Hoa Lan

Dipl.-Biologin Nguyễn Thị Hoàng

 

Nói đến hoa lan người ta liên tưởng đến sự tinh khiết, thanh tao, quư trọng, đam mê và t́nh yêu vĩnh cửu bất diệt. Trong ngôn ngữ của loài hoa, hoa lan Galanda nói lên:“Những nông nổi say mê không làm giảm giá trị t́nh yêu của chúng ta“, và lan Aranthera màu đỏ:“T́nh yêu say đắm của chúng ta th́ vĩnh củu“, hoặc lan Phalaenopsis:“Thú thật cùng em (anh), từ tận đáy ḷng anh (em) quư trọng và say mê em (anh) biết bao.

Hoa lan phô trương vẻ đẹp của ḿnh qua muôn ngàn dạng sắc và hưong thơm nhẹ nhàng, từ một đóa hoa nhỏ như cây kim may với màu vàng kim óng ánh mà nhà sinh vật học Mỹ Donald Perry đă t́m thấy cho đến những đóa lan khác lộng lẫy mỹ miều. Hoa lan không chỉ để ngắm thôi mà c̣n có nhiều giá trị thực tiển khác. Lan Vanilla cho ta chất thơm Vanille để làm tăng hương vị của những ổ bánh hay thức ăn tráng miệng. Củ lan khô (Salep) có nhiều chất nhờn và tinh bột là nguyên liệu để điều chế keo, chất nhũ tương, chất thuộc da, làm láng gỗ, tơ sợi.

 Theo hệ thống sắp tên các loại cây cỏ trong ngành thực vật học, lan là loài đơn tử diệp thuộc gia đ́nh Orchidaceae. Đặc điểm của gia đ́nh nầy là hoa có rất nhiều h́nh dạng với những cánh hoa không đều thật rơ rệt và cách cấu tạo hoa rất phức tạp. Muốn vẽ hoa đồ của lan, người ta phải bỏ rất nhiều công để định đúng vị trí của hoa. Cho đến hiện tại có khoảng hơn 25 000 loại lan sống ở các vùng ôn đới cũng như nhiệt đới, nhưng đa số sống ở vùng nhiệt đới v́ nơi đây khí hậu thích hợp hơn. Mỗi năm khoảng 100 loại lan mới được t́m thấy và hệ thống hóa. Trong giới hoa thơm cỏ lạ, có thể nói hoa lan là loài hoa thường được t́m thêm giống mới nhứt, có nhiều loại cùng nhiều dạng nhứt và sống ở môi trường thật đặc biệt. Có loại lan rễ mọc trong đất như lan ở vùng Trung Âu, loại nầy rất hiếm ở vùng nhiệt đới. Nhưng thường lan sống gởi, tức là rễ không mọc trong đất mà gốc chỉ tựa lên trên ngọn, thân cành cây lớn ở các chỗ có nhiều chất xốp do vỏ cành cây chết mục ra. Tuy nhiên cũng có loại lan sống bám hẳn vào các cây khác. Đa số lan sống ở nơi ngọn cây cao để dễ tiếp nhận ánh sáng cần cho sự sống. 

So với cây cỏ thông thường, lan là loài cây rất thích ứng với môi trường sống. Vào mùa nắng với những ngày ít hoặc không mưa, lan không bị nguy hiểm trước sự thiếu nước nhờ có những đặc tính giống như các cây ở vùng sa mạc. Loại lan nầy có lá thật dầy, loại lan kia có củ ở dưới gốc; đó là những nơi dự trữ nước. Có loại lan khác giảm sự tăng trưởng của lá để tránh sự bốc hơi nước và lá trên thân chỉ c̣n là những vảy nhỏ. Bù lại loại lan nầy có rễ tḥng trong không khí. Rễ được bao bọc bởi một lớp tế bào lớn, lớp nầy có đặc tính hút và trữ nước nhiều trong một thời gian ngắn. Ngoài ra nhờ tính trong suốt của lớp tế bào đó, ánh sáng có thể xuyên qua và vào những mô bào của rễ, nơi xảy ra hiện tượng lục hoá (Photosynthese), thay v́ hiện tượng nầy xảy ra trên lá. Hiện tượng „de Saussure“ sau đây cũng xác nhận thêm sự thích ứng môi trường sống của cây lan. Để nước của cây lan không bị bốc hơi nhiều, đó là điều nguy hiểm cho lan trong mùa hạn hán, những lỗ thông hơi (Poren) của lá lan được mở ra vào ban đêm thay v́ ban ngày như ở những cây khác, và lan hấp thụ thán khí (CO2), tích trữ đến sáng hôm sau để dùng cho hiện tượng lục hóa, hiện tượng nầy chỉ xảy ra ở ban ngày để tạo chất dinh dưỡng cần thiết cho cây. 

Trong đời sống của hoa lan, côn trùng đóng vai tṛ không kém phần quan trọng. Câu ngụ ngôn „Có qua có lại mới toại ḷng nhau“ có lẽ được Lan áp dụng đúng nhất. Thật vậy, như để thưởng công cho các ong bướm giúp lan trong việc thụ tinh phấn hoa, lan đền ơn lại bằng những mật hoa ngọt ngào. Ngoài hoa lan, không có một loại hoa nào khác có cách cấu tạo, cách sắp xếp những cơ quan thụ tinh rất độc đáo khéo léo để tạo điều kiện thuận lợi cho côn trùng va chạm, truyền rải phấn hoa. Sự liên hệ giữa những côn trùng và các loại lan rất mật thiết: có bao nhiêu loại lan th́ cũng có bao nhiêu loại côn trùng thích hợp, và người ta không khỏi thắc mắc, côn trùng đổi dạng từ từ cho thích hợp với dạng hoa lan hay ngược lại. Đâu là nguyên nhân, đâu là hậu quả? Đến nay, điều nầy vẫn chưa được giải thích rơ ràng. Sau đây chúng ta hăy xem vài sự liên hệ ngộ nghĩnh đó.

Angraecum sesquipedal

Vào thế kỷ 19 người ta t́m thấy loại lan Angraecum sesquipedal, hoa nầy có ống chứa mật dài 15 cm và Charles Darwin đoán rằng phải có một loại côn trùng đặc biệt nào đó với một cái ṿi dài để hút được mật nầy. Thật vậy, đó là loại bướm đêm Xanthopan morgani. Trong trường hợp nầy, các khoa học gia giải thích qua sự hiện tượng sậu biến (Mutation), cho rằng bướm đêm Xanthopan morgani phải trải qua bao nhiêu thế hệ, thay đổi dần dần dạng ṿi hút, để cuối cùng có ṿi thích hợp với hoa lan nầy. Ở trường hợp khác, loại lan Gongora maculata, có dạng hoa rất phức tạp, phần trên của hoa có h́nh như cái chun rượu chúi miệng xuống, trong phần nầy có chứa mật lẩn với rượu. Những con ong sau khi hút mật xong, say rượu, té xuống đúng vào cánh hoa nằm phía dưới, nơi đây có chứa cơ quan thụ tinh phấn hoa. Trong khi say lăn lộn, ong đă vô t́nh làm những phấn hoa của hoa khác đang mang trên ḿnh dính vào nhị cái của hoa lan nầy. Mặt khác về sau, khi tỉnh giấc say, ong lại mang những phấn hoa của hoa nầy bay sang hoa khác, vô t́nh tạo ra hiện tượng trao đổi yếu tố di truyền giữa những loại lan với nhau và như thế, dần dần gây ra một loại lan thích hợp với h́nh dạng và thói quen hút mật của ong nầy. Ở đây chúng ta thấy hoa thích ứng lần với ong, khác với trường hợp đầu, ong biến đổi dần để hợp với dạng hoa. Riêng, ở loại lan „ong“ (Bienenorchideen), hoa có cách cấu tạo rất độc đáo. Cánh hoa nằm phía dưới có dạng và màu giống như phần bụng của con ong cái loại Langhorn-Bienen. Đặc biệt hoa c̣n tiết ra mùi hương giống như như mùi kích thích sinh dục (Sexualduft) của ong cái. Các chú ong đực Langhorn-Bienen tưởng lầm, bay đến và đậu lên, vô t́nh đụng đầu vào túi phấn hoa, và khi bay sang hoa khác mang phấn hoa nầy theo, giúp cho sự thụ tinh phấn hoa ở cây lan tới.

 

Gongora maculata

Ngoài côn trùng, gió cũng góp phần vào đời sống hoa lan. Nhờ gió các hạt giống lan  tung bay ra bốn phương trời. Những hạt giống (Samen) nầy rất nhỏ như những hạt bụi. Các bạn có thể tưởng tượng khoảng hai chục ngàn hạt giống mà chỉ có trọng lượng bằng một gram và một quả hạt giống (Fruchtkapsel) có thể chứa ba triệu hạt. Vào mùa mưa, khi điều kiện cho sự nẩy mầm thích hợp, những hạt giống từ quả (Fruchtkapsel) cây mẹ bay ra như những vần mây bụi nhuyễn. Các hạt giống nhẹ, nhỏ và không có chứa chất dinh dưỡng nầy, trong thời gian đầu, sau khi rớt xuống, phải sống cộng sinh (Symbiose) với một loại nấm thích hợp để nhờ nấm nầy cung cấp chất dinh dưỡng cho hạt giống tăng trưởng.

Nghĩ đến hoa lan, chúng ta có thể sẽ tự hỏi, v́ sao và khi nào lan của miền nhiệt đới xuất hiện ở Âu châu nầy? Theo sự t́m hiểu, ta nhận thấy đầu tiên các khoa học gia nhất là thực vật gia sưu tầm những cây lạ qua những chuyến khảo cứu của họ. Cho đến năm 1769 ông sĩ quan Louis Antoinne Bougainville làm một chuyến đi thuyền buồm ṿng quanh trái đất cùng với sự tháp tùng của thực vật gia triều đ́nh Pháp Philibert Commerson và mang về những cây đặc biệt của vùng Nam Mỹ. Những cây lạ nầy được giới quí tộc ở Âu châu và giới mới phát giàu chú ư đến v́ họ muốn trang điểm các dinh thự và vườn tược của họ cho đẹp thêm. Dưới mắt giới nầy, một loại hoa đặc biệt, đẹp, quí phái và hiếm có thỏa ứng lư tưởng cho tiêu chuẩn của gia cấp họ: đó là hoa lan. Federik Boyle, một nguời Anh vào thời đó đă ghi trong sách viết về hoa lan của ông:“Hoa lan sở dĩ được tạo hóa tạo ra chỉ để làm vui cho một nhóm người đặc biệt của thời đại nầy“. Vào thời đó, nam cũng như nữ đều thích cài hoa lan trên áo và nhất là vào những dịp tiệc tùng lễ lộc, họ đua nhau cài những đóa hoa lan lạ về màu sắc cũng như về h́nh dạng v́ „nh́n hoa phân biệt được gia cấp“. Hoa lan với tên Hy lạp là Orchis có nghĩa là ...“ngọc hành“. Nếu giới quí phái thời đó nghĩ đến tên nầy, không biết người ta c̣n dám tranh nhau cài áo không? Một thoáng nh́n về phía cạnh văn hóa. Vào năm 289 trước Thiên Chúa giáng sinh, ông Theophrast, một triết gia Hy lạp, đă viết về hoa lan với tên Orchis trong quyển Historia plantarum. Theo ông, tinh chất lấy từ rễ hoa lan có tác dụng kích thích sinh lư; do đó ông đặc tên lan là Orchis (ngọc hành). Bài viết về hoa lan của ông được dịch ra tiếng Anh vào thời nữ hoàng Victoria, nhưng bà đă ra lịnh phải gạch bỏ hoặc thay các đoạn tả chân quá lộ liễu bằng những dấu chấm. Ngược lại đối với người Trung hoa, hoa lan tiêu biểu những đặc tính tốt đẹp nhất của con người và lấy những loại lan mọc trên cao dùng làm món canh để tăng sinh lực. Ngoài ra cũng nên nhớ rằng người Trung hoa là người đầu tiên đă tả về hoa lan.

Monochaetum guatemalense

Trở lại vấn đề. Sau chuyến đi của Bougainville, thuở ấy ở Âu châu hoa lan được nhiều người ái mộ, nên loại lan nào càng mới càng đắt giá, do đó hoa lan trở thành món hàng xa xí phẩm đắt giá. V́ người ta chưa biết rơ về sự sanh sản và cách trồng hoa lan, nên vào thời nầy muốn có hoa lan chỉ c̣n một cách là làm những chuyến mạo hiễm trong rừng sâu. Nếu dựa vào tiêu chuẩn thực vật học, thế kỷ 19 là thế kỷ của những người t́m hoa lan. V́ huê lợi, người ta không ngần ngại trước những hiểm nguy, cực khổ, bịnh tật, thiệt mạng chờ sẵn trong rừng sâu c̣n hoang dại ở Mỹ, Phi và Á châu. Walter Davis, một người Anh đă đi bộ xuyên qua rặng Kordillieren (Anden) ở Nam Mỹ trên độ cao băng giá 5000 m, đi dọc theo gịng sông Amazonas từ đầu nguồn đến cuối nguồn và t́m được rất nhiều lọai lan. Gustave Wallis, người đồng hương của ông Davis, làm cuộc hành tŕnh cũng như ông, nhưng đi ngược hướng lại và bị thiệt mạng ở Ecuador v́ bịnh sốt vùng nhiệt đới. Người thành công nhất trong cuộc t́m các loại lan phải nói là ông Benedict Roezl, một người Tiệp-khắc. Vùng t́m hoa lan của ông là vùng già rừng nhiệt đới ở Trung và Nam Mỹ. Tài t́m lan của ông làm những người cạnh tranh phải thán phục và ông đă giao cho những người đặt hàng cả tấn hoa lan đủ loại. Trong việc t́m ra những giống lan mới, ông là người đă góp công nhiều cho khoa học. Bendedict Roezl, không chỉ là một nhân tài trong lănh vực nầy, mà cũng c̣n gặp được nhiều dịp may. Chẳng hạn, có lần ông và một người dẫn đường bản xứ đi t́m hoa lan trong rừng sâu ở Kolumbien. Sau một trận mưa lớn, ghe ông t́nh cờ qua mặt một cây tróc gốc trôi sông. Trên cây có đủ các cây sống gởi và có luôn loại lan Monochaetum với cánh hoa đỏ mịn màng, loại lan mà ông đi t́m cả tháng qua chưa được.

 

Cũng nên nói thêm rằng vào thời đại ấy v́ vấn đề cạnh tranh nhau trong việc t́m hoa lan, nên để giữ bí mật chỗ t́m thấy hoa lan mọc, người ta tự vẽ bản đồ và ghi đường đi nước bước bằng những dấu mật mă, hoặc cố ư phổ biến những bản đồ sai để đánh lừa những người khác. Thành công, thất bại, vui buồn lẫn lộn trong các cuộc mạo hiểm t́m „người đẹp của rừng thẳm“, những cuộc mạo hiểm nầy được kể lại nhiều như hàng ngàn loại hoa lan.

 

Hoa lan không phải là loại hoa có từ ngàn năm xưa như hoa hồng, nhưng với vẻ đẹp trang nhă, thanh tao và mùi hương dịu ngọt, lan đă tô điểm thêm cho hạnh phúc con người như qua lời của lan Venusschuh màu vàng:“T́nh yêu của chúng ta khởi đầu cho con đường hạnh phúc của cuộc đời chúng ta“. Phải chăng v́ vậy mà hoa lan rất ít vắng mặt trong những ngày lễ thành hôn.

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/15/06