T̀M HIỂU VĂN HÓA

ĐỒNG NAI CỬU LONG

TS Nguyễn Thanh Liêm

 

ĐỊA DANH VÀ KHU VỰC ĐỒNG NAI CỬU LONG

 

Đồng Nai và Cửu Long là tên của hai hệ thống sông lớn ở Miền Nam nước Việt, hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long. Khi nói vùng Đồng Nai Cửu Long là người ta muốn nói đến tất cả các tỉnh nằm trong vùng đất bao quanh hai hệ thống sông lớn này. Đó là các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam phần, từ B́nh Thuận vào đến Cà Mau. Dưới thời vua Gia Long và phần đầu của thời vua Minh Mạng, cả vùng này được gọi là Trấn Gia Định mà Tả Quân Lê Văn Duyệt là người hai lần được bổ nhiệm làm Tổng Trấn ở đây. Năm 1932 sau khi Lê Văn Duyệt mất, Gia Định Trấn mới bị băi bỏ, Miền Nam được chia thành 6 tỉnh. Địa danh Nam Kỳ Lục Tỉnh có từ đó. Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp gọi vùng này là Cochinchine hay Nam Kỳ. Đây là vùng thuộc địa của Pháp, và lục tỉnh được chia làm 21 tỉnh với những chữ đầu ghép lại làm thành bài thơ như sau:

 

GIA, CHÂU, HÀ, RẠCH, TRÀ    (Gia Định, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh)

SA, BẾN, LONG, TÂN, SÓC    (Sa Đéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng)

THỦ, TÂY, BIÊN, MỸ, BÀ      (Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Ḥa, Mỹ Tho, Bà Rịa)

CHỢ, VĨNH, G̉, CẦN, BẠC, CẤP  (Chợ Lớn, Vĩnh Long, G̣ Công, Cần Thơ, Bạc

                                                        Liêu, Cap Saint Jacques)

 

Thời Việt Nam Cộng Ḥa, vùng này là Miền Nam Việt Nam và bao gồm các tỉnh Miền Đông (Tây Ninh, B́nh Long, Phước Long, B́nh Dương, Biên Ḥa, Long Khánh, B́nh Tuy, Phước Tuy, Gia Định), và các tỉnh Miền Tây Nam Phần (Châu Đốc, Kiến Phong, Kiến Tường, Hậu Nghĩa, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Định Tường, Long An, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh B́nh, Kiến Ḥa, G̣ Công, An Xuyên, Bạc Liêu, Ba Xuyên). Chính phủ hiện thời dùng chữ Nam Bộ thay v́ Nam Phần và cũng phân biệt Miền Đông (hay vùng Đồng Nai với các tỉnh Sông Bé, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An) và Miền Tây (hay đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Cửu Long, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Minh Hải). Trong bài này chúng tôi dùng chữ Miền Nam (Việt Nam) để chỉ vùng Đồng Nai Cửu Long.

 

CÔNG TR̀NH NGHIÊN CỨU VÙNG ĐỒNG NAI CỬU LONG

 

Nghiên cứu và viết về văn hóa xă hội vùng này từ trước tới giờ đă có nhiều người làm, khởi từ Trịnh Hoài Đức đến Sơn Nam, Nguyễn Đ́nh Đẩu, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Hầu, Huỳnh Minh, v v. . . và một số học giả Tây phương mà phần lớn là người Pháp. [Thật ra th́ các học giả Tây phương chú trọng vào cả vùng Đông Nam Á nhiều hơn là chỉ nhắm vào vùng Đồng Nai Cửu Long]. “Gia Định Thành Thông Chí” của Trịnh Hoài Đức chứa đựng nhiều sự việc và dữ kiện quư giá về Trấn Gia Định xưa. Sơn Nam với những quyển “Đồng Bằng Sông Cửu Long hay Văn Minh Miệt Vườn”, “Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam”, “Đ́nh Miếu và Lễ Hội Dân Gian Miền Nam”, và “Đất Gia Định Bến Nghé Xưa. . .” ghi lại nhiều nét đặc biệt về khu vực văn hóa miền Tây Nam Phần. Vương Hồng Sển lưu lại nhiều h́nh ảnh sống động của Sài G̣n Chợ Lớn hồi thuở nào qua các tác phẩm “Sài G̣n Tả Pín Lù” và “Sài G̣n Năm Xưa” của ông. Huỳnh Minh với một loạt các tác phẩm về các tỉnh xưa cho thấy sự sống của người dân miền Lục Tỉnh như thế nào. Nhưng nói chung, đó là những công tŕnh nghiên cứu cá nhân, lẻ tẻ. Gần đây hơn, khởi sự từ năm 1979, chánh quyền Việt Nam đă cho thiết lập một chương tŕnh nghiên cứu quy mô về vùng Đồng Nai Cửu Long. Năm 1981 một hội nghị về đồng bằng sông Cửu Long đă được tổ chức ở Sài G̣n. Kết quả của các công tŕnh nghiên cứu đă được tŕnh bày trong hội nghị này và được in thành sách năm 1982 với nhan đề “Một Số Vấn Đề Khoa Học Xă Hội Về Đồng Bằng Sông Cửu Long.”Tiếp theo đó, năm 1984 quyển “Mấy Đặc Điểm Văn Hóa Đồng Bằng Sông Cửu Long” được xuất bản ghi dấu công tŕnh nghiên cứu quy mô này. Mấy năm sau, nhân kỷ niệm 300 năm thành lập thành phố Sài G̣n, bộ sách 4 quyển “Địa Chí Văn Hóa Thành Phố Hồ Chí Minh.”(với trên 2,000 trang giấy khổ lớn) ra đời. Nhiều tài liệu, dữ kiện về khảo cổ, và lịch sử văn hóa xă hội có giá trị khoa học về vùng Đồng Nai Cửu Long có thể t́m thấy trong đó. Tuy nhiên v́ chủ trương của chính quyền là đặt nặng vấn đề tuyên truyền cho chủ nghĩa xă hội nên có một số những bài viết trong đó phải lấy chủ nghĩa xă hội làm triết lư căn bản, và phải hướng vào mục đích xây dựng chủ nghĩa xă hội hơn là nhằm mục đích khoa học nên phần giải thích các sự kiện cũng như phần kết luận các bài viết này thường thiếu vô tư và lúc nào cũng có những từ ngữ “xă hội chủ nghĩa”, “Đảng” và “Nhà nước” chen vào.

 

MỤC ĐÍCH VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU

 

Ở đây chúng tôi chỉ làm công việc t́m hiểu một cách khách quan, khoa học chớ không phải làm b́nh luận văn chương (literary essay), để bênh vực, hay biện minh cho một chủ thuyết nào. Chúng tôi sưu tầm, nghiên cứu để có những hiểu biết trung thực về các h́nh thức sinh hoạt của những người đến định cư ở vùng đất mới ở Nam Việt Nam quen gọi là đất Nam Kỳ Lục Tĩnh (hay Đồng Nai Củu Long). Những câu hỏi chính mà chúng tôi đặt ra ở đây để hướng dẫn công cuộc nghiên cứu này là: (1) Nam Kỳ Lục Tỉnh thành h́nh ra sao, vào lúc nào? (2) Những người Nam Kỳ Lục Tỉnh này là những ai, thuộc hạng người nào, và từ đâu đến? (3) Họ sinh sống thế nào nơi vùng đất mới này? (4) Họ mang theo với họ di sản văn hóa ǵ? Họ phải va chạm, thích nghi với những văn hóa khác đă có từ trước trên vùng đất này như thế nào? Và kết quả của những va chạm, pha trộn, thích nghi đó là những ǵ?

 

Công việc nghiên cứu ở đây đáng lư phải tựa trên cách thức thường dùng trong các khoa học xă hội, nhất là khoa văn hóa nhân loại học (social cultural anthropology), mà quan trọng nhất là quan sát tại chỗ (field work). Nhưng v́ vấn đề có tính cách lịch sử nhiều hơn và v́ hoàn cảnh không cho phép thực hiện ngay trên khu vực nghiên cứu thành ra chúng tôi chỉ có thể tựa trên những tài liệu và dữ kiện đă có hoặc sự ghi nhớ của những người từng sống ở vùng này. Mục đích của việc nghiên cứu này là nhằm t́m hiểu và giải thích sự việc nhiều hơn là dùng kết quả nghiên cứu để thiết lập đề án xây dựng hay cải tiến xă hội/văn hóa theo một đường hướng định trước nào. Đối tượng nghiên cứu là văn hóa xă hội vùng Đồng Nai Cửu Long, tức là những sinh hoạt của con người ở vùng đất này trong ṿng mấy thế kỷ nay, trong những lănh vực quan trọng như xă hội (bao gồm kinh tế), tín ngưởng, ngôn ngữ, nghệ thuật, v v. . .

 

Chúng tôi chủ trương rằng sự t́m hiểu văn hóa của mỗi địa phương (văn hóa khu vực) là một việc làm quan trọng v́ sự hiểu biết này rất cần cho những hiểu biết về văn hóa nhân loại nói chung hay văn hóa của một dân tộc nói riêng, và đồng thời sự t́m hiểu đó cũng rất cần thiết cho những nỗ lực bảo tồn và phát huy văn hóa của con người. Ngoài ra sự hiểu biết về các nền hay khu vực văn hóa khác nhau cũng có thể giúp người ta xóa đi hay tránh được những ư nghĩ tiền định (và các loại stereotype) về văn minh (civilization), những đánh giá sai lầm về các xă hội v́ khác biệt văn hóa, cũng như tránh được tinh thần chủng tộc độc tôn (ethnocentrism) hay kỳ thị (discrimination) chủng tộc hoặc bất cứ một tinh thần độc tôn hay kỳ thị nào khác như địa phương độc tôn, tôn giáo độc tôn, đảng phái độc tôn, kỳ thị địa phương, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị đảng phái, v.v. . .

 

Với mục đích và tinh thần khoa học đă nói, chúng tôi xin bắt đầu đi vào những chi tiết trả lời cho những câu hỏi vừa được đặt ra ở trên.

 

 

 

NAM KỲ LỤC TỈNH THÀNH H̀NH RA SAO VÀ VÀO LÚC NÀO?

 

            Khi Nguyễn Hoàng được cử vào cai quản Thuận Hóa (1558) th́ đất đai của nước Việt về phía Nam chỉ có đến Phú Yên. Từ đó đến B́nh Thuận c̣n là lănh thổ của Chiêm Thành hay Champa. Nhưng từ lúc xứ Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Nam) của Chúa Nguyễn bắt đầu thành h́nh th́ cũng là lúc Chiêm Thành khởi sự suy yếu dần. Xứ Đàng Trong càng lớn mạnh lên bao nhiêu th́ xứ Chiêm Thành càng yếu đi và càng nhỏ lại bấy nhiêu. Cho đến cuối thế kỷ thứ XVII th́ nước Chiêm Thành kể như không c̣n nữa và dân tộc Chăm trở thành người dân thiểu số trong cộng đồng người Việt. Biên giới phía Nam của nước Việt bấy giờ là vùng B́nh Thuận, và nước láng giềng về phía này của Việt Nam là nước Chân Lạp (tức Kampuchea hay Cao Miên) của người Khờ Me (tức người Miên như người trong Nam thường gọi). Vùng Đồng Nai Cửu Long lúc này thuộc về Chân Lạp.

 

Thật ra đất Đồng Nai Cửu Long chỉ có thuộc về Chân Lạp trên danh nghĩa thôi, trong thực tế người dân Khờ Me không có mặt nhiều trên phần đất này. Người dân Khờ Me chỉ sinh sống ở một vài nơi thưa thớt, rải rác trên vùng đất cao, hoang vu mênh mông ở vùng Hậu Giang của đồng bằng sông Cửu Long. Ở vùng Đồng Nai th́ có các bộ lạc người Mạ và người Xtiêng sinh sống, cũng rải rác, cũng thưa thớt trong vùng đất mênh mông hoang vu vậy. Triều đ́nh Chân Lạp chưa có thiết lập các cơ quan hành chánh cai trị hay những đồn binh quân sự trấn đống để bảo vệ đất đai và dân chúng của họ trên vùng đất này. Chợ búa, thành thị cũng không có ǵ cả. Theo Huỳnh Văn Lang th́: “Cuối thế kỷ 17, các nhà truyền giáo và thương nhân Bồ-đào-nha ước lượng nước Chân-lạp lúc đó với một diện tích bằng Kampuchea, Nam-phần và phần Hạ-Lào hiện giờ mà chỉ có một dân số chưa đến 700 ngàn, đang khi đó th́ địa phận Đàng-trong , tức là thuộc địa của chúa Nguyễn, diện tích chỉ bằngỬ Chân-lạp mà dân số đă trên 100 vạn hay là 1,000,000 người. Gần 250 năm sau, tức là năm 1836-37 khi vua Minh-mạng cho lệnh tổng kê dân đinh nước Chân-lạp, vừa bị sáp nhập vào địa đồ hay lănh thổ V.N. thành Trấn-Tây, th́ chỉ có 970,516 người, đang khi đó th́ ruộng đất lên đến 4,036,892 mẫu. (Tài liệu: Minh-mạng chính yếu)” (Chuyện đường rừng, tr. 21-22). Đối với người dân Việt, những đất đai mênh mông hoang vu ở đây là đất vô chủ, không ai để ư tới, không ai ḍm ngó, kiểm soát. Vả lại ranh giới giữa hai nước (Việt – Chân Lạp) không có ǵ rơ ràng, ranh giới giữa các sắc tộc sinh sống rải rác trên vùng đất này (xem như vùng trái độn) lại càng mơ hồ, co giản, biến thiên hơn. (Xem bài “Les données historiques de la limite territoriale au tracé frontalier” của Michel Blanchard trong Ḍng Việt số 17, tr. 109-137). Trong t́nh huống đó, và với bản năng sinh tồn mạnh mẽ, với máu mạo hiểm, nông nẩy làm việc để sinh sống, người Việt không ngần ngại ǵ mà không vào vùng đất hoang vu mới mẻ này để phá rừng, dọn đất, trồng trọt, mưu sinh, lập nghiệp. Mô Xoài là nơi mà người Việt đă đến khai phá, định cư sớm nhất. Mô Xoài tức là Bà Rịa bây giờ. Các sách Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam Nhất Thống Chí triều Nguyễn cho rằng xứ Mô Xoài là vùng địa đầu của Biên Trấn, tức là vùng người lưu dân Việt đầu tiên đặt chân vào để khai phá mở mang Miền Nam nước Việt.

 

Đây chỉ là những bước đầu lẻ tẻ, chập chững của những người đi tiên phong trong công cuộc mạo hiểm vào vùng đất mới lạ. Phải đợi một cơ hội thuận tiện nào đó để việc mở rộng về phương Nam trở thành phong trào mạnh mẻ, có tính cách quy mô hơn. Cơ hội đó là sự cầu thân của vua Chân Lạp Chey Chetta II với Chúa Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 1620. Sử Khờ Me ghi là sau khi lên ngôi vua Chey Chetta II cho xây cung điện nguy nga tại Oudong rồi cử hành lễ cưới long trọng với một nàng công chúa xinh đẹp của Việt Nam. Hoàng hậu Sam Đát (tức công chúa Ngọc Vạn) có đem nhiều đồng hương sang Chân Lạp. Có người làm quan trong triều, có người làm thủ công, có người buôn bán, vận chuyển hàng hóa. Theo hồi kư của giáo sĩ Chistofo Borri, một người Ư đă sống gần Qui Nhơn từ 1618 đến 1622, th́ chúa Nguyễn đă viện trợ cho vua Chân Lạp cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại quân Xiêm. Borri cũng tả rơ phái đoàn quan quân Việt Nam đưa công chúa Ngọc Vạn về Oudong như sau:” Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bày trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh Oudong, th́ dân chúng Khờ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa đă tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh.”

 

Về phương diện xă hội, việc công chúa Ngọc Vạn theo chồng về Miên có thể được xem như là một sự mở đầu cho những bành trướng lănh thổ quy mô về phương Nam của dân tộc Việt. Theo chân Ngọc Vạn công chúa lưu dân người Việt càng ngày càng vào Nam lập nghiệp nhiều hơn. Với chính sách khuyến khích khéo léo của chính quyền, làn sóng vào Nam càng lúc càng bành trướng mạnh mẽ. Về phương diện chính trị ngoại giao, cuộc hôn nhân của công chúa Ngọc Vạn với vua Chey Chetta II là bước mở đầu cho mối liên hệ ngoại giao giữa hai dân tộc Việt-Khờ Me, một mở đầu hết sức quan trọng đối với triều Nguyễn và người dân Đàng Trong. Từ đây trở đi trước mắt người Đàng Trong mở ra một vùng đất mênh mông hoang vu để khai khẩn để biến thành kho lương thực và tài sản vô tận cho người dân và quốc gia. Cũng từ đây triều Nguyễn luôn luôn sẵn sàng để hoặc giúp đỡ/viện trợ, hoặc can thiệp vào nội t́nh Chân Lạp với những kết quả vô cùng thuận lợi cho người Việt. Cứ mỗi lần quân chúa Nguyễn tiến lên xứ Miên làm một công ơn ǵ đó đối với Chân Lạp là mỗi lần triều đ́nh Chúa Nguyễn được đền đáp bằng một số đất đai để hợp thức hóa những nơi lưu dân người Việt đă từng vào khai phá. Những sự kiện lịch sử sau đây đánh dấu những bước tiến trong quá tŕnh hoàn thành vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh theo lối “dân đi trước chính quyền đến sau”:

 

Những giai đoạn Nam tiến kể từ năm 939

 

•           Hai năm sau khi Ngọc Vạn trở thành hoàng hậu Chân Lạp, năm 1623, chúa Nguyễn sai phái bộ tới Oudong yêu cầu vua Chey Chetta II cho chúa Nguyễn lập hai đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài G̣n) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Chân Lạp. Từ khi có các đồn thu thuế của chúa Nguyễn, vùng này đă trở nên vùng thị tứ trên bến dưới thuyền rất là sầm uất.

•           Năm 1658 triều đ́nh Chân Lạp có nội biến, thái hậu Ngọc Vạn đă khẩn cầu Chúa Nguyễn là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần giúp quân đánh dẹp Nặc Ông Chân dành lại ngôi báu cho ḍng họ Prea Outey. Chúa Hiền, cháu kêu thái hậu Ngọc Vạn bằng cô ruột, cho quan Khâm Mạng Trấn Biên dinh Phú Yên là Tôn Thất Yến đem 3,000 quân qua giúp bắt được Nặc Ông Chân giải về Quảng B́nh. “Người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đ́nh đem nhượng hết cả đất ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh trở chuyện ǵ.” (Gia Định Thông Chí, trung, tr.7). Đất ấy đây là vùng Mô Xoài, chính thức thuộc lănh thổ Việt Nam từ đó.

•           Sang năm 1674 Nặc Ông Đài lại liên kết với Xiêm La chống Đại Việt. Chúa Nguyễn là Hiền Vương cử cai cơ Nguyễn Dương Lâm đem quân đánh chiếm Sài G̣n và tiến lên Nam Vang. Chúa Nguyễn làm chủ t́nh thế cả vùng Đồng Nai.

•           Năm 1679 trấn thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch cùng với phó tổng binh Hoàng Tiến, và tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm là Trần Thượng Xuyên cùng phó tổng binh Trần An B́nh đem 3000 quân Trung Hoa (nhà Minh) với 50 chiến thuyền trốn quân Thanh chạy sang Việt Nam xin làm thần dân của Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần dung nạp họ và cho người hướng dẫn họ đến vùng đất mới trong Nam để định cư sinh sống. Nơi đây đă có một số người lưu dân Việt khai phá. Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên vào Biên Ḥa khai khẩn đất đai, thiết lập phố xá bán buôn., phát triển nông nghiệp và thương nghiệp cùng với người lưu dân Việt ở hai nơi này. Cùng lúc đó ở Cà Mau, một cựu thần khác của nhà Minh là Mạc Cửu cũng trốn quân Thanh sang đây khai khẩn lập nghiệp.

•           Năm 1698 Minh Vương Nguyễn Phúc Chu cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp. Năm 1699, Nguyễn Hữu Cảnh đem binh lên tận Nam Vang để can thiệp và trở về vào khoảng tháng Tư năm sau. Trên đường về ông cho quân sĩ theo ḍng Tiền Giang, trú đóng tại Cái Sao (vùng chợ Thủ của Long Xuyên). Một số quân sĩ bị phát bịnh dịch và chính ông cũng bị nhiễm bịnh và mất hai ngày sau khi quân ông rút khỏi vùng này. Một số binh sĩ hoặc bị bịnh hoặc t́nh nguyện ở lại vùng Cái Sao khai khẩn đất đai sinh sống trước khi vùng này được vua Cao Miên nhường cho Chúa Nguyễn. Họ được gọi là người dân Hai Huyện, trực thuộc phủ Gia Định từ xưa. (Xem Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam của Sơn Nam, tr. 23).

•           Năm 1705, Nguyễn Cửu Vân hành quân sang Cao Miên đánh quân Xiêm, trên đường về trú quân ở Vũng Gù (nay là Tân An), khai khẩn đất hoang, cho lập đồn binh và cho đào kinh cho rạch Vũng Gù ăn thông sang rạch Mỹ Tho, nối liền sông Vàm Cỏ Tây qua Tiền Giang.

•           Năm 1708 Mạc Cửu dâng cả vùng mới khai khẩn ở Cà Mau xin hàng phục Chúa Nguyễn. Vùng này gồm các ấp vừa lập từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá đến Cà Mau. Hà Tiên trở thành một thương cảng quan trọng trong vùng. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu làm tổng binh, giữ đất Hà Tiên.

•           Năm 1732 lưu dân người Việt bị quân Miên tấn công. Chúa Nguyễn là Ninh Vương cử Trương Phúc Vĩnh đem quân vào dẹp yên. Vua Chân Lạp là Nặc Tha nhường Me Sa (Mỹ Tho) và Long Hồ cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lấy đất Long Hồ lập thành châu Định Viễn (Vĩnh Long) và đặt dinh Long Hồ.

•           Năm 1753 Nguyễn Cư Trinh đem quân sang đánh Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thua trận bèn dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (G̣ Công và Tân An) để cầu ḥa. Bốn năm sau Nặc Nguyên mất, Chân Lạp có nội biến. Chúa Nguyễn cử Mạc Thiên Tứ đưa em họ của Nặc Nguyên là Nặc Tôn lên ngôi. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (gồm An Giang và một phần Vĩnh Long) để tạ ơn Chúa Nguyễn và năm phủ ở vùng Hà Tiên cho Mạc Thiên Tứ. Năm phủ này được sát nhập vào trấn Hà Tiên.

 

Đến đây kể như vùng Đồng Nai Cửu Long đă trọn vẹn thuộc về Việt Nam, và thuộc về Đàng Trong của Chúa Nguyễn. Từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII người Việt Nam mất 150 năm để tiến vào và mở mang vùng đất hoang vu mới mẻ này.

 

Đồng Nai – Cửu Long thời Phủ Gia Định

 

Ai là những người có công trong việc h́nh thành và xây dựng nên kho lúa và những tài nguyên to tát này cho người dân Việt?

 

NGƯỜI DÂN ĐỒNG NAI CỬU LONG BUỔI BAN ĐẦU LÀ NHỮNG AI? HỌ TỪ ĐÂU ĐẾN?

 

Trước khi người Việt đến vùng Đồng Nai khai khẩn th́ nơi đây c̣n là cả một vùng “toàn rừng rậm mấy ngh́n dặm” theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn. Vùng rừng rậm hoang vu này là vùng cư trú của nhiều nhóm dân tộc thiểu số mà người Việt gọi chung là người “Man” theo tiếng Hán Việt hay nôm na là người “Mọi.” Đó là các dân tộc thiểu số người Mạ, người Xtiêng, người Mnông, Người Cơho, người Churu, v v . . .Trong các nhóm này quan trọng hơn hết là người Mạ ở vùng Mô Xoài Bà Rịa, người Xtiêng ở vùng Biên Ḥa, B́nh Dương và người Khờ Me ở Tây Ninh. Dân tộc Mạ hay Châu Mạ (Châu theo tiếng Mạ có nghĩa là người) nói tiếng nói thuộc nhóm Môn – Khờ Me. Địa bàn sinh sống của Châu Mạ ngày xưa là cả vùng Đồng Nai xuống đến Mỹ Tho (theo B́nh Nguyên Lộc). ‘Tuy phải triều cống Cao Miên, Mạ vẫn là một tiểu quốc tự do. Tiểu vương Chê Mạ cai trị khắp vùng Tây Nam trên lưu vực sông La Ngà và, về mạn Bắc, trên cao nguyên Di Linh và Lâm Đồng nay.” (B. Bourotte. Essai d’histoire des populations montagnardes du Sud – Indochinois jusqu’à 1945. BSEI, Saigon, 1955, tr. 31). Dân tộc Mạ mà người Việt thường gọi là Mọi Bà Rịa, thạo nghề dệt vải có hoa văn đẹp, ở nhà sàn dài, có tục cà răng và xâu lỗ tai lớn. Họ rất hiền ḥa, thường bị người Xtiêng và người Miên bắt đem bán làm nô lệ ở các nơi. Tệ nạn này chấm dứt khi người Việt đến cai trị, nhưng lúc đầu v́ c̣n cần nhiều nhân công nên nạn măi nô (thật ra là người làm, đầy tớ hơn là nô lệ) c̣n tồn tại một thời gian như đă ghi trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn:

“Từ các cửa biển như Cần Giờ, Soài Rạp . . . đi vào toàn là những đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn ngh́n dặm. . . Nhà Nguyễn cho dân được tự nhiên chiếm đất. . . Lại cho họ thâu nhận những người Mọi từ trên đầu nguồn xuống để mua làm đầy tớ, đứa ở, sai khiến, hầu hạ. . .” (Về chế độ măi nô này xin xem thêm bài của B́nh Nguyên Lộc trong Ḍng Việt, số 17, tr. 210-221). Dân tộc Mạ hiện có khoảng 20,000 người cư ngụ ở vùng cực Nam Tây Nguyên, phía Nam tỉnh Lâm Đồng, và một số ở Đắc Lắc.

Người Xtiêng cư trú trong vùng các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương, Biên Ḥa. Tiếng nói của họ có nhiều nét gần gũi với tiếng Mnông, Cơho, Mạ, nằm trong nhóm Môn - Khờ Me. Họ để tóc dài, búi đằng sau gáy, đeo bông tai bằng cây hay bằng ngà, xăm mặt, xăm ḿnh, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố. Địa chí Thủ Dầu Một ấn hành năm 1910 gọi dân tộc Xtiêng là Mọi hoang, Mọi Cà Răng, Mọi Việt hay Mọi Đồng Nai. Dân tộc Xtiêng hiện nay có khoảng 40,000 người quần tụ vùng biên giới Tây Nam, ở các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương, Đồng Nai.

Người Khờ Me (người Miên) có mặt rất ít ở vùng Tây Ninh. Họ rút đi về phía Tây của Tây Ninh, về vùng biên giới Miên Việt khi người Việt vào khai phá vùng Đồng Nai. Ở Hậu Giang, vùng Trà Vinh – Sóc Trăng có nhiều người Miên hơn ở Miền Đông Nam Phần. Những sóc người Miên này sống cách biệt với triều đ́nh Kampuchea. Khi người Việt vào khai khẩn vùng Hậu Giang th́ người Việt và người Miên cùng cộng cư, và sau này khi toàn cơi Nam Việt thuộc về Chúa Nguyễn th́ những người Miên này trở thành người dân thiểu số trong cộng đồng người Việt.

 

Vùng Đồng Nai, vùng cư trú của hai sắc dân Xtiêng và Mạ là vùng đệm giữa hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ XVII, đất đai vùng này quá rộng mà người th́ quá ít cho nên dân cư quá thưa thớt, và phần lớn đất đai là rừng rú hoang vu đầy muôn thú. Khi người Việt bắt đầu vào khai khẩn đất hoang vùng này th́ người Mạ, người Xtiêng và một ít người Khờ Me (ở phí Tây Tây Ninh) từ từ rút lui dần về vùng đất cao ở phí Bắc và phía Tây, nhường đất thấp ở phía Nam cho người lưu dân mới đến khai phá. Người Việt thành thạo hơn trong việc khai khẩn đất đai, trồng lúa nước ở đất thấp (gọi là thảo điền), trong khi người sắc tộc thiểu số th́ thành thạo trong việc săn bắn và làm rẫy trên các ruộng cao hay giồng (sơn điền). Đất rộng mênh mông hoang vu, và lại là đất thấp không mấy thích hợp với thổ dân, là hai điều kiện vô cùng thuận lợi cho người lưu dân Việt vào vùng Đồng Nai khai hoang sinh sống mà không gặp một sự chống đối nào.

 

Số ít người Việt đầu tiên vào đây khai phá không biết là ai, không biết họ bắt đầu vào làm công việc đó từ lúc nào, không có một ghi chép nào để lại tên họ gốc gác của những người đó. Theo các sách sử sau này th́ chắc chắn họ đă vào vùng Đồng Nai khai khẩn sinh sống rất sớm, ngay từ lúc Nguyễn Hoàng vừa vào trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Hoài Đức cho là từ đời các “tiên hoàng đế” tức là từ thời các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phước Nguyên. Theo Huỳnh Văn Lang th́ c̣n có thể trước đó nữa: “Không phải đợi đến năm 1620 hay 21 người Việt mới vào khai hoang lập ấp ở vùng Mỗi-xuy Bà Rịa. Họ đă tự động đi ṿng bờ biển Chiêm Thành vào đó khai hoang lập ấp có thể trước đó ba bốn thập niên.” (HVL, Công Chúa Sứ Giả, tr.243) .

 

Những người đầu tiên vào đây là những người tự nguyện chứ không phải là những người được chính quyền đưa đến hay bị lưu đày. Lúc này chính quyền chưa chính thức áp dụng biện pháp di dân vào Nam được. Lưu dân lúc này có thể là những người nghèo khổ, những kẻ bị áp bức, những người chạy trốn chiến tranh loạn lạc, những người không sống được trong xă hội đương thời, phải mạo hiểm t́m đường sinh sống ở vùng đất mới. Họ có thể đến từ Miền Bắc hay Miền Trung. Nhưng phần đông chắc là người Miền Trung, người Đàng Trong nhiều hơn, nhất là những người vùng Thuận Quảng. Sau đợt t́nh nguyện đầu tiên, nhất là sau sự kiện Ngọc Vạn công chúa, chúa Nguyễn bắt đầu áp dụng chính sách đưa dân quân vào Nam mỗi ngày một triệt để hơn. Trong quyển “Việt Nam, hành tŕnh một dân tộc” Philippe Papin nhận xét:

“Cuộc tranh chấp giữa hai phủ chúa thù nghịch đóng kín ranh giới, cho nên cuộc “Nam tiến” trở thành một hiện tượng của riêng lănh địa nhà Nguyễn ; nước Việt Nam “mới” c̣n đi xa hơn nữa, nhưng từ nay là người miền Trung sẽ tiến vào miền Nam bao la của nước Việt, bắt đầu được khai thác đúng vào lúc nước Việt đứt đoạn. . . .Mong muốn kiểm soát một không gian ngày càng rộng lớn, các chúa Nguyễn bèn áp dụng một chính sách cư dân triệt để: các viên chức được lệnh tập hợp tất cả những người vô gia cư, tất cả những ai không có tên trong sổ bộ làng xă, đưa vào các tỉnh miền Nam mới chiếm được của Kampuchea. . .”(Nguyễn Khánh Long dịch, đăng trong Ḍng Việt, số 17, tr. 76-77). Giáo sư Nguyễn Đăng Thục ghi lại lời của Jules Sion trong “L’Asie des Moussons” về cuộc bành trướng của dân Việt về phương Nam như sau:

“Cuộc bành trướng của dân Việt là một sự đồng hóa thật sự. Tính chất đó giải thích v́ sao người Việt bành trướng chậm nhưng rất chắc chắn. Cao Miên và Lào quốc đánh nhau chỉ đem quân cướp lấy tù binh đem về làm nô lệ, lại có một giai cấp quí tộc thống trị cho nên có cướp được đất cũng để mất ngay.

Mục đích của người Việt lại khác. Họ không cần bắt nô lệ, họ làm lấy. Đối với họ thắng trận không phải là để có người làm, mà là để có đất cày.

Nhiều khi chiến tranh chỉ là để xác nhận một t́nh thế đă rồi. Dân Việt bành trướng một cách ôn ḥa, sinh cơ lập nghiệp rồi sau binh lính mới tới. Trước khi Việt Nam sáp nhập đất Nam kỳ về ḿnh, người Việt đă lập ở đây những tổ chức, những đám di dân đă xây dựng làng xóm hay là tới ở chung với người Mên, rồi lần lần nắm quyền chính.

Cuộc bành trướng thực hành bằng cách đưa đến những đám người liên tiếp, đủ các hạng: dân cày không có ruộng, tù tội, kẻ chống đối chế độ hay là quân cướp muốn chuộc tội. Cũng có khi chính phủ thu thập những người đó rồi đưa xuống những miền mới chiếm lănh, hay là lập đồn điền nơi biên thùy để pḥng bị lân bang tới đánh. Những người ấy có quan lại cai trị và họ lập thành làng mạc.” (Ḍng Việt, số 17, tr.68-69).

[Michel Blanchard trong bài “Les données historiques: De la limite territoriale au tracé frontalier” viết:

“Le delta du Mekong fut colonisé progressivement par les Vietnamiens, qui avancèrent peu à peu dans ces espaces peu peuplés, appliquant déjà la fameuse théorie de la “peau de léopard”. Les colons vietnamiens, encouragés par le pouvoir central et notamment la dynastie des seigneurs Nguyễn établie à Huế à partir de la duxième decennie du 17è siècle, occupaient les espaces vides entre les comptoirs khmers, souvent tenus par les Chinois d’origine. Une partie des territoires fut également obtenue par la guerre, comme dédommagement après chaque victoire sur le Siam, le grand ennemy et concurrent.

La colonisation encouragée par Huế portait notamment sur le déplacement des “individus ne jouant aucun rôle social”, le petit peuple sans emploi. Le but avoué est de mettre en valeur le sol, résister à l’ennemi, et assimiler ou refouler les autochtones. (Ḍng Việt, số 17, tr. 109-110).]

 

Ngoài những người dân Việt từ vùng Thuận Quảng đến c̣n có người Trung Hoa vùng Quảng Đông – Quảng Tây, trốn chạy nhà Thanh, sang đây định cư lập nghiệp. Thành phần cư dân này rất quan trọng v́ họ giúp phát triển mạnh về thương mại và công nghiệp, nhất là thương mại.

 

Trong số quân binh nhà Nguyễn đi chinh chiến ở Miền Nam hay trên Cao Miên cũng có nhiều người t́nh nguyện hay được chính quyền cho ở lại định cư, làm ăn với dân chúng. [Dẫn lời bà Langlet, Michel Blanchard ghi:

“Pour la colonisation des terres du Sud, la cour de Hue utilisa notamment, selon Mme Langlet, les implantations des “colonies militaires”, qui passaient progressivement au stade civil, composés des soldats-paysans et des condamnés. Des facilités étaient accordés aux colons volontaires, notamment des exemptions d’impôts. La securité était établie par des postes militaires.” (Ḍng Việt, số 17, tr.114)]

 

Nói chung th́ phần đông người lưu dân là người Miền Trung thuộc đủ các thành phần xă hội cùng một số đáng kể người Trung Hoa. Họ là những người có công lớn lao trong việc bành trướng lănh thổ, mở mang bờ cơi Việt Nam về phương Nam, biến vùng rừng rú hoang vu đầy muôn thú thành vùng đất đai ph́ nhiêu màu mỡ nuôi sống và làm giàu cho cả nước.

 

ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG NAI CỬU LONG

 

a) Đời sống vật chất, xă hội, kinh tế

 

Phần đông người dân ở vùng Đồng Nai Cửu Long sống ở nông thôn, sống với ruộng nương hay vườn tượt. Họ sống giữa những biển lúa mênh mông, với đủ thứ loại từ “lúa ma” hay “lúa trời”, đến “lúa sạ” và “lúa nước”. Lúa ma hay lúa trời là loại lúa mọc tự nhiên không do người ta trồng, thường chỉ có ở vùng Đồng Tháp Mười. Lúa sạ là loại lúa lên cao theo mực nước, và không phải cấy, loại này chỉ có ở vùng nước nổi ở Châu Đốc, Long Xuyên. Lúa nước là lúa cần có cày cấy ở phần lớn các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Phần. Cũng có loại ruộng không phải cày gọi là ruộng chầm. Trong quyển “Trấn Tây Kư Lục”, Doăn Uẩn mô tả việc làm ruộng chầm ở miền Nam như sau: ”Việc làm ruộng lúa đơn giản, phát cho lau sậy ngă rạp, cào cỏ hai ba lần rồi cấy, không cần phí sức nhiều. Như đă cấy rồi th́ không cần phải trông nom tới, cũng khỏi lo thiếu nước.” (Sơn Nam trích dẫn trong Đồng Bằng Sông Cửu Long, tr.46). Nguyên cả chu kỳ làm ruộng là bắt đầu phát cỏ, cày, bừa, trục, gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ, gặt lúa, đập lúa, giê lúa, phơi lúa và đem vào bồ, hay lẫm (kho) để chứa. Chu kỳ để biến lúa thành gạo để nấu cơm ăn th́ bao gồm các công việc: xay lúa, quạt lúa, giả gạo, sàn gạo. Tất cả các hoạt động trên đây đều do những người nhà quê từ hạng trung nông trở xuống hạng làm công, làm mướn, đảm trách cùng với vợ con họ. Các công việc này đều phải dùng đến những dụng cụ đặc biệt tạo nên bởi một kỹ thuật c̣n thô sơ nhưng thực dụng, có cái đă có ở miền Bắc và miền Trung nhưng cũng có cái chỉ mới có ở miền Nam (vay mượn của người Chăm và Khờ Me). Phát cỏ th́ dùng phảng, cày th́ dùng lưỡi cày, bừa và trục th́ dùng máy bừa, máy trục. Đập lúa hay đạp lúa th́ có hai cách: đập là do người ta đập từng bó lúa vào một cái cộ có dừng bồ chung quanh kéo đi theo người đập, c̣n đạp lúa là cho trâu giẫm lên lúa để trước sân nhà hay ở ngoài ruộng. Xay lúa th́ có cối xay. Xay xong rồi phải quạt để tách rời trấu ra khỏi gạo. Có thể dùng chiếu để quạt trấu hoặc tốt hơn th́ dùng máy quạt gió (xa gió). Giă gạo th́ dùng cối chày tay hay cối chày đạp. Sàn gạo th́ dùng cái dừng sàn gạo để tách rời cám ra khỏi gạo. Những công việc trên đây bắt đầu mất dần khi có các nhà máy xay lúa dựng lên ở các nơi . Ở trong Nam người ta chỉ làm ruộng có một mùa, nhưng có thể có lúa sớm hoặc lúa muộn. Hết mùa lúa th́ phải t́m công việc làm khác làm ăn sinh sống. Các chủ điền thường chứa lúa trong bồ hay trong lẫm, chờ gần đến mùa mới bán ra cho có giá. Mua lúa thường là các chủ chành người Hoa. Lúa đong bằng giạ (40 lít), cho vào bao bố tời, hai hay ba giạ một bao. Ở những vùng đồng ruộng (gọi là miệt đồng) thường có những bờ đê trên đó người ta hay trồng cây trâm bầu. Gần nhà có người trồng cây sua đủa, hay cây g̣n, ngoài những cây dừa, cau hay chuối.

 

Những người làm vườn th́ có thể trồng các loại cây ăn trái hay dừa khô. Vườn thường phải ở gần sông rạch để có đất phù sa. Cây ăn trái th́ chỉ có huê lợi theo mùa, như vú sửa, dưa hấu, cam quưt th́ chỉ có vào mùa xuân, c̣n ḅn bon, lôm chôm, măng cụt, sầu riêng, xoài, mít th́ có trái vào mùa hè. Chỉ riêng vườn dừa khô th́ có trái quanh năm, nhưng có 6 tháng dừa mùa (nhiều trái), và 6 tháng dừa treo (ít trái), tháng nào cũng có thu huê lợi vào được. Muốn làm vườn dừa th́ phải mướn người lên líp, biến ruộng thành vườn. Người ta phải đào mương lấy đất đấp lên líp. Cứ mỗi cái mương th́ có một bờ vườn ở liền cạnh nhau. Khi mới lên líp, đất c̣n phèn, người ta phải bắt đầu trồng ḿ và chuối trước, trong khi đó người ta ươm dừa. Chờ cho đất rơ hết phèn và dừa bắt đầu lên cây th́ người ta mới trồng dừa và cau. Dừa th́ thường phải 5 năm mới có trái. Khi mới có trái th́ cây dừa c̣n thấp nhưng vài chục năm sau th́ cây dừa lên rất cao. Lâu hơn nữa th́ dừa lên thật cao và trở thành dừa lăo. Muốn leo lên dừa hay cau người nhà quê thường dùng cái “nài”. Ở những nơi có vườn dừa thật lớn và thật nhiều th́ người ta phải “giựt dừa”. Thường trong một vườn dừa có hai ba loại dừa cao thấp khác nhau cho nên người giựt dừa phải có nhiều cán hay sào giựt dừa với độ cao khác nhau, gọi là sào thấp – sào cao. Sào giựt dừa là một cây tre dài có gắn lưỡi liềm ở đằng đầu. Người giựt dừa dùng lưỡi liềm đó để cắt đứt cả quày dừa. Mỗi tháng giựt dừa một lần. Khi giựt dừa th́ phải có người lượm dừa, và gánh dừa. Nếu không gánh th́ phải lùa dừa theo các mương vườn hay các con rạch nhỏ để đem dừa về sân nhà. Dừa đây phần lớn hay hầu hết là “dừa ta” (trái to, không ngọt nước), không phải để ăn mà để bán làm dầu. Người ta chỉ trồng một ít “dừa xiêm” (trái nhỏ, nước ngọt) hay “dừa lửa” hoặc “dừa tân quang” ở chung quanh nhà để ăn thôi. Dừa giựt xuống là dừa khô, bán ra cho những người lái dừa, thường là khách trú. Dừa mua xong là người ta mướn người lột dừa. Người lột dừa thường dùng cây nầm lưỡi sắt, cậm sâu xuống đất, rồi lột từng trái dừa một trên cây nầm đó. Lột xong liệng vỏ dừa qua một bên và gáo dừa qua một bên. Lái mua dừa chỉ chở gáo dừa mà thôi. Có khi nhà vườn tự ḿnh cạy lấy ruột, phơi hơi khô rồi chở đi bán. Muốn bán cái dừa như vậy th́ sau khi lột dừa xong, người ta phải đập (hay bổ làm đôi) gáo dừa. Nước dừa có thể thắng làm nước màu, không th́ bỏ. Gáo dừa đập ra rồi đem phơi nắng. Khi nào cái dừa hơi khô th́ người ta cạy ra, lấy cái dừa phơi tiếp cho khô hơn chút nữa rồi đem bán. Miễng gáo, tức vỏ cứng hay c̣n gọi là muỗng vùa, th́ dùng để nhóm lửa lấy than đỏ.

 

Cá tôm càng về xưa càng nhiều. Trên ruộng, trong sông rạch, trong các mương vườn, các đ́a, các ao, ngoài biển, ở đâu cũng có cá, tép, tôm, cua, ốc, rùa, cua đinh, lươn, rắn. “Nhiều đ́a cá ở xa đường giao thông, cá nổi đầu lên như mù u chín rụng, nhưng chẳng ai khai thác, gặp năm cá sụt giá.” (Sơn Nam, Đồng Bằng Sông Cửu Long, tr. 47). Cá linh vào khoảng tháng 10 ta, hồi thập niên 1930 mỗi giạ chỉ có không đầy ba cắc bạc. Nói về cá linh, Nguyễn Hiến Lê ghi lại lời người dân Đồng Tháp Mười như sau:”Tại phía trong Hồng Ngự, nó lội đầy rạch, chỉ việc lấy thùng thiếc mà xúc. Hồi lúa rẻ, mỗi thùng chỉ bán có một cắc. Ăn không hết, làm nước mắm và mắm cũng không hết, có khi, người ta phải đổ đi, hoặc dùng làm phân bón thuốc (thuốc lá).” (Nguyễn Hiến Lê, Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, tr.78). Người nhà quê Nam Việt không thiếu đồ ăn. Họ có nhiều cách bắt tôm cá. Câu, chỉa, nôm, xúc, đăng, đó, đặt ṇ, đặt gió, chài, lưới, vở chà, tát mươn, tát đ́a, bắt cảng, bắt hôi, v v . . . Chặn mương, đắp đ́a, bỏ chà ở bờ sông lớn, bỏ ốc ở băi bùn bên cồn là những h́nh thức nuôi cá, tôm, ốc mà không phải cho ăn. Mấm, nước mấm, khô được sản xuất rất nhiều. Ai cũng biết mấm lóc, mấm sặc, mấm trèn, mấm cá linh, mấm thái, mấm c̣ng, mấm tôm. . ., cũng như khô lóc, khô sặc, khô tra, khô cá gộc, khô cá thiều. . . Nhà nào cũng có nuôi gà vịt, một số ít có nuôi heo. Gà vịt nuôi để ăn nhiều hơn là để bán. Ở làng quê thỉnh thoảng có chú “chệch ” đi qua thổi c̣i quảng cáo “thiến heo”. Nhà nào nuôi heo nái để sanh heo con th́ phải đi rước “heo nọc” ở một nơi chuyên cho mướn heo nọc. Heo lớn lên th́ bán cho một người làm thịt heo trong làng. Anh này thường làm heo, ra thịt, gánh đi bán trong xóm, trong thôn ấp. Hoặc bán cho các lái heo người Hoa.

 

Ngoại trừ các đại điền chủ hay điền chủ, c̣n hầu hết đều phải làm lụng vất vả mới có miếng ăn. Có thể gọi là cực khổ nhưng dù sao th́ sự cực khổ ở đây cũng không tệ hại như cuộc sống của những người nghèo khổ ở Miền Trung hay Miền Bắc. Nhất là ở đây không chết đói bao giờ. “Nghèo tới mấy, suốt năm, họ cũng được ăn cơm với cá hoặc mắm, chứ không phải ăn khoai, ăn ngô (bắp) như ngoài Bắc”. (Nguyễn Hiến Lê, Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, tr.33). “Chủ điền trong này là những ông vua nhỏ! Chánh Tham Biện vào nhà họ, thấy những thứ rượu của họ, mà thèm! Họ mua từng thùng để đăi khách quư. Cha kiếm dễ, th́ con phải phá: trước hồi kinh tế khủng hoảng, các công tử Bạc Liêu (miền này hồi đó, mới phát, lúa chất cao như núi, tiền nhiều như ốc). Muốn khoe giàu với gái điếm, lấy giấy xăng (trăm) quấn thuốc hút chơi! Quả thật là họ đă liệng tiền qua cửa sổ.” ( Nguyễn Hiến Lê, sđd., tr. 91). Đó là trường hợp hiếm có của những đại điền chủ c̣n phần đông người dân quê th́ như Sơn Nam diễn tả sau đây: “Đời sống thường nhật thuở ấy chắc hơi giống những nét mà ông Việt Cúc mô tả lại. . .”Hằng ngày sáng ra lót ḷng cơm với muối mè, hoặc cháo, trưa và chiều hai bữa cơm đạm bạc cá mắm canh rau, quần bô áo vải, no bụng ấm thân th́ thôi. Người được mạnh khỏe, ít hay ốm đau. Xóm thưa, dân số ít, hai ba năm mới nghe cái đám ma. . . Nhà cửa phần nhiều là nhà nghèo, cất bằng cây đốn nơi rừng, lợp tranh lá. Thật là bực đại phú mới làm nhà bằng cây điều mộc, nền xây đá ong, vách ván, lợp ngói âm dương. Hai ba xóm mới thấy bóng một nhà ngói đỏ lói, thiên hạ ghé mắt trầm trồ khen. . . .””(Đồng Bằng Sông Cửu Long hay Văn Minh Miệt Vườn, tr. 57-58).

 

Miền Tây Nam Phần là vùng văn minh sông rạch. Đường sông, đường biển là mạch máu của người dân. Phương tiện di chuyển, giao thông quan trọng nhất là ghe, xuồng. Xuồng ba lá, ghe tam bản, ghe lườn, một số các nhà trong làng đều có sắm. Làng xóm mọc lên từng cụm dọc theo bờ sông, con kinh, con rạch. Làng này qua làng kia nối tiếp nhau, không có một hàng rào ngăn cách nào. Ranh giới giữa hai làng chỉ có người địa phương quen thuộc mới phân biệt được. Đường đi trong làng thường phải qua rất nhiều những cây cầu, nhất là ở Miệt Vườn. Cầu dừa, cầu cau, cầu tre bắt qua các mương vườn, cầu đúc, cầu ván, cầu khỉ bắt qua các con rạch lớn hơn. Mỗi làng thường có cái chợ nằm bên bờ sông, mỗi ngày đều có nhóm để người trong làng tới bán buôn mua sắm. Chợ thường nằm bên con rạch và mang tên con rạch đó, như chợ Rạch Gầm, chợ Rạch Đ́nh, hoặc lấy tên làng như chợ Vĩnh Kim, chợ ông Văn. Ở mỗi quận có chợ quận như chợ Cái Bè, chợ Gạo, chợ B́nh Đại, chợ Sóc Sải, v v . . . Ở những nơi ghe thương hồ thường dừng lại nghỉ đêm, ở những chỗ gọi là vàm (như Vàm Kỳ Hôn, Vàm Cống), thường có những chiếc xuồng bán đồ ăn (chè, cháo, bánh ú, bánh ít, bánh tét, bánh dừa, khoai lang, xôi, bắp, v v . . . của các cô gái bán vàm.

 

Nghề thủ công ở Miền Nam gồm một số những nghề truyền thống đem từ Miền Bắc và Miền Trung vào và một số những nghề mới. Nói chung nghề thủ công ở đây mang sắc thái văn hóa đặc trưng, h́nh thành và phát triển theo điều kiện địa lư và môi trường sinh sống, và từ thế kỷ 19 trở đi đă bước vào con đường kinh tế sản xuất với những xóm nghề hay làng nghề hay có khi cả khu vực như nghề trầu rang và cau khô, nghề làm trống, nghề đóng xe ḅ, nghề đóng ghe thuyền, nghề làm tàu hủ ky, nghề nắn nồi đất, nghề làm cần xé, v v. . . Trong “Niên Giám Đông Dương” phát hành năm 1910, có ghi t́nh trạng nghề thủ công ở Nam Việt như sau” Người bản xứ chế tác một số ít kim hoàn, các vật dụng đan bằng tre (thúng, mủng. . .), chiếu và các loại túi bàng. Người Hoa h́nh như độc chiếm các nghề sành sứ và gạch ngói. . . Họ quản lư hầu hết các ḷ nung vôi, các xưởng nấu rượu và xưởng cưa.”

 

Thương măi phát triển mạnh, phần lớn là do người Hoa nắm. Thương cảng Sài G̣n đă trù phú, phồn thịnh từ thời Gia Long, và càng ngày càng phát triển mạnh thêm. Năm 1822 một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu có đến yết kiến Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia Định . Trong dịp này Crawfurd thú nhận: “Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài G̣n) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua ǵ kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó c̣n sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lư hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đă đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lư tưởng.” Sau đó ông c̣n ghi lại trong quyển nhật kư của ông về những sinh hoạt của thành phố Sài G̣n lúc đó và tiếng tăm của Ngài Tổng trấn như sau:

“Thành phố Saigun không xa biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành phố Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun độ 3 dặm. Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành tŕ nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đă trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố t́nh không chịu quy phục triều đ́nh. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ Tổng trấn biết được cũng bị phạt rất nặng.

Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nh́n dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị Tổng trấn của họ.

Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nh́n cởi mở hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu kinh sử của Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng biển Đông.”

Dưới thời Pháp thuộc, Sài G̣n và nhiều thành phố khác như Cà Mau, Cần Thơ, Mỹ Tho v v . . .ở Nam Kỳ được phát triển thêm với nếp sống văn minh mới. Lớp người theo tân học ở thị thành càng ngày càng đông. Tỷ lệ người dân thành thị tăng thêm nhiều. Những hạng người mới trong xă hội thành h́nh, nhất là những công tư chức. Những lớp người này có đời sống tân tiến, gần với văn minh Tây phương hơn người nhà quê. Tuy có những đổi mới ở thành thị nhưng những đổi mới này không làm thay đổi nếp sống của người dân quê nơi ruộng vườn.

 

 

b) Đời sống tâm linh: Tư tưởng, Tín Ngưỡng, Tôn giáo.

 

Bao phủ bởi rừng rậm hoang vu với nhiều thú dữ, với sơn lam chướng khí, đe dọa bởi những hiểm nguy không lường trước được, người lưu dân trong cuộc mạo hiểm vào phương Nam lúc nào cũng sống trong sự kính nể, lo sợ, nhưng cũng mong mỏi được che chở bởi một thế lực siêu linh huyền bí. Họ phải tin, phải thờ cúng, nguyện cầu nhiều bậc thần linh mà họ nghĩ ra được hay t́m ra được trong tâm tư họ. Gần gũi với họ nhất là ông bà tổ tiên, những vong linh của những người thân trong gia đ́nh. Thờ ông bà, tổ tiên là truyền thống tín ngưỡng/tôn giáo quan trọng của họ. Đi đến đâu họ cũng mang theo truyền thống tốt đẹp đó. Phần đông đều tin rằng vong hồn của người đă khuất vẫn c̣n sống ở một thế giới siêu linh nào đó, và ông bà tổ tiên vẫn linh hiển theo dơi cuộc sống của con cháu, giúp đỡ hộ tŕ cho con cháu. Người ta cúng ông bà để tỏ ḷng tôn kính, biết ơn, và cũng để nguyện cầu cho gia đ́nh, con cháu được b́nh yên, làm ăn phát đạt.

 

 Kế đó là các thần linh vốn là những người có thể là anh hùng có công khai phá, bảo vệ, phát triển nơi vùng đất người dân sinh sống. Các vị thần linh đó được thờ phượng trong các đ́nh, miễu ở trong làng xă, hay trong các lăng miếu chốn đô hội thị thành. Anh hùng hay phúc thần cho cả vùng th́ có Lăng Ông thờ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt ở Bà Chiểu, Gia Định. Gần như ở mỗi tỉnh đều có một vị anh hùng được dân chúng thờ phụng trong tỉnh của họ: Biên Ḥa có Nguyễn Hữu Cảnh, Long An có Nguyễn Huỳnh Đức, Rạch Giá có Nguyễn Trung Trực, An Giang có Thoại Ngọc Hầu, Mỹ Tho có Nguyễn Hữu Huân, G̣ Công có Trương Công Định, v v . . .Mỗi làng, mỗi xă thường có đ́nh làng để thờ thành hoàng. Nhiều nơi ở mỗi ấp cũng có một cái miễu thờ thần địa phương. Nghi thức cúng đ́nh rất được người dân và làng xă hay hương chức hội tề chú trọng rất nhiều. Làng nào cũng có ban tế tự bên cạnh ban hội tề. Tế tự th́ có từ các vị bồi, bái đến ông kế hiền, trong khi ban hội tề th́ gồm hương cả, hương chủ, hương thân, hương giáo, hương sư, hương trưởng, dến hương thôn, hương quản và chánh lục bộ. Khi cúng đ́nh th́ hương chức hội tề mỗi người phải cúng ít nhất là một mâm xôi. Cúng xong thường không dùng hết nên làng kiếng lại cho các viên chức hội tề. Ông cả được kiếng mâm xôi với phần thủ vĩ, ông chủ cũng với từng ấy xôi nhưng được cái nộng heo, v v . . .Cúng đ́nh th́ phải có hát bội. Làng mướn một gánh hát bội hát trong ba đêm. Các hương chức như cả, chủ thay nhau cầm chầu. Dân làng đi coi thí, không phải tốn tiền ǵ cả.

 

Người lưu dân Việt khi vào Nam đă tiếp nhận và Việt hóa một số thần linh của các dân tộc khác như sự thờ cúng Bà Chúa Xứ, Bà Mă Châu, Bà Đen, v v . . .

Đồng bào Nam Việt hằng năm đi hành hương, cúng bái ở các miễu Bà Đen, Bà Chúa Xứ, Bà Mă Châu đông không biết bao nhiêu mà nói. Người th́ cầu tài, mong mua may bán đắt, người th́ mượn lộc, vay tiền của bà để làm ăn, người th́ cầu phúc, cầu cho gia đạo tai qua nạn khỏi, hết cơn đau bệnh, sống b́nh yên hạnh phúc, cũng có nhiều người cầu xin cho t́nh duyên tốt đẹp, suông sẻ, hạnh phúc. Sự tín ngưỡng của người dân miền Nam đối với các vị thần linh này, nhất là Bà Chúa Xứ, thật vô cùng mạnh mẻ. Người ta thấy gần như ở làng xă nào cũng có miễu Bà Chúa Xứ, và trong nhiều khuôn viên đ́nh, chùa cũng đều có miễu thờ vị nữ thần này bên cạnh miếu Ngũ Hành, miếu Thổ Địa.

           

Về tôn giáo, người dân miền Nam vẫn tin ở Phật Nho Lăo, nhưng tam giáo vào đây cũng biến thể khi được nhập vào tín ngưởng tôn giáo đặc biệt của địa phương như Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Ḥa Hảo.

 

c) Ngôn ngữ.

 

Tiếng Việt vùng Đồng Nai Cửu Long có những đặc nét đặc biệt của nó. Tuy cả ba miền đều sử dụng một thứ ngôn ngữ chung như nhau nhưng trên phần lớn ngữ vựng thông dụng cho cả ba miền c̣n có những tiếng địa phương đặc biệt chỉ xài cho một vùng hay một địa phương nào đó thôi. Có những danh từ để gọi những đồ dùng như cái “phảng”, cái “nóp”, hay những động từ chỉ định những hoạt động như “bắt hôi”, “mót” mà chỉ ở vùng Đồng Nai Cửu Long mới có. Có khi cùng một từ ngữ nhưng ư nghĩa lại khác nhau tùy theo miền. Cái ḥm đối với người miền Nam là cái hàng để tẩn liệm người chết trong khi người Bắc dùng chữ đó với ư nghĩa của cái rương đựng đồ dùng của người miền Nam. Củ sắn của người Bắc là củ khoai ḿ của người Nam. Những tiếng xưng hô trong gia đ́nh họ hàng cũng có chỗ khác biệt. Tiếng cô, chú, bác giữa người Nam và người Bắc rất khác nhau cũng như những tiếng d́ dượng th́ chỉ có người miền Nam và một số người miền Trung dùng đến. Khác biệt rơ ràng nhất là cách phát âm tiếng Việt của mỗi vùng, mỗi địa phương. Người miền Bắc phát âm đủ cả năm dấu, nhất là phân biệt được rơ ràng dấu hỏi và dấu ngă, phân biệt được phụ âm t và c ở cuối chữ (như phát và phác, phút và phúc...), nhưng lại không phân biệt được hai phụ âm tr và ch (trân châu và chân trâu chẳng hạn). Phần đông người miền Nam đều phân biệt các phụ âm tr và ch nhưng không phân biệt hỏi ngă và các phụ âm t và c ở cuối chữ. Đối với người b́nh dân miền Nam th́ người Huế phát âm các dấu sắc hỏi ngă đều như dấu nặng, và người Quảng Nam/Quảng Ngăi th́ phát âm những nguyên âm a như ơ và ơ như ô. Chỉ nói riêng về mặt phát âm, một số vần trong tiếng Việt Miền Nam đă có nhiều biến đổi so với âm chính của tiếng Đàng Trong, và Đàng Ngoài. Thí dụ: th́ biến thành thời, chu thành ra châu, quí thành ra quới, vũ thành ra vơ, v v . . .(Xem bài “Một Số Từ Biến Âm Trong Tiếng Việt Miền Nam” của Nguyễn Viết Sơn trong Tập San này). Năm 1954 khi có cuộc di cư ồ ạt của người Bắc vào Nam, th́ đa số người Nam ở miền quê không hiểu được tiếng nói của người Bắc, và các bà mẹ quê miền Nam thường gọi những người Bắc di cư là “người ngoại quốc” hay cho họ “không phải là người Việt”. Người ở thành thị th́ hiểu tiếng Bắc nhiều hơn, nhất là ở các học đường, khi các học sinh, sinh viên phải thường xuyên tiếp xúc với bạn bè và thầy cô người Bắc.

 

 

c) Nghệ thuật ca hát

 

Trương Vĩnh Kư ghi lại câu tục ngữ vào cuối thế kỷ 19 là “Nam lư, Bắc thơ, Huế ḥ” và ông giải thích rằng người trong Nam hát lư hay hơn, c̣n ca, phú thơ vịnh th́ phải nhường cho người ngoài Bắc, c̣n về ḥ th́ người Huế ở nơi kinh kỳ hay hơn cả. Theo nhận định trên đây của câu tục ngữ th́ lư có thể xem như một thể loại dân ca tiêu biểu của miền Nam. Lư là ǵ? Huỳnh Tịnh Của định nghĩa: “Lư hát: Là kể và hát, có mau có chậm”, và “Hát lư: Hát bắt nhịp, giọng cao, giọng thấp, lặp đi, lặp lại.” Nhiều bài lư nổi tiếng như Lư Con Sáo, Lư Ngựa Ô đă được phổ nhạc lại gần đây và rất được nhiều người ưa thích. Thật ra không phải người miền Nam không thích ḥ. Ngược lại điệu ḥ miền Nam rất được người dân ở đây ưa thích và sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày khi làm lụng ở ngoài đồng ruộng hay chèo ghe thuyền trên sông rạch.

           

Một h́nh thức diễn xướng ưa chuộng khác ở miền Nam là “nói”. Nói vè, nói thơ, nói truyện, nói tuồng. Đây là những h́nh thức diễn xướng khá quan trọng trong sinh hoạt nghệ thuật của người dân miền Nam. Vè của trẻ con như “Bắt Kim Thang”, “Tùm Nụm, Tùm Niệu”, “Chặt Cây Dừa”, “Tập Tầm Vông”, rất phổ biến trong đám trẻ nhà quê. Vè thổ sản như Vè Trái Cây, Vè Cá, Vè Chim Chóc, Vè Rắn U minh, vè lao động sản xuất như Vè Làm Ruộng, Vè Bán Quán, Vè Chăn Vịt, v v . . ., có hàng ngàn bài vè nói lên mọi khía cạnh sinh hoạt của người dân Nam (Xem Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng). Nói thơ Lục Vân Tiên là một phong trào đôc đáo ở miền Nam. Phần đông người miền Nam xưa kia đều thuộc nằm ḷng thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đ́nh Chiểu. Nói thơ Vân Tiên là cả một nghệ thuật, với âm điệu bổng trầm, tiết tấu khoan nhặt làm cho người nghe bị quyến rũ lôi cuốn theo. Nói tuồng là một h́nh thức giản đơn mở đầu cho hát bội và cải lương sau này.

 

Trong “Trấn Tây Kỷ Lược”, Doăn Uẩn viết” Từ chúa Hiểu Triết (1641-1678) đến chúa Vơ Vương (1739-1765), trong non một trăm năm ấy, mở mang bờ cơi. . . ruộng đất màu mỡ, lúa thóc đầy dẫy, cho đến cây gỗ, cá tôm đều vô khối. Cho nên dân dễ làm ăn. Làng xóm an vui vô sự. Duy tính nhân dân thích ca vũ lắm, không ngày nào không”. Ca vũ nói ở đây là hát bội. Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: “. . .Người gần thành thị chơi bời biếng nhác, như con gái ở Mỹ Tho th́ hay sửa soạn trang sức đi coi hát xướng. . .tật xấu chưa chừa” (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Phủ QVKDTVH xb, S, 1959, tập thượng, tr.103). Hát bội xưa kia rất phổ biến trong dân gian, người dân miền Nam rất mê hát bội:

            “Má ơi đừng đánh con đau,

            Để con hát bội làm đào má coi.”

 

Trong giáo tŕnh “Hát, lư, ḥ Annam” Trương Vĩnh Kư viết: “Hát bội cũng đáng vô việc lễ nhạc, cho nên nơi đ́nh miếu, chùa chiền đều có làm nhà vơ ca để khi khấn vái một chầu th́ kêu bầu gánh đem ban hát tới đó mà hát”. Hát bội cúng thần là một trong những nghi thức đă thành lệ với những lễ “xây chầu”, “tôn vương” thường thấy ở trong các buổi cúng đ́nh. Hát bội suy tàn dần khi người Pháp củng cố nền đô hộ ở Nam Kỳ để dần dần nhường chỗ cho sân khấu cải lương.

 

Cải lương trước hết là danh từ chỉ chung cho phong trào cải cách xă hội được nhiều thức giả cổ xúy ở Nam Kỳ vào đầu thế kỷ XX. Trên báo chí Nam Kỳ trong thời gian này có nhiều bài viết bàn về việc cải lương trên nhiều lănh vực. Nguyễn Chánh Sắt hô hào cải lương nông nghiệp; Hồ Biểu Chánh kêu gọi cải lương văn học và giáo dục; Nguyễn Từ Thức bàn về cải lương nếp sống của người phụ nữ. . . . Một số người theo tân học thấy hát bội có nhiều điểm không c̣n thích hợp với xă hội mới. Họ kêu gọi cải cách sân khấu hát bội bằng cách đưa lên sân khấu những tuồng tích mới, với nghệ thuật tŕnh diễn mới và đặc biệt là dùng cái “mùi” của bài ca vọng cổ trong nhiều đoạn của một vở tuồng. Đó là sân khấu mới, được mệnh danh là “cải lương” thành h́nh vào đầu thập niên 1920. Gánh hát đầu tiên có danh xưng “Đoàn Hát Cải Lương” là gánh hát Tân Thinh ra đời vào giữa năm 1920 tại Sài G̣n. Mục đích, tôn chỉ của gánh được ghi trong hai câu đối sau đây để trước cửa rạp:

 

“Cải cách hát ca theo tiến bộ,

Lương truyền tuồng tích sách văn minh.”

 

Bài ca vọng cổ, bài ca được ưa thích nhất trong tuồng hát cải lương, cũng được soạn vào khoảng thời gian này (1920) với cái tên hồi ban đầu là “dạ cổ hoài lang” mà tác giả là Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) ở Bạc Liêu. Bài hát được nhiều người mê thích và sau này được gọi là bài vọng cổ hoài lang hay bài vọng cổ. Hát cải lương và ca vọng cổ phát triển nhanh nhóng, thay thế dần cho hát bội, trước hết là ở thành thị. Ở thôn quê những gánh hát bội vẫn c̣n tồn tại và c̣n lưu diễn ở các đ́nh miễu và các chợ làng, nhưng cũng suy tàn nhanh chóng trước phong trào đờn ca tài tử lớn mạnh lên ở thôn quê với bài ca vọng cổ. Nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng xuất hiện như Tư Trang, Năm Châu cho đến Hà Triều Hoa Phượng. . . sau này. Người ta mê tiếng hát và sự diễn xuất của nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như Năm Phỉ, Phùng Há, cô Tư Sạn, cô Tư Bé, Ba Vân, Năm Châu, rồi Út Trà Oân, Thành Được, Thanh Nga, Phượng Liên, v v…. . . Bộ dĩa xưa San Hậu, Quan Âm Thị Kính , Lan và Điệp rất được người dân quê ưa chuộng. Đa số người miền Nam đều mê thích cải lương và nhất là bài ca vọng cổ. Giọng kể lể, giọng nói thơ, với những lời lẽ phổ thông nhưng nhiều gợi cảm, với điệu nhạc thê lương, ai oán, bổng trầm năo nuột làm tê tái ḷng người. Những đoạn nói lối lâm ly, lời lẽ b́nh thường, không cần nhiều trau chuốt rất dễ đi sâu vào tâm tư người dân miền Nam. Với bài ca vọng cổ, người dân ở đây có thể thưởng thức ngay, có thể mê say theo lời và giọng ca của người ca sĩ mà không phải đợi chờ suy nghĩ, không phải moi t́m trong kư ức xem điển tích đó nói ǵ, không bị vướng vấp bởi những khúc mắc, khó hiểu.

           

d) Văn học

 

Ở địa hạt văn chương th́ văn chương chữ Hán và chữ Nôm chỉ xuất hiện ở miền Nam một thời gian rất ngắn, và có thể xem như nghèo nàn so với văn chương chữ Hán và chữ Nôm ở miền Bắc, là miền ngàn năm văn vật. Nhưng ở địa hạt văn học mới, th́ văn chương chữ Quốc Ngữ đă bắt đầu ở trong Nam từ cuối thế kỷ 19 rồi, với những người mở đầu là Petrus Trương Vĩnh Kư và Paulus Huỳnh Tịnh Của. Báo chí theo kiểu báo chí Tây phương cũng xuất hiện ở đây trước trong khoảng thời gian này. Truyện Tàu dịch ra tiếng Việt và in bằng chữ Quốc Ngữ được phổ biến rộng răi hồi đầu thế kỷ 20. Tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc Ngữ theo kiểu Tây phương cũng bắt đầu xuất hiện sớm ở đây. Số người biết chữ Quốc Ngữ càng lúc càng đông, và báo chí và tiểu thuyết càng ngày càng có nhiều độc giả. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh rất được độc giả Nam Kỳ yêu chuộng. Cũng như cải lương bên sân khấu, tiểu thuyết bên văn chương cũng mang tính đặc biệt “đặc sệt” giọng miền Nam, và nhờ vậy đă đáp ứng đúng nhu cầu giải trí của người dân bản xứ.

 

Như đă thấy trên đây, văn hóa hay nếp sống của người dân vùng Đồng Nai Cửu Long có nhiều khác biệt so với nếp sống của người Việt ở miền Bắc, từ kinh tế, kỷ thuật, tín ngưỡng/tôn giáo, ngôn ngữ đến nghệ thuật. Điều đó cho thấy có sự biến đổi khá quan trọng trong văn hóa Việt Nam qua thời gian và nhất là qua không gian hay hoàn cảnh/môi trường sinh sống. “Bận chăn” hay vận xà rông, ngủ nóp, lội śnh, ăn cơm nguội với mấm sống và bần chua, bơi xuồng, chèo ghe tam bản hoặc ghe lườn, thờ ông bà và đi cúng vái miếu bà Chúa Xứ, phát cỏ bằng phảng, quạt lúa bằng xa gió, đá gà, đá cá lia thia, hốt me, hát lư, nói thơ Vân Tiên, đờn ca tài tử. . . . là một số những điều không t́m thấy ở thôn quê miền Bắc nhưng lại rất thông dụng ở miền Nam. Nguyễn Hiến Lê có kể chuyện đưa một ông bạn từ Hà Nội mới vào Nam lần thứ nhất đi thăm Đồng Tháp Mười với ông trong quyển hồi kư “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”. Sau đây là một vài nhận xét đặc biệt của ông bạn trích trong tác phẩm nói trên. “Tôi không thể nào đọc báo trong này được. . . In sai nhiều quá. Hỏi, ngă nhầm be bét, rồi ác, át, an, ang. . . không phân biệt, thật chướng mắt. Cây cau mà in là cây cao, th́ có chết tôi không chứ? . . . C̣n về nội dung th́ bài vở tầm thường lắm. Ít bài xă thuyết có giá trị. . . Nói chung th́ văn học Sài G̣n c̣n kém Hà Nội xa! Sài G̣n không có ǵ đẹp. Không có nhiều di tích củ như Hà Nội; không có thắng cảnh như Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, cách ăn mặc của phụ nữ ở đây cũng không được nhă: Aùo dài th́ ngắn quá, màu th́ ḷe loẹt quá, và ra đường th́ nhiều cô chỉ mặc áo bà ba, không quen mắt như tôi, thấy trơ trẽn lắm; hoa không có thứ quư: hải đường, trà, đào . . . đều thiếu, cuộc sinh hoạt th́ ồn ào: người ta sống ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà; quán ăn, tiệm nước đầy phố và lúc nào cũng chật những khách. . . .Sài G̣n không phải là một thành phố Việt Nam. . .Ở ngoài đường ta chạm trán với khách mọi phương: những ông Lục Cao Miên, áo vàng nghệ, che dù đen; những anh gác-dang Băng Ga Li, hút điếu bằng đồng, cần dài và cong, một bọn thủy thủ Anh, da đỏ như tôm luộc, mắt xanh như nước biển, những lính Ma Rốc tóc xoăn, mắt và răng trắng dă! Rồi người Chàm, người Mă Lai, người Nhật, người Pháp, người Huê Kiều ở Hải Nam, Quảng Đông, Triều Châu. . ., bao nhiêu giống người, bấy nhiêu tiếng nói, y phục, phong tục mà cũng sống chung trên mảnh đất này, làm cho Sài G̣n có những vẻ đặc biệt, khác hẳn với Hà Nội, Huế. Ban đêm, vào Chợ Lớn, th́ ai mà không có cảm tưởng là đương đi ở Hồng Kông hoặc Thượng Hải.. . .

Không khí tại đây là không khí giang hồ, tứ chiếng. . . . Sài G̣n không phải là một đô thị Việt Nam, nó là một thương cảng của thế giới. . . .”

 

Nhận xét trên đây chắc cũng là nhận xét của nhiều người quen sống ở Hà Nội khi mới đặt chân vào Sài G̣n. “Culture shock” chắc sẽ làm cho người ta có liền nhận định đó. Nó là một nhận định đúng, rất chính xác, đúng và chính xác ở chỗ có sự khác biệt rất nhiều và rất rơ rệt giữa văn hóa/xă hội miền Nam và văn hóa/xă hội miền Bắc. Nhưng khác biệt không có nghĩa là hay hơn hay dở hơn v́ nhận định về giá trị hơn kém của mỗi miền không có cơ sở vững vàng. Khoa học cho phép ta chấp nhận sự khác biệt của người khác hay của xă hội/văn hóa khác, nhưng khoa học không khuyên ta đánh giá người khác hay nền văn hóa khác bằng những tiêu chuẩn hay bậc thang (standard hay scale) không cùng một loại. Ở đây chúng ta chấp nhận sự khác biệt để thấy có sự biến đổi quan trọng trong văn hóa Việt từ Bắc vào Nam nhưng chúng ta không làm công việc phê b́nh hay lượng giá một nền văn hóa khu vực nào cả. Từ sự biến đổi đó, một số câu hỏi được đặt ra. Tại sao người Việt không giữ được văn hóa truyền thống của họ khi họ vào Nam, trong khi người Bắc vẫn giữ được truyền thống đó? Tại sao có sự biến đổi về văn hóa như vậy?

 

SỰ BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ BẮC VÀO NAM

 

Trước hết sự biến đổi của văn hóa Việt Nam từ Bắc vào Nam cho thấy có khuynh hướng xa dần văn hóa Trung Hoa để đến gần văn hóa Aán Độ hơn. Từ xưa, từ lúc bị Trung Hoa đô hộ cho đến đầu thế kỷ XVII, Việt Nam là một trong những nước ở Đông Nam Á ít nhận ảnh hưởng văn hóa Aán Độ nhất. Văn hóa Việt Nam xưa gần như là bản sao của văn hóa Trung Hoa. Khi văn hóa Đàng Trong, nhất là khu vực Đồng Nai Cửu Long thành h́nh th́ khu vực văn hóa này một mặt giảm bớt ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và mặt khác thu nhận phần nào ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Điều này không có nghĩa là văn hóa Ấn Độ mạnh hơn hay tốt hơn văn hóa Trung Hoa, thật ra đây chỉ có nghĩa là văn hóa Ấn Độ có những nét (traits) khác hơn văn hóa Trung Hoa mà thôi. Nó cũng không có nghĩa là văn hóa Đồng Nai Cửu Long trực tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, đúng ra nó chỉ tiếp nhận một số nét đặc biệt của văn hóa Ấn Độ qua các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn như Champa và Kampuchia hay Thái Lan. Văn hóa Đồng Nai Cửu Long đến gần văn hóa vùng Đông Nam Á hơn văn hóa truyền thống Việt Nam ở Thăng Long. Cái ǵ làm cho có sự thay đổi theo chiều hướng như vậy?

 

Chính trị đóng vai tṛ khá quan trọng ở đây. Từ danh xưng “Đàng Trong” để đối lại với “Đàng Ngoài” đến sự xác định nguồn gốc “Ô Châu” của chúa Nguyễn Phúc Khoát, người ta có thể suy ra được quyết tâm của chính quyền ở phía Nam sông Gianh trong nỗ lực xây dựng một nước khác, độc lập đối với nhà Lê và miền Bắc, đi một hướng đi khác hơn hướng đi của Đàng Ngoài, có một cách làm người Việt Nam khác hơn là người miền Bắc. Tana Li trong bài “An Alternative Vietnam? The Nguyen kingdom in the seventeenth and eighteen centuries” (Journal of Southeast Asia Sutudies; 3/1/1998) viết:

“From the seventeenth century, the Red River delta ceased to be the only centre of Vietnamese civilization: a new centre – Phu Xuan (Hue) – challenged Thang Long (Hanoi), and a second important socio-economic zone – Thuan Quang – took shape far from the Red River delta. This was more than a simple southern extension of the former Vietnamese economy and society. Rather, a new society developed, with a different cultural background and quite different political and economic circumstances. As a residents of a region over which the hostile Le/Trinh northern government never formally renounced control, southern Vietnamese described their territory as the “inner region” (Dang Trong), and characterized the northern Red River plains as the “outer region” (Dang Ngoai). The terminology indicates clearly that they perceived the south as a distinct entity, and the emergence of marked dissimilarities between the two areas amounted to two different ways of being Vietnamese.”

Và:

“When proclaiming himself king in 1744, Nguyen Phuc Khoat declared proudly, “our country rose and developed from O Chau”, using a name with strong local colour for the place of origin of the royal family and many high officers. O Chau emphasized a perception of Dang Trong as a separate country that had developed since the early seventeenth century. This identification actually implied two meanings: a country equal to the north and a local rather than a foreign regime for the local people. The latter sense was related to legitimacy, and to the self-confidence of the Nguyen.”

(Từ thế kỷ 17, châu thổ sông Hồng không c̣n là trung tâm duy nhất của văn minh Việt Nam: một trung tâm mới – Phú Xuân (Huế) – thách thức Thăng Long (Hà Nội), và một vùng xă hội kinh tế quan trọng thứ hai - vùng Thuận Quảng - thành h́nh, ở xa châu thổ Hồng Hà. Đây là cái ǵ nhiều hơn là chỉ một mở rộng của xă hội, kinh tế Việt Nam cũ. Đây là một xă hội mới được phát triển với một bối cảnh văn hóa khác và những điều kiện chính trị, kinh tế khác. Là cư dân của một vùng mà chính quyền thù nghịch Lê/Trịnh không bao giờ muốn từ bỏ kiểm soát, người Việt miền Nam mô tả lănh thổ của họ là Đàng Trong, và cho vùng châu thổ Hồng Hà là Đàng Ngoài. Cách sử dụng danh từ cho thấy rơ họ nhận thức rằng miền Nam là một thực thể riêng biệt, và những khác biệt khởi lên giữa hai vùng đưa đến hai cách thức làm người Việt Nam khác nhau.

Và:

Khi tuyên xưng ḿnh là vua năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát đă hănh diện tuyên bố “nước chúng ta dựng lên và phát triển từ Ô Châu”, ông đă dùng một danh xưng rất có màu sắc địa phương để gọi quê hương, gốc gác của gia đ́nh nhà vua và nhiều quan lại cao cấp của triều đ́nh. Danh xưng Ô Châu nhấn mạnh sự nhân thức rằng Đàng Trong là một quốc gia riêng biệt đă được dựng lên từ đầu thế kỷ 17. Sự nhận diện này thật sự có hai ư nghĩa: một quốc gia ngang hàng với miền Bắc và là một chế độ ở địa phương của người địa phương chớ không phải ngoại lai. Ư nghĩa sau này liên hệ tới tính chính thống và sự tự tin của nhà Nguyễn).

 

Lư do quan trọng kế đó là môi trường sinh sống. Môi trường sinh sống mới và sự tiếp xúc với những nền văn hóa khác là những điều kiện cần yếu đưa đến những biến đổi. Trước hết là môi trường thiên nhiên vật lư: đất đai, khí hậu, ruộng nương, vườn tượt ở đây cùng một loại với đất đai, khí hậu, ruộng nương vườn tượt ở Kampuchia, Thái Lan, Mả Lai, thành ra các loại cây trái giống nhau, kỷ thuật làm ruộng, làm vườn, trồng cây trái cũng giống nhau. Cuộc sống vật chất ở nhà quê do đó cũng rất giống nhau. Người lưu dân Việt vào môi trường sinh sống này không thể không linh động thay đổi để thích ứng với môi trường sinh sống mới. Mặt khác ở trong hoàn cảnh sinh sống mới này họ lại gần gũi với những dân tộc khác với nền văn hóa khác mà lâu dần, quen dần, họ không thể không vay mượn một số nét đặc thù nào đó mà họ thấy cần yếu hay thích hợp với họ trong hoàn cảnh sinh sống mới. Thành ra từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa và các chúa Nguyễn nối tiếp, xây dựng nên Đàng Trong th́ bắt đầu có một nhánh văn hóa Việt biến dạng dần dần trở thành một chi nhánh văn hóa (subculture) có phần khác biệt với văn hóa cổ truyền ở miền Bắc. Sự cắt đứt liên hệ chính trị giữa Đàng Trong (Chúa Nguyễn) và Đàng Ngoài (Chúa Trịnh), sự phân tranh Nam Bắc và chia đôi lănh thổ đă là cơ hội để tạo nên một chi nhánh văn hóa mới xa dần văn hóa cổ truyền. Đến thế kỷ XVII khi Họ Nguyễn chiếm hết cả miền Trung và rồi một số người miền Trung vào khai phá miền Nam khẩn hoang lập ấp xây dựng nên miền Nam th́ một chi nhánh văn hóa khác nữa lại thành h́nh. Chi nhánh văn hóa mới này lại càng cách biệt với văn hóa gốc ở miền Bắc để đến gần văn hóa Đông Nam Á hơn (tức cũng có nghĩa xa dần văn hóa Trung Hoa và đến gần văn hóa Aán Đô hơn).

 

Miền Nam là cả một vùng đất hoang mênh mông chằng chịt sông rạch với không biết là bao nhiêu cá tôm rau cỏ cây trái. Đất đai lại rất ph́ nhiêu do phù sa mang lại. Khẩn hoang lập nghiệp tuy có cực nhọc nặng nề nhưng kết quả thu lượm dễ dàng và khả quan, đời sống tự nhiên ung dung thoải mái. Điều kiện vật lư đó cũng dễ un đúc nên tính t́nh rộng răi, phóng khoáng, hiếu khách, đối đăi tử tế với người từ xa mới đến của người miền Nam mà nhiều người công nhận. Vùng mới lập này tuy có ít nhiều liên hệ với Chúa Nguyễn nhưng triều đ́nh ở xa, tổ chức cai trị không chặt chẽ tùy thuộc ở triều đ́nh Huế (chế độ tổng trấn), thêm vào đó c̣n có những biến cố chính trị làm thay ngôi đổi chủ nhiều lần cho nên tương đối có nhiều tự do địa phương và tự do cho cá nhân nữa. Chỗ này ở không được, hoặc bị áp bức th́ nhổ sào, chèo ghe đi chỗ khác làm ăn, không có ǵ ràng buộc họ được. Hoàn cảnh đặc biệt ở đây giúp người ta nuôi dưỡng tinh khí tự do phóng khoáng, không cần phải ép ḿnh, chế ngự cái tôi để phụng sự cho một lư tưởng sách vở ǵ cả. Vả lại nỗ lực chính của những thế hệ đầu tiên vào đây là khai khẩn đất đai, thiết lập đời sống mới nhiều hơn là trau dồi kinh sử để lănh lấy măo áo chức tước của triều đ́nh. Đời sống dễ dăi, tương đối thừa thăi về vật chất và tự do về tinh thần, đă không bắt buộc người dân Việt ở đây phải duy tŕ hay theo đúng những phong tục tập quán đă được mang vào Đàng Trong từ mấy thế kỷ trước. Sự lỏng lẻo của khuông phép từ thế hệ này sang thế hệ khác đă tạo nên một nếp sống mới, một tính t́nh và nhân cách mới, rộng răi và phóng khoáng, với tâm hồn chân thật, chất phác, mở rộng để đón nhận những cái mới lạ hơn là khép kín để duy tŕ những cái đă có. Ngoài hoàn cảnh địa lư nói trên, trong quá tŕnh mở rộng đất đai về phương Nam chi nhánh văn hóa Đàng Trong đă phải tiếp xúc va chạm với những nền văn hóa khác tạo nên điều kiện rất cần cho sự biến đổi về văn hóa. Có tiếp xúc với văn hóa khác là có cơ hội để nh́n thấy lối sống, cách hoạt động, sự tín ngưỡng, lề lối suy tư của một giống người khác. Từ đó có thể có những thích nghi với nhau hay vay mượn lẫn nhau ít nhiều từ tập quán, kỹ thuật, đến tín ngưỡng và nghệ thuật. Từ thế kỷ XVII người Đàng Trong đă có cơ hội gần gũi với văn hóa Chiêm Thành, đă nh́n thấy và hiểu biết lối sống của người dân Chăm. Sau đó sang thế kỷ XVIII người Việt khi bành trướng lănh thổ về miền Nam lại có dịp sống bên cạnh người Miên và người Trung Hoa (Minh Hương, Triều Châu). Và gần đây hơn từ thế kỷ XIX người Việt ở đây lại có nhiều dịp để biết đến đạo Thiên Chúa cùng văn minh Tây Phương do người Pháp mang đến. Thí dụ như ở Cà Mau (tỉnh lỵ An Xuyên), vào khoảng thập niên 1960, thống kê cho biết dân số là 270,643 người trong đó có 3,048 người Việt gốc Hoa, và 2,959 người Việt gốc Miên, với 22,000 Tịnh độ cư sĩ, 15,000 Công giáo, 3,700 Thiền Lâm, 3,200 Cao Đài, và 400 Tin Lành. Người Việt gốc Miên ở Trà Vinh, Sóc Trăng rất nhiều và người Triều Châu rất đông ở Bạc Liêu đến đổi người dân Nam phải nói “Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu”. Có thể nói miền Nam cũng na ná như xứ Mỹ, nó là một xă hội mới thành h́nh với nhiều chủng tộc sống lẫn lộn trong đó và với một nền văn hóa ít nhiều pha trộn đủ thứ. Nó như cái “melting pot” hay cái “salad bowl” của Việt Nam. Nó mang rất ít tính chất cổ truyền của nền văn hóa gốc.

 

Thật ra th́ sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa các nền văn hóa mới chỉ là điều kiện cần mà thôi chớ chưa phải là điều kiện đủ để cho sự vay mượn, học hỏi xảy ra. Điều kiện đủ để đưa đến vay mượn và thích nghi văn hóa là sự có mặt của những yếu tố sau đây: (1) tinh thần khai phóng của người vay mượn, (2) sự tự do chấp nhận cái mới lạ của người vay mượn, và (3) sự lợi ích của những ǵ được vay mượn học hỏi. Văn hóa không thay đổi nếu các thành phần trong nền văn hóa đó không có tinh thần cởi mở, không chấp nhận những cái mới lạ của nền văn hóa khác. Mặt khác dù các thành phần chấp nhận những cái mới lạ của văn hóa khác đi nữa nhưng không có tự do để học hỏi, thực hiện th́ văn hóa cũng không có cơ hội thay đổi. Chẳng hạn như nếu luật lệ của quốc gia quá cứng rắn không cho phép người dân chấp nhận hay du nhập những cái mới lạ, hoặc giả nếu như phong tục tập quán trong xă hội quá khắt khe khiến người ta không thể đi ra ngoài những thói quen đă có th́ sự thay đổi về văn hóa tất nhiên sẽ khó xảy ra. Phải có đủ tự do để học hỏi và thực hiện điều ǵ mới lạ trong cuộc sống th́ sự biến đổi về văn hóa mới diển tiến được. Sau hết người ta chỉ học hỏi vay mượn khi nào điều người ta muốn học hỏi vay mượn đó đáp ứng được nhu cầu sinh sống của con người.

 

Những điều kiện trên đây cần phải có đủ th́ văn hóa mới có thể thay đổi được. Người Việt Nam trong quá tŕnh bành trướng lănh thổ và định cư vào Phương Nam đă có đủ những điều kiện ghi trên. Họ có tinh thần rộng răi khai phóng, không mù quáng tôn sùng cổ nhân, không khép kín chật hẹp hay bế quan tỏa cảng. Họ có ít nhiều tự do chớ không bị chặt chẽ ràng buộc bởi luật lệ cứng rắn của triều đ́nh hay tập quán khắt khe của xă hội. Khi đă có đủ những điều kiện cần và đủ th́ tất nhiên văn hóa phải thay đổi theo lối sống thay đổi của con người ở vùng đất mới mẻ này. Những khác biệt này là những biến đổi tự nhiên của văn hóa Việt Nam qua bao nhiêu thế hệ và qua quá tŕnh bành trướng lănh thổ, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác. Biến đổi để thích ứng với môi trường và hoàn cảnh mới, đó là điều kiện cần yếu để một nền văn hóa sinh tồn và tiến bộ. Khi văn hóa biến đổi nó cũng làm cho con người ít nhiều biến đổi theo. Có sự tương quan khá mật thiết giữa văn hóa và nhân cách của con người. Người ta hay nói đến tính bộc trực, ăn ngay nói thật, tính rộng răi chiều khách, tính anh hùng ngang tàng của người dân miền Nam, kể cả tính bất cần và không thèm kiên nhẫn của người dân vùng này.

           

Văn hóa làm nên con người bởi khi sinh ra trong xă hội văn hóa nào th́ con người sẽ được xă hội hóa (socialized) vào trong xă hội, văn hóa đó. Nhưng mặt khác cũng chính con người làm nên văn hóa, v́ khi sống cùng những người khác con người có những sinh hoạt trong đời sống xă hội, và những sinh hoạt đó là văn hóa. Con người không thay đổi về phương diện sinh vật, cái gene của con người từ lúc có con người homo sapiens tới ngày nay vẫn vậy, không có ǵ thay đổi. Nhưng văn hóa lại biến đổi theo thời gian và không gian v́ văn hóa là những sinh hoạt nhằm thỏa măn những nhu cầu sinh sống của con người. Ở đâu con người cũng có những nhu cầu ăn uống, che thân, muốn được sung sướng hạnh phúc, ở đâu cũng có tín ngưỡng, giáo dục, học hỏi, truyền thông, ở đâu cũng có nghệ thuật hát ca, nhảy múa, làm t́nh sinh con đẻ cái. Nhưng những sinh hoạt thể hiện những nhu cầu đó rất biến đổi tùy theo thời đại, tùy theo môi trường sinh sống. Những người làm chính trị cũng như những nhà làm văn hóa, hay nói rộng ra hơn, tất cả những ai thiết tha với văn hóa nhân loại hay văn hóa nước nhà, cần phải nh́n thấy sự khác biệt giữa những nền văn hóa hay khu vực văn hóa, cũng như những lư do đưa đến sự khác biệt đó. Nhận biết như vậy không phải để cổ vơ cho sự chia rẽ hay gây tinh thần kỳ thị địa phương mà là để có thể đi đến tinh thần đa nguyên đa văn hóa (cultural pluralism). Tinh thần này đ̣i hỏi người ta phải nh́n thấy và chấp nhận sự khác biệt giữa các nền văn hóa hay giữa các khu vực văn hóa với nhau. Từ sự chấp nhận khác biệt đó người ta mới có thể hiểu nhau và cộng tác với nhau trong tinh thần kính trọng lẫn nhau để sự cộng tác với nhau được lâu dài và hữu hiệu. Chấp nhận khác biệt của văn hóa khác hay người khác cũng có nghĩa là phải tôn trọng giá trị của văn hóa hay của người khác, v́ cái nào cũng có giá tri của nó cả chớ không phải chỉ có cái ǵ của ḿnh mới tốt. Nếu phủ nhận giá trị của những ǵ khác hơn ḿnh th́ không khỏi có cái nh́n thiên lệch mà hậu quả tai hại là sẽ bị rơi vào một h́nh thức nào đó của chủ nghĩa “chủng tộc độc tôn” (ethnocentrism) và tinh thần kỳ thị chủng tộc hoặc một h́nh thức kỳ thị nào khác.

 

 

Có cái ǵ đó mạnh hơn cả những đoàn quân trên thế giới; cái đó là một ư tưởng đến đúng lúc thời cơ đến.

(Victor Hugo)

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/15/06