CON CHƯA

NUÔI MẸ NGÀY NÀO...

NGUYỄN BỬU THOẠI 

Thưa Má,

       Thắm thoát mà đă mười bốn năm, mười bốn Mùa Vu Lan Báo Hiếu, mười bốn lần “Ngày của Mẹ” theo phong tục người phương Tây!

Vu Lan, “ngày của Mẹ” nào con cũng mơ ước được về thăm Má cho măi đến năm nay! “Ngày của Mẹ” lại về, năm năm, tính từ ngày giỗ đầu của Má, ngày tṛn một năm Má vĩnh viễn xa ĺa chúng con. Con gọi là vĩnh viễn v́ từ hơn mười năm nay, kể từ ngày bỏ Ba Má ra đi, năm nào con cũng hy vọng sẽ trở về, nhưng nay th́....

“Bỏ Ba Má ra đi”, mấy chữ nghe như đoạn trường, đứt ruột, phô bày h́nh ảnh đứa con bất hiếu, bỏ mặc Cha Mẹ già yếu, không dưởng nuôi, chăm sóc..., muôn phần lỗi đạo với câu: “Phụ Mẫu tại đường, bất khả viễn du”, cha mẹ c̣n sanh tiền không thể bỏ đi xa, nhưng biết làm sao hơn khi đây lại chính là tâm nguyện của Ba Má.  Ba Má muốn tụi con phải ra đi, đi cho lũ cháu nội của Ba Má, mai sau, lớn lên sẽ hănh diện được sống đời một Con Người.  Con Người, viết hoa, với những ư nghĩa cao quư theo điểm của xă hội văn minh.

Mười năm trôi qua như một giấc mộng. Giấc mộng không êm đềm làm con trở giấc và dày xé ḷng con .

Bốn năm sau ngày con đi, Ba đă nhắm mắt ĺa đời. Con không có hy vọng sẽ nh́n lại được Ba kể từ ngày chiếc ghe dài 8 mét rưỡi của con xuôi theo ḍng sông Hậu trôi ra cửa bể Trần Đề, v́ lúc ấy bệnh Ba cũng đă khá nặng phải nằm một chỗ.  Ba chịu đựng thêm được bốn năm cũng là một ân điển của Trời Phật.  Niềm mơ ước c̣n lại của con chỉ c̣n bám vào chút hy vọng rằng:  Má c̣n khỏe mạnh, rồi đây thế nào con cũng sẽ về để được gặp lại Má, được phụng dưỡng Má, không nhiều th́ ít nhưng.... Cho đến cái Tết 1998, con mới biết rằng ước vọng của ḿnh không bao giờ thực hiện được nữa!  Má đă mỏi ṃn, không thể đợi, không c̣n chờ con!

Mỗi năm đến ngày Giỗ đầu tiên của Má, con phải ăn chay thêm một ngày. Con nói đến chữ thêm là v́, có lẽ, cho măi đến hôm nay, sau năm năm ĺa xa dương thế, từ một cơi an b́nh nh́n xuống, Má mới hiểu rằng: Thằng con trai xa nhà rất sớm của Má chỉ ăn chay được mỗi năm có... một ngày.  Thật là con của Má chẳng giống ai! Người ta ăn Trường Chay, Thập Chay, Lục Chay, hay tệ lắm th́ cũng Sóc, Vọng giao hội, nghĩa là mồng Một, ngày Rằm, mỗi tháng cũng được hai ngày.  Hai ngày mà con c̣n không “tu” nổi, nói chi đến cái khổ hạnh của bậc xuất gia.  Tuy vậy con đường t́m đến chân lư trong Đạo Phật cũng không dành riêng cho bậc cao tăng đắc đạo, hoặc cho các nhà tu hành khổ hạnh, mà Pháp Phật mở ra cho tất cả mọi loài chúng sanh biết Giác Ngộ.

            

* * *

 

Cốt lơi của Đạo Phật là cái Tâm. Triết lư về chữ Tâm trong Phật Giáo vừa b́nh dị, vừa cao siêu . Câu chuyện dân gian về “Sự Tích Con Chim Thầy Chùa” mà Má kể cho con nghe, ngày con c̣n bé đến nay con vẫn nhớ nằm ḷng. Má kể rằng...

Ngày xửa, ngày xưa... có một Nhà Sư, trên đường đến Thiên Trúc bái kiến Đức Thế Tôn, đă gặp một tên Đồ Tể chuyên cướp của, giết người.  Kẻ Cướp gặp Thầy tu! Một sự diện kiến bất hạnh cho kẻ tu hành, v́ bạo lực th́ chỉ biết có giết chóc và hủy diệt! Vậy mà nhà sư đă cảm hóa được tên đồ tể! Tất cả chúng sanh đều có Phật tính! Sau khi, từ ṭ ṃ đến chăm chú, bị nhà sư dẫn đi từ Sinh, Lăo, Bệnh, Tử khổ đến giải thoát luân hồi và sự tu tập để t́m về cơi Thanh Tịnh theo pháp Phật, tên Đồ Tể hỏi:

- Vậy Đức Phật “dụng” cái chi?

Nhà Sư đáp ngay:

- Đức Phật “dụng” Tâm. Vạn sự do Tâm !

 

Nghe đến đây tên Đồ Tể bỗng nhiên “Ngộ” được Đạo.

 

Y ngồi xuống vệ đường, cầm con dao đồ tể tự mổ bụng ḿnh, moi ra quả tim đang đập nóng hổi trao cho nhà sư và dặn :

- Suốt đời tôi ngu muội, giết hại không biết bao người vô tội.  Nay nhờ Thầy điểm hóa, tôi mới biết được tội nghiệt. Tôi thành tâm sám hối!  Xin Thầy đem cái “Tâm” của tôi dâng lên Phật! Tôi nguyện cúng dường quả tim hướng thiện hồi đầu của ḿnh cho Đức Thế Tôn để xin chuộc tội. Nói xong, y chăm chú nh́n nhà sư một hồi rồi mới ngă xuống từ từ nhắm mắt.

Nhà sư kinh hoảng thất thần nhưng cuối cùng cũng thu gói quả tim của tên đồ tể mang theo lên đường cho tṛn lời ủy thác.

Cuộc hành tŕnh tiếp tục.

Vài hôm đầu, nhà sư c̣n cố chịu đựng được cái mùi khó ngửi của quả tim, nhưng càng về sau, dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời, quả tim nhục thể chương śnh lên và tỏa mùi hôi thối không sao chịu đựng nỗi.  Không quên sự kư thác của “thân chủ”, nhưng sức chịu đựng cũng có giới hạn nên đến chiều hôm đó nhà sư đành phải vất cái “của nợ” sang vệ đường.

Trải qua không biết bao gian nan vất vả, giống như thầy Huyền Trang đi thỉnh Kinh, cuối cùng rồi nhà sư cũng đến được đất Phật.

Khi vào chánh điện chầu Phật, tường thuật mọi diễn tiến của cuộc hành tŕnh, nhà sư đă quên mất chuyện tên đồ tể.  Sau buổi lễ, Phật mới gọi ông đến và hỏi:

- Trên đường đi, có ai gửi ông mang giúp vật ǵ chăng?

Nhà sư ngẩn người một chốc, sực nhớ lại.  Ông lật đật quỳ xuống :

- Bạch Đức Thế Tôn.  Con đă nhận lời mang quả tim của một người cải ác hoàn thiện cúng dường Như Lai nhưng v́ mùi hôi thối quá khó chịu trong nhiều ngày nên con đă vất lại bên đường.

Đức Phật nh́n ông, vẫn giọng hiền từ chậm răi:

- Vậy là ông đă phụ ḷng một người có thiện tâm rồi!

Biết ḿnh có lỗi, nhà sư lạy từ giă Đức Phật rồi trở lại con đường cũ mong t́m cho được quả tim của tên đồ tể.  Nhưng hỡi ôi!  Rừng núi điệp trùng!  Thời gian lại đă qua lâu.  Quả tim, nếu không là mồi ngon cho hổ báo, sài lang, kên kên, quà quạ... th́ cũng đă bị thối rữa với gió mưa, thời tiết, c̣n đâu mà t́m?

T́m kiếm mỏi ṃn, cho đến một hôm kiệt sức, nhà sư đă gục ngă trên cuộc hành tŕnh.  Từ thân xác ông, một loài chim lạ h́nh thành và vẫn tiếp tục sứ mạng vác mỏ cốc... cốc... đi t́m quả tim khắp sơn cùng, thủy tận.  Dân gian mới đặt tên cho loài chim này là “Chim Thầy Chùa”.

“Thầy chùa” là loài chim có rất nhiều ở đồng bằng miền Nam dạo trước.  Đó là giống chim có vóc dáng tương đương với chim Tu Hú, chim Quạ, đầu và cổ màu đen, thân và cánh màu dà (nâu sậm), trên đỉnh đầu có chóp lông màu đen giống như cái măo của thầy tu.  Mỗi trưa hè thanh vắng, tiếng chim khoan, nhặt đều đều cốc...cốc... cốc... giống như tiếng mơ cầu kinh.  Có lẽ do h́nh dạng và tiếng kêu nên dân gian mới đặt tên là Chim Thầy Chùa? (loài chim này cũng như loài diều hâu và quạ đen, không c̣n thấy ở quê ḿnh vào giữa thập niên '60 nữa). 

 

Câu chuyện Má kể con nghe hồi bảy, tám tuổi với tựa đề “Sự Tích Con Chim Thầy Chùa.” Đến tuổi trưởng thành, con hiểu mẫu chuyện trên qua ư nghĩa “Đồ Tể Buông Dao Thành Phật.” Ngày nay, tuổi đă xế chiều, đọc và hiểu thêm kinh Phật, con phát giác cái chữ Tâm siêu thoát của Phật Giáo ẩn tàng trong câu chuyện có vẻ vô cùng b́nh dân, cổ tích nêu trên. 

Ba giai đoạn của cuộc đời, cùng một mẫu chuyện, con t́m thấy ba ư nghĩa khác nhau.  Thật ra c̣n bao nhiêu nghĩa nữa trong câu chuyện trên con vẫn chưa hiểu hết...!  Ngay cả cái hiểu của con vừa kể, không biết đúng hay sai?

 

* * * 

 

Trở về chuyện ăn chay chỉ một ngày của con, con chắc Má thừa biết rằng, từ lúc nhỏ, đứa con của Má vốn đủ thói hư tật xấu: lười biếng, ưa ăn ngon, thích mặc đẹp, lánh nặng, t́m nhẹ, trốn học.... Nghĩa là, cái ǵ tệ nhất trong các đứa trẻ là có... con!  Duy có một điều Má cũng biết chắc ở con là: Con thương Má vô cùng!  Hồi ấy, khoảng năm sáu tuổi.... Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều..., mẹ tôi nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp.... Vâng, Má dẩn con đi học không biết bao nhiêu lần, trên con đường, giống như trong bài văn của Thanh Tịnh.  Có điều con đường không dài lắm, chỉ hơn hai trăm mét thôi.  Thế nên, dẫn con đến trường xong, Má yên tâm quay lưng ra về.  Về đến nhà th́ Má cũng thấy con đứng kế bên!  Má lại níu tay con kéo đi trở lại trường.  Con rùn người tŕ lại nhưng khi Má chảy nước mắt th́ con lại riu ríu ôm cặp một ḿnh đến lớp.

       

“Con đi Má dắt con đi,

Con thi trường học, Má thi trường đời.”

 

Má dắt con đi, con thi trường học..., con thi rớt!  Con không mang về cho Má một mảnh bằng to lớn hay một học vị cao quư nào để đáp ơn sinh thành dưỡng dục.... Con chỉ mang về cho Má nỗi lo canh cánh ngày đêm.  Đó là “mảnh bằng” tác chiến với bốn lần bị thương trận, lần nào cũng thập tử nhất sanh, như cách nói của Má.  Trong khi đi thi ở trường đời, Má cũng v́ con mà... trượt lên, trượt xuống: Nuôi con vất vả trăm đường, nhất là vào những năm ly loạn, những năm tháng mà sinh mệnh, thân xác một con người không khác chi con... vật bỏ sông, điển h́nh là những thây ma, những “thằng chỏng”, sáng trôi ra, chiều lại trôi vào dưới con sông trước cửa nhà ḿnh, không ai thừa nhận, không ai kiếm t́m và cũng chẳng ai đủ thời giờ, đủ dạn dỉ để chôn cất dùm...!

Vậy mà Ba Má bảo bọc, nuôi lớn cả đàn con không rơi, không rớt đứa nào. Rồi con lớn lên, con đi lính, hết lính, con đi... tù, ra tù con đi... khỏi quê hương! 

Suốt cuộc đời, chưa lần nào Má gom hết được bầy con đầy đủ về một nhà.  Có đứa này th́ thiếu đứa nọ.  Cho đến ngày cuối đời, phân nữa bầy con, cháu Má đă không được hầu cạnh quan tài. 

 

Tính sổ cuộc đời, Má con ḿnh: không ai vượt được trường thi của thế cuộc!  Tạo hóa cho Má tay này th́ lấy bớt lại ở tay kia, nhưng con chưa bao giờ nghe Má than thân, trách phận, hờn giận Trời già .

 

Từ sau Tết Mậu Thân 1968, đơn vị con di chuyển liên tục suốt năm.  Có khi sáng nay ở Bạc Liêu, chiều lại đi Hà Tiên, qua hôm sau đă trở về Chương Thiện. Việc ăn uống ở đơn vị thật rất thất thường. Những lúc có chuẩn bị th́ một ngày cơm vắt, ba ngày gạo, những lúc “nhảy” bất ngờ th́ cơm xấy, cá hộp đă là phúc lắm!  Cũng có nhiều khi nhịn đói mấy hôm liền, ăn cả củ-hủ-dừa, rau luộc, hoặc như những ngày sau Tết Mậu-Thân, nằm sát thị xă Cần Thơ mà phải ra ruộng lúa chín vàng ở Rạch Bần vuốt lúa hột vào nón sắt dùng cán leng giả cho bể vơ, thổi trấu rồi nấu cháo cũng đươc vài chén húp đở ḷng!

 

Má biết trong hoàn cảnh “lang bạt” như vậy mà con vẫn nhớ ngày ăn chay như hồi ở nhà th́ thật là khó nên, trong một dịp ghé thăm Má, sau lần bị thương thứ hai, xuất viện. Trong bửa cơm vào đúng hôm Rằm nhưng Má lại nấu cá thịt ê hề.  Con lấy làm lạ nh́n Má v́ lâu nay Má vẫn ăn chay đủ mười ngày một tháng. Hiểu ư con, Má cười hiền lành và bảo:

- Ăn đi con! Con ăn một ḿnh! Hôm nay Má ăn chay!

Thấy con thừ người, nuốt không trôi, Má phân trần:

- Con đi đứng bất thường, ăn uống lại không thể tự nấu.  Từ nay, Má thấy con nên ăn mặn cho tiện!  Phật tại Tâm con ạ! 

 

Phật tại tâm! Câu nầy Má dạy con không biết bao nhiêu lần. Con nghe lời Má. Từ nay con ăn mặn nên không c̣n nhớ đến Mồng Một, ngày Rằm.

Tuy nhiên, có một điều mà Má không bao giờ biết, đó là: Cũng kể từ hôm ấy, con chừa lại một ngày trong năm để an chay. Đó là ngày Rằm tháng Bảy, ngày Xá Tội Vong Nhân, cũng là ngày Vu Lan Báo Hiếu. Hơn ba chục năm nay, con vẫn giữ trọn vẹn ngày ăn chay duy nhất nầy mà không hề vi phạm. (Khi lập gia đ́nh và các con của con khôn lớn, hiểu biết, đến lượt dâu và cháu nội của Má, cũng bắt chước cùng ăn chay với con vào đúng ngày nầy). Con không dám và không bao giờ có ư nghĩ là ăn chay vào ngày nầy, ngày Vu Lan, là để báo đền Ân Cha Mẹ.  Ân Cha Mẹ mà được trả, được đền đơn giản chỉ bằng cách nhịn ăn có mấy miếng thịt, mấy miếng cá trong một ngày, của ba trăm sáu mươi lăm ngày, chẳng hóa ra Ân Cha Mẹ dể đền, dể đáp như vậy hay sao?  Không, con không bao giờ dám có ư nghĩ như vậy...!  Con chỉ lập tâm có một điều duy nhất rằng: Trong ngày nầy con phải thật sự tỉnh tâm để nhớ đến Ba, nhớ đến Má. Nhớ đến những ngày c̣n thơ dại, Ba Má đă trăm cực, ngh́n khổ nuôi con, dạy con nên vóc, nên người !  Ba Má đă hy sinh trọn quăng đời thanh xuân, trọn hạnh phúc riêng tư của ḿnh cho các con của Ba Má trong những tháng năm ly loạn tột cùng của đất nước !

 

    “Cha Mẹ thương con biển hồ lai láng,

     Con nuôi Cha mẹ tính tháng, tính ngày.”

 

Câu nầy con nghe được trong tuồng cải lương trước tháng 4 năm 75, nhưng con nhớ hoài không quên, con nhớ dai như vậy phần lớn v́ cái ư nghĩa thâm trầm và thực tiễn của câu hát, một câu hát b́nh dân, câu hát cải lương nhưng mang đầy tính chất giáo dục, nhắc nhở sâu sắc đến cái Đạo Làm Con: “Vế” trên nói lên t́nh cha mẹ thương con như Trời cao Bể rộng, “vế ” dưới phản ảnh tâm trạng ích kỷ thiếu sót, hay kể lể của đứa con, trong đó có đứa con này của Má, kể rằng:  Hôm qua tôi đă về quê rước Mẹ lên nhà trị bệnh, tính ra c̣n... hai mươi chín (?!) ngày nữa cũng được một tháng rồi!  Quả thật tính tháng, tính ngày mà c̣n tính cho có lời mới chịu.

 Trên cơi đời này, vui với phận làm con, được chu toàn một phần với hai chữ Hiếu Đạo, con nghĩ không ai bằng được người nhạc sĩ tài hoa tác giả bản “Ḷng Mẹ”.

Mấy năm trước đây, khi anh qua đời ở quê nhà, bà Mẹ anh, đă tṛn 80 tuổi, lúc tiễn đưa con đến nơi an giấc ngàn thu, trong cảnh “tre lăo khóc trúc xanh”, bà Cụ sụt sùi vĩnh biệt con một câu đáng để đời:

- Mẹ nuôi con hai mươi năm, nhưng con đă nuôi Mẹ bốn chục năm tṛn!

Bốn chục năm!  Hạnh phúc thay cho Y-Vân!  Anh đă nuôi Mẹ bằng cả cuộc đời khôn lớn thành nhân của ḿnh.  Chả bù với con trai của Má, nhiều năm nay ao ước với ḷng được về lại quê hương một lần, một lần thôi, để được bưng tô cháo, múc từng muỗng, từ từ đút cho Má ăn để được nh́n nụ cười nhăn nheo, móm mém của Má.  Vậy mà cơ hội này vĩnh viễn không bao giờ c̣n tới được với con! 

Con chưa kịp về, Má đă nhẹ nhàng thanh thoát ra đi!

 

Má ơi!  Ở đây cứ đến mùa Vu Lan hay “Ngày của Mẹ” là người ta luôn nhắc đến Mẹ, người ta đề cập công lao của Mẹ. 

Hơn thế nữa, mấy năm trước, một sản phẩm với chủ đề Vinh Danh Mẹ đă gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ trong Cộng Đồng; tạo ra sự dè bĩu rằng Mẹ đă bị đem “bán” như một món hàng thương măi. Tệ hại hơn, Mẹ c̣n bị lôi kéo vào ṿng thị phi, phản bội người nầy, bêu xấu kẻ nọ..., một việc mà không người Mẹ Việt Nam nào làm. Có phải vậy chăng?  Nếu đúng vậy th́, thưa Má, trong t́nh mẫu tử thiêng liêng, lần đầu tiên con được tin người Mẹ bị đám con ḿnh bôi mặt, đưa lên thị trường định giá, đưa ra trước dư luận để dèm pha.  Con thật chưa nghe tin người Mẹ nào đă đem con ḿnh đi rao bán ở chợ đời, chợ “gạo” bao giờ!

 

Người ta biện minh bằng hai chữ Vinh Danh, Vinh Danh Mẹ!  Không phải v́ trong đời, con chưa bao giờ tổ chức được một cái lể để tạ ơn Cha Mẹ, hay cho ra đời được một tác phẩm để vinh danh hai đấng sinh thành mà con “đố kỵ” với việc làm của người khác, nhưng v́ con nghĩ rằng: Mẹ đâu có cần ai vinh danh.  Ḷng Mẹ thương con tự nhiên như gịng thác bắt từ nguồn, như sông mang phù sa ra biển, như hiện tượng nắng mưa của trời đất: nắng cho ngọt nước dừa, mưa cho xanh đám mạ!  Hiện tượng thiêng liêng của tạo hóa đâu cần chi đến sự vinh danh....

 

Bài Tập Đọc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư nói về Con Vượn Mẹ, mà Má đọc cho con viết Chánh Tả từ nửa thế kỷ về trước, giờ đây con c̣n thuộc nằm ḷng: “Đất Vũ B́nh có giống vượn, lông đỏ như vang, trong xa nhấp nháy rất là ngoạn mục.  Mẹ th́ khôn ngoan tay ngoáy (cái chữ “ngoáy” này con viết đến ba lần mà không trúng.  Má bảo đó là vần ngược, con phải đánh vần từ chữ thật kỹ trước khi viết), con th́ nhẹ dại ngây ngô.... Một hôm, vượn mẹ bị trúng tên của người thợ săn.  Biết ḿnh không c̣n sống được bao lâu, vượn mẹ ôm con vào ḷng, cho con bú thật no, trước khi trao con lại cho vượn cha rồi buông tay ĺa cành rơi xuống đất. 

Khi hành động như vậy, vượn mẹ đâu có biết rằng: nghĩa cử của ḿnh sẽ được “vinh danh” bởi người thợ săn và đồng bọn, những kẻ đă hủy diệt mạng sống của ḿnh, chia ĺa t́nh mẫu tử, và làm tan nát gia đ́nh nhà vượn.

 

* * *

 

“Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh”...!  Bài Ḷng Mẹ của Y-Vân đă là một bài hát bất hủ, tuy nhiên, con nghĩ cái bao la của biển Thái B́nh không sao giống được cái bao la trong ḷng Mẹ.  Biển Thái B́nh bao la, bát ngát, nhưng vẫn thỉnh thoảng...b́nh “thủy” nổi phong ba. Trái lại, ḷng Mẹ th́ không! Mẹ thương con trong cơn nước lớn, thương cả lúc nước đă ṛng, mùa Đông Mẹ ủ ấm, mùa Hạ Mẹ quạt nồng...!  Mẹ cho con bú, mớm cơm, rót nước, dỗ giấc, lúc lắc vơng đưa ầu ơ.... Con thức, con ngủ, con khóc, con trở giấc đ̣i bế, đ̣i bồng..., tất cả đều chỉ một bàn tay dịu dàng thanh thoát của Mẹ.  Mẹ lo cho con đủ cả bốn mùa.  Đâu phải mùa nắng lại thương nhiều, mùa mưa thương ít.  Gió Chướng đến từ cửa bể, gió Nồm về từ hướng Nam.... Ngọn gió nào cũng mang tấm ḷng mát rượi của Mẹ mơn man, ve vuốt đứa con ḿnh.  Lớn lên sao nỡ nào con quên mất?  Con lại tính toán thiệt hơn với Mẹ, con lại bày ra thương Mẹ nhưng phải đợi tháng, đợi mùa?

 

Trong đời, ai cũng có Mẹ, và ai cũng thương Mẹ, ngoại trừ một số ít trường hợp cá biệt!  Ngày Mother's Day, ngày Vu Lan, là những ngày tuyệt vời trong năm, để phận làm con dù có ngược xuôi, tần tảo ở đâu, dù có say mê cảnh phong hoa, tuyết nguyệt nơi nào cũng c̣n luôn được nhắc nhở, gợi nhớ đến một ngày cho Cha Mẹ; nhưng sau ngày này, xin cũng đừng quên thời gian c̣n lại trong năm, cha mẹ ḿnh cũng hiện tiền, cũng cần đến “t́nh con” sưởi ấm.

Cái Đạo Hiếu ai cũng hiểu nhưng không phải dễ trả, dễ đền. 

Một người nông dân quanh năm cấy lúa, trồng khoai, cơ cực tháng ngày, sáng rau, chiều cháo đạm bạc nhưng có mẹ, có con, c̣n hơn biết bao kẻ Công, Hầu, Khanh, Tướng, vinh thân ph́ gia nhưng mẹ cha quên mất, ḷng chẳng chút đoái hoài! 

 

Con của Má chưa bao giờ có ước mơ làm Công, Hầu, Khanh, Tướng, nhưng, muốn được làm anh nông dân suốt đời bên Mẹ thật cũng không dễ dàng!  Thế mới biết: xưa Thầy Tử Lộ đội gạo đường xa nuôi mẹ già thuở hàn vi, sau làm đến Công Khanh giàu sang phú quí, nhưng mẹ đă ra người thiên cổ.  Tử Lộ nhiều lần ao ước... “đổi cả Công Khanh tiếng mẹ cười” (mượn một câu, trại đi hai chữ của nhà thơ Trần Trung Đạo), để được c̣n lại mẹ già hầu đội gạo như xưa, giống như con của Má ngày nay, nhiều năm tâm nguyện được một lần về quê thăm Má, đút cháo, pha sữa, nghe Má kể chuyện xưa, tích “Con Chim Thầy Chùa”, như ngày Má c̣n trẻ, ngày con c̣n bé...! Nhưng mọi chuyện đều đă quá... muộn màng! Con mong sao thế hệ cháu, chắt của Má, dù đang sống ở xứ người, với nền văn hóa hoàn toàn xa lạ, sẽ học được bài học xót xa của con bây giờ mà tránh sự hối tiếc về sau như nỗi ước mơ ngẩn ngơ cay đắng trọn đời của Thầy Tử Lộ. 

Thế nên, năm nay con lại lỗi hẹn thêm lần nữa, không về được để “nuôi” Má.  Lần lỗi hẹn này là vĩnh viễn v́.... Má c̣n đâu nữa mà về? Khi đem tính sổ lại cả cuộc đời “hiếu thảo” của con th́ con mới hay: “con không nuôi Má được ngày nào”  

nguyễn bửu thoại
 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/13/06