh tại đây. Nhà vua ban lệnh khắc tượng đá và cột đá để kỷ niệm nơi Ngài đản sinh. Nhà vua miễn thuế đất và giảm thuế hoa lợi cho làng Lumbini.”

 Truyền thuyết kể lại rằng: Ngài ra đời lúc ánh nắng của buổi b́nh minh lấp lánh, trong không khí ngào ngạt của trăm hoa đua nở như đón chào một vị cứu thế vĩ đại. Có rất nhiều những bản kinh văn ghi chép, ca ngợi giờ phút long trọng ấy. Đặc biệt và phổ biến nhất là h́nh ảnh hài nhi bước đi bảy bước, dưới chân nở những hoa sen, tay chỉ trời, tay chỉ đất và nói như một lời tuyên thuyết: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngă độc tôn; Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ”. Câu nói này được giải nghĩa nhiều cách khác nhau, nhưng nói chung là nhằm ca ngợi tôn vinh Đức  Phật với ḷng biết ơn, kính yêu vô lượng của những người chí tâm sùng bái Ngài, đồng thời cũng mang ư nghĩa khái quát tinh thần giáo lư đạo Phật.

Được tin hoàng hậu hạ sanh thái tử, nhà vua cùng quần thần vô cùng hân hoan, liền đem xa giá đến đón. Cả vương quốc mở hội tưng bừng, mừng sự ra đời của thái tử. Các nhà hiền triết được mời vào cung để tiên đoán vận mệnh của Người. Đứng trước vẻ đẹp xuất thế của thái tử, tất cả đều tiên đoán rằng thái tử sau này chắc chắn sẽ trở thành một bậc vĩ nhân. Vị tế sư của hoàng tộc, có uy tín lâu năm tên là A Tư Đà (Asita) đă không ngăn được cảm xúc của ḿnh. Ông ứa nước mắt nói rằng ông vô cùng vui mừng v́ từ nay nhân loại đă có được một đấng cứu thế, ông tiếc rằng ḿnh tuổi đă cao, không c̣n sống đến ngày được nghe bậc Thánh nhân truyền dạy. Ông căn dặn người cháu của ḿnh, Nàlaka, ngày sau hăy theo pḥ tá bậc vĩ nhân này.

Lễ đặt tên cho thái tử được các vị Bà la môn đảm trách. Trong số đó có vị tên là Kiều Trần Như (Kondanna), sau này trở thành người đệ tử xuất gia đầu tiên của Đức Phật. Thái tử được đặt tên là Sĩ Đạt Ta (Siddhattha).

Thường th́ con cái của các vị vua chúa, quan lại khi mới sinh đều được các thầy tướng số đoán xem vận mệnh, bởi đó là những nhân vật quan trọng, có thể kế nghiệp tổ tiên. Các bậc khai sáng, giáo chủ của các tôn giáo khác cũng thế. Các bậc ấy được các thiên thần báo tin, chào đón với những lời khẳng định chắc chắn địa vị, vai tṛ của họ sau này. Riêng Đức Phật, truyền thuyết cho rằng: những nhà tiên tri đưa ra hai giả thuyết, một là thái tử sẽ trở thành một vị vua kế nghiệp tài ba; hai là thái tử sẽ trở thành một bậc Thánh nhân xuất chúng. Chi tiết ấy cho ta thấy được tính khách quan trung thực, không tùy tiện áp đặt của những lời tiên đoán. Đó cũng là sự xác thực, rạch ṛi của quan điểm giáo lư đạo Phật sau này. Nh́n một đứa bé với những nét khôi ngô đặc biệt, thần thái uy linh, người ta có thể tiên đoán một cách khoa học rằng sau này đứa bé ấy sẽ trở thành một nhân vật đặc biệt. Các nhà tiên tri căn cứ vào địa vị thái tử để tiên đoán sau này Sĩ Đạt Ta sẽ trở thành một vị minh quân vĩ đại; căn cứ vào t́nh h́nh xă hội và các trào lưu tư tưởng Ấn Độ thời bấy giờ để tiên đoán sau này Sĩ Đạt Ta sẽ trở thành một vị Thánh nhân xuất chúng, mang lại cho loài người một chân lư tốt đẹp nhất. Tuy nhiên, những lời tiên đoán cũng nghiêng về phía ư kiến cho rằng sau này thái tử sẽ trở thành một vị Phật. Trước nhất là ư kiến của vị hiền triết A Tư Đà - một lăo trượng rất được hoàng tộc trọng vọng từ đời vua Śhahanu, phụ thân của vua Tịnh Phạn, và sau đó là ư kiến của Kiều Trần Như - vị Bà la môn trẻ tuổi nhất trong tám vị Bà la môn cử hành lễ đặt tên cho thái tử. Cả hai, một già một trẻ, đại diện cho hai thế hệ, mang ư nghĩa biểu hiện sự hoàn hảo của tư tưởng, đều quả quyết rằng thái tử sẽ trở thành một vị Phật. Cũng chính v́ niềm tin có được từ đây mà sau này Kiều Trần Như đă trở thành người ngộ giáo pháp đầu tiên và chứng quả ngay sau khi được Đức Thế Tôn thuyết giảng.

Tất cả những lời tiên đoán về Đức Phật bao hàm những ư nghĩa triết lư cao siêu hơn là chất mê tín mà người ta thường gán ghép cho những nhân vật huyền thoại. Sở dĩ có những lời tiên đoán ấy là để nói lên rằng:  Đây không phải là một con người b́nh thường! Con người này không phải do học hỏi kiến thức mới được thành tựu viên măn. Con người ấy đă mang sẵn trong ḿnh tư tưởng siêu phàm, tố chất thuần khiết, tinh hoa vũ trụ...và tâm từ vô biên. Để sau này, bằng nỗ lực bản thân, với sự tu tập kiên tŕ, sáng suốt của ḿnh, con người ấy chứng ngộ được chân lư siêu việt bằng chính khả năng của ḿnh, chớ không nhờ vào một tha lực nào khác, không phải v́ một sự phó thác nào khác. Con người ấy sẽ mang lại cho thế giới này một chân lư giải thoát tối ưu nhất. Giáo pháp của Ngài không phải do một đấng chí tôn nào trao truyền lại, cũng không phải do Ngài sáng tạo ra; giáo pháp ấy là chân lư tuyệt đối hằng hữu, mà chính  Ngài đă chứng đắc.

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/14/06