Du Quán Tứ Môn
Diệu Trân

Suốt chặng đường đời, trong chúng ta, biết bao lần đă cất bước đi về Đông, tạt qua Tây, xuống Nam, lên Bắc; chúng ta đi v́ đủ mọi lư do, v́ nhu cầu, v́ hoàn cảnh, v́ sự đẩy đưa của t́nh thế, v́ cả sự ṭ ṃ, mạo hiểm ...... Nhưng chúng ta được sinh ra, rồi đến và đi như mơ, cơi ta-bà là một giấc mơ dài, là một cơn đại mộng v́ có mấy ai giữ lại ǵ, để lại ǵ được đâu ! Và chúng ta, kẻ trước người sau, thường an phận mà tự an ủi rằng “Cát bụi lại trở về cát bụi”

Nhưng không phải thế!

Hàng năm, vào thời điểm Tháng Tư Âm lịch, chúng ta lại được nghe nói về một người siêu phàm đă đến với thế gian này, cách nay gần 2600 năm. Chúng ta tôn người đó là siêu phàm v́ chúng ta không làm nổi những điều đơn giản mà Ngài đă làm; nhưng chính Ngài, Ngài luôn nhắc nhở “Mọi người, mọi loài đều b́nh đẳng như nhau”.

Gần 2600 năm, chúng ta c̣n nhớ về Ngài, c̣n tôn kính, c̣n tiếp tục rủ nhau, gắng sức dọ dẫm t́m bước chân Ngài qua giáo pháp Ngài truyền lại. Con đường Ngài chỉ dẫn khởi từ phương Á đă lan tới phương Âu, đă từ những sắc dân da vàng truyền đạt được năng lương Từ Bi nhiệm mầu tới những sắc dân da trắng, da đen; tới con ḅ được tha chết, t́m về ngôi chùa nhỏ huyện Đằng Xung quỳ xuống, nhận lễ quy y Tam Bảo, con hổ dữ gặp vị sư ngồi thiền, bỗng theo sư về chùa Nam Hoa và sư truyền tam quy ngũ giới cho hổ v...v...

Vậy th́, Ngài không chỉ “đến rồi đi” như đại đa số chúng ta. Ngài vẫn c̣n đây với chúng sinh v́ ngoài nhục thân như chúng ta, Ngài c̣n có Pháp thân, và Pháp thân mới là thân vĩnh hằng, bất sinh bất diệt.

Ngài có được sinh ra mà sao lại nói là “bất sinh”?

Ngài có chết đi mà sao lại nói là “bất diệt”?

Hàng năm, vào mùa kỷ niệm ngày Ngài ra đời, hàng Phật tử khắp năm châu bốn biển đều được nghe và tụng, lạy câu này:

Nam Mô Lâm Tỳ Ni Viên, Vô Ưu Thọ Hạ, Thị Hiện Đản Sinh, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Ngài chính là vị Bổn Sư, gịng họ Thích Ca. Ngài ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni, dưới cành hoa Vô Ưu. Và Ngài ra đời chỉ là sự “thị hiện”.

Sao lại chỉ là “thị hiện”? V́ Ngài có mặt với đời nhưng không vướng mắc chi với những ràng buộc ở đời. Ngài chỉ “hiển hiện “ra như vậy thôi, hiện ra như sự t́nh cờ nhẹ nhàng, mang theo một sứ mạng giải thoát khổ đau cho đời. Cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con khôn là những thứ sẽ trói buộc hầu hết chúng ta th́ Ngài đă nhẹ nhàng từ bỏ v́ Ngài biết rằng những niềm vui thế gian đó rất ngắn ngủi, rất tạm bợ. Phải có một điều ǵ đó làm thăng hoa kiếp chúng sinh “vốn được làm người là rất khó”. Ḷng từ bi lân mẫn và trí tuệ tuyệt luân của Ngài luôn suy nghĩ như thế, sau lần “Du quán tứ môn” cùng người xa-nặc thân tín ra thăm ngoài bốn cửa thành. Những ǵ Ngài nh́n thấy nơi bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc là những hoạt cảnh triền miên tiếp nối trong gịng xoáy khổ đau của đời người từ kiếp này sang kiếp khác; nhưng với địa vị một Thái Tử cành vàng lá ngọc được bảo vệ tuyệt đối bằng nhung gấm lụa là th́ lần ra thăm bốn cửa thành chính là lần đầu tiên Ngài chứng kiến cái khổ của người già, cái đau của người bệnh, cái bi thương của người chết và cái thong dong tự tại của một vị sa-môn. Ngài đă nôn nóng bảo xa-nặc:

- Mau lên ! Mau đi con ! Hăy bắt kịp vị sa-môn kia cho ta thăm hỏi.

Và khi đứng trước vị sa-môn áo mỏng, chân trần, Ngài đă sửng sốt mà hỏi rằng:

- Thưa sa-môn, thầy rồi cũng sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết, như những người tôi vừa thấy, nhưng sao thầy không lo lắng, không sợ hăi? Sao sắc thái thầy an lạc, thanh thản thế? Thầy không nón, không giầy, không áo đẹp, sao bước chân của thầy vững chăi, thong dong thế?

Vị sa-môn đă nh́n Ngài mà bảo:

- V́ ta biết giá trị đích thực của phút giây hiện tại.

Trong khi Ngài c̣n bàng hoàng v́ câu nói đó th́ vị sa-môn đă chậm răi ḥa nhập vào đám đông dân chúng.

Trở về hoàng cung, Ngài không ngớt suy tư về kiếp nhân sinh mà những cảnh khổ đau, biến diệt ngoài bốn cửa thành chính là những chặng đường tiêu biểu cho kiếp phù du. Ư nghĩ phải t́m ra con đường giải thoát thôi thúc Ngài cho đến một đêm, Ngài đă “Bán dạ du thành, xuất gia tầm đạo”, nửa đêm vượt thành Ca Tỳ La Vệ để đi t́m một điều vô h́nh nhưng Ngài tin chắc sẽ gặp, sẽ thấy.

Từ đêm mồng tám tháng hai đó, Ngài đă đổi y phục sang trọng của một vị Thái Tử, lấy tấm áo sa môn của gă thợ săn. Đó là bài học đầu tiên về sự dối trá, ác độc khi Ngài hỏi gă thợ săn:

- Ông đeo một gùi đầy cung tên thế kia, chắc ông là thợ săn, nhưng sao lại mặc áo sa môn?

Gă thợ săn thản nhiên trả lời:

- Tôi mặc áo sa môn th́ thú rừng, chim chóc không sợ mới tới gần và tôi mới giết chúng được chứ !

Ngài đă nói:

- Ông hăy đổi y phục cho tôi v́ tôi đang cần bộ áo sa môn mà ông th́ chắc đang muốn có nhiều tiền. Hăy bán bộ áo tôi đi, ông sẽ có vốn để làm nghề khác, đừng săn bắn nữa.

Tuy ngạc nhiên, nhưng gă thợ săn vội vă làm ngay v́ sợ Ngài đổi ư.

Với tấm áo nâu cũ bạc, Ngài khởi bước t́m đạo “Tuyết lănh tu hành, lục niên khổ hạnh”. Sáu năm dài triền miên đây đó dưới mưa gió tuyết sương, vận dụng trí tuệ và sức lực để quán chiếu bao nguyên lư sâu sa qua mọi h́nh thức khổ hạnh mong t́m ra Đạo Cả nhưng phiền năo khổ đau vẫn trùng trùng vây phủ. Phải tới khi sức dường đă tàn, lực dường đă tận, tâm Ngài mới bật sáng, là thân và tâm phải hổ trợ cho nhau, thân có mạnh th́ tâm mới tỏ, tâm có tỏ th́ sự quán chiếu mới bén nhạy. Và Ngài bỏ pháp tu khổ hạnh, nhận bát sữa cúng dường của một thí chủ để lấy lại sức lực. Rồi, trải cỏ dưới gốc cây Bồ đề làm tọa cụ, Ngài phát nguyện “Nếu không t́m ra Đạo Cả, ta thề không rời khỏi cây này”.

49 ngày sau, “Bồ Đề Thọ Hạ, Hàng Phục Ma Binh, Dạ Đổ Minh Tinh, Đạo Thành Chánh Giác”. Ngài đă t́m ra tên cai ngục hằng giam cầm chúng sinh trong những nhà tù bất tận. Tên cai ngục đó là Vô Minh. Sự ngu tối đă trùm lấp trí tuệ vốn sẵn nơi mỗi người, mỗi loài. Trí tuệ đó, nếu được khai mở sẽ nh́n ra chân diện mục, nh́n ra bản chất tối thượng, vĩnh hằng, vượt thoát mọi sinh diệt, khổ đau v́ cái vô thường, ngỡ là thường; cái khổ, ngỡ là lạc; cái vô ngă, ngỡ là ngă; cái không, ngỡ là tịnh ....



Từ đó, với ba y, một bát, áo vải, chân trần, Ngài du hóa tất cả những nơi có thể tới, độ cho tất cả những ai có thể độ; Ngài tới đâu là lớp lớp thứ dân thuộc mọi giai cấp, vứt bỏ những ràng buộc thế tục để theo Ngài, t́m cầu giải thoát.

“Tứ Thập Cửu Niên, Thuyết Pháp Độ Sinh”

49 năm Ngài đă đi, đă thuyết, không ngừng nghỉ cho đến khi nhục thân già yếu, Ngài dừng lại trong rừng cây Ta La. Nơi đây, Ngài đă thuyết bài pháp cuối cùng cho các đệ tử với 4 câu kệ trước phút tịch diệt:

Chư hành vô thường

Thị sanh diệt pháp

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc.

Chính rừng cây hoa trắng này là nơi Ngài:

“Ta La Song Thọ, Thị Hiện Niết Bàn”

Ngài về Niết Bàn cũng chỉ là “Thị hiện Niết Bàn”, như khi đến với đời chỉ là “Thị hiện Đản Sinh”. Tư tưởng thị hiện “Pratiharia” trong Đạo Phật mang tinh thần nhẹ nhàng, siêu thoát, tưởng như thực mà hư, hư mà thực. Đến như thế, đi như thế chính là “Đến mà không đến; Đi mà không đi”. Cái thực có mà Ngài hết ḷng chỉ dạy để chúng ta nhận được, biết được là “ Thiên thượng thiên hạ, duy ngă độc tôn” Trên tất cả chỉ có ta là tôn quư. Cái “Ta” ở đây không phải là cái ta kết hợp bởi đất, nước, gió, lửa, mà là cái ta thường hằng bất biến, cái nhận biết mọi hiện tượng không qua lăng kính phân biệt, cái biết, cái thấy “như thị”. Cái ta đó là Phật Tánh sẵn có nơi mỗi chúng sinh. Ai nhận ra, sẽ thành Phật, ai chưa nhận ra, vẫn măi là chúng sinh.

Từ “Du quán tứ môn” đă thôi thúc Ngài đi t́m giải thoát.

C̣n chúng ta “Du quán thiên môn” mà sao quẩn quanh măi trong luân hồi lục đạo?

Xin chia xẻ cùng quư đạo hữu, chặng đường xuất gia t́m đạo của Đức Thế Tôn qua bài:

Thập Nhị Cẩn Bái Đức Bổn Sư

(Mười hai lạy Đức Bổn Sư):

1- A T́ Ngục Tốt, Sơ Phát Thiện Tâm:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

2- Đâu Xuất Giáng Thần, Ma Da Ứng Mộng:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

3- Hoàng Cung Thát Chất, Hiện Trú Thai Tạng:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

4- Lâm Tỳ Ni Viên, Vô Ưu Thọ Hạ, Thị Hiện Đản Sinh:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

5- Du Quán Tứ Môn, Ểm Lăo Bịnh Tử:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

6- Bán Dạ Du Thành, Xuất Gia Tầm Đạo:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

7- Thanh Sơn Đoạn Phát, phỏng Đạo Tầm Sư:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

8- Tuyết Lănh Tu Hành, Lục Niên Khổ Hạnh:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

9- Bồ Đề Thọ Hạ, Hàng Phục Ma Binh, Dạ Đổ Minh Tinh, Đạo Thành Chánh Giác:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

10- Tứ Thập Cửu Niên, Thuyết Pháp Độ Sinh:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

11- Ta La Song Thọ, Thị Hiện Niết Bàn:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

12- Lưu Bố Xá Lợi, Phước Lợi Nhơn Duyên:

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Diệu Trân

Mùa Phật Đản lần thứ 2630

Phật lịch 2550



 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/13/06