Phan Châu Trinh Và Công Cuộc Vận Động Duy Tân
Trần Gia Phụng

 

- Phan Châu Trinh từ trần tại Sài G̣n ngày 24-3-1926, cho đến nay đúng 80 năm. Nhân dịp nầy, chúng tôi xin ôn lại sơ lược họat động của Phan Châu Trinh, trước khi mời quư vị đồng hương cùng đến tham dự Đại lễ Húy nhật lần thứ 80 của nhà ái quốc Phan Châu Trinh lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật 19-3-2006 tại Hội trường Seafood Kingdom Restaurant, do Hội Đồng Hương Quảng Nam và Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Phan Châu Trinh Đà Nẵng tại California, cùng tổ chức.

Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông đậu cử nhân trường thi Thừa Thiên năm 1900, đỗ phó bảng năm 1901, và bắt đầu làm thừa biện bộ Lễ năm 1903. Tuy nhiên, năm 1904, Phan Châu Trinh quyết định từ quan.

Ông từ bỏ hoạn lộ, lúc bấy giờ là một con đường có thể dẫn ông đến vinh hoa phú quư. Ông dấn thân bước vào sinh hoạt chính trị đầy gian khổ, chông gai và bất định. Ông về Quảng Nam, cùng hai người bạn thân là Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) và Trần Quư Cáp (1870-1908) tổ chức cuộc du hành về phương nam năm 1905, vừa để t́m hiểu t́nh h́nh, vừa để cổ xuư tân học.

Tại sao về phương nam trước? Chưa có tài liệu nào giải thích cụ thể việc chọn lựa nầy. Chúng ta chỉ có thể suy đoán là lúc đó Nam Kỳ nằm dưới chế độ thuộc địa trực trị của chính quyền Pháp, có thể có nhiều thay đổi rộng lớn hơn miền Bắc đang ở trong hệ thống bảo hộ của Pháp, như miền Trung là nơi các ông đang sinh sống, nên các ông muốn t́m hiểu tại chỗ những thay đổi của Nam Kỳ.

Khi đi ngang qua B́nh Định, chính quyền tỉnh đang tổ chức kỳ thi tuyển sinh, cả ba ông đều vào dự thi, lấy tên chung là Đào Mộng Giác. Đề thi bài thơ là “Chí thành thông thánh” và đề thi bài phú là “Danh sơn lương ngọc” (dùng vần: Cầu lương ngọc tất danh sơn). Phan Châu Trinh làm bài thơ, c̣n Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quư Cáp làm bài phú. Cả hai bài nầy đều đả kích lối học từ chương khoa cử, thức tỉnh đồng bào ra khỏi sự mê muội của hệ tư tưởng Tống Nho, vạch trần sự bất lực của triều đ́nh Việt Nam, lên án chế độ bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp, kêu gọi ḷng yêu nước của sĩ phu. Hai bài nầy có thể xem là lời tuyên cáo của phong trào Duy tân theo đường lối Phan Châu Trinh.

Cả hai bài thơ và phú được một thanh niên người B́nh Thuận là Nguyễn Quư Anh, con của Nguyễn Thông, em của Nguyễn Trọng Lội, dự thi trong kỳ tuyển sinh nầy, phổ biến rộng răi trong giới thí sinh, là giới trí thức tinh hoa của tỉnh B́nh Định lúc đó, đă gây một tiếng vang rất lớn trong dân chúng. Đây là một cách thức tuyên truyền tân kỳ trong suốt một ngàn năm khoa cử nước ta, trước khi có phong trào băi khóa, băi thi thời tân học sau nầy. Chính quyền B́nh Định ra lệnh truy t́m tác giả, nhưng vô hiệu. Cả ba ông đă cao bay xa chạy.

Tiếp tục cuộc hành tŕnh vào nam, ngang qua Khánh Ḥa, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quư Cáp giả làm những người bán hàng rong lên thăm chiến hạm Nga đang tránh băo, neo thuyền tại vịnh Cam Ranh. Ba nhà đại khoa bảng Nho học ṭ ṃ lên tàu sắt của Nga để quan sát, học hỏi.

Do sự giới thiệu của Nguyễn Quư Anh, ba ông vào Phan Thiết gặp các ông Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội, cùng nhau bàn chuyện duy tân, thành lập công ty Liên Thành và mở trường Dục Thanh. Tại đây, Phan Châu Trinh lâm bệnh, phải ngưng cuộc nam du, ở lại trị bệnh, c̣n hai ông Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quư Cáp về Quảng Nam trước. Ngoài lư do bệnh tật, không thấy có tài liệu nào nói rơ thêm v́ sao các ông ngưng ngang cuộc nam du ở đây. Phải chăng khi đến Phan Thiết, cửa ngỏ nh́n xuống Nam Kỳ, trao đổi được các ông Nguyễn Trọng Lội, Trương Gia Mô là những người hiểu rơ t́nh h́nh Nam Kỳ, nên nhân v́ Phan Châu Trinh bị bịnh, các ông thấy chẳng cần tiếp tục xuống phía nam nữa?

Sau khi lành bệnh, trên đường trở ra Quảng Nam, Phan Châu Trinh ghé lại Quảng Ngăi thăm Lê Khiết, một thuộc hạ thân cận của Nguyễn Thân. Phan Châu Trinh thuyết phục Lê Khiết ra hoạt động duy tân. Về sau Lê Khiết là một trong những nhân vật chính trong vụ biểu t́nh nổi dậy chống thuế ở Quảng Ngăi năm 1908.

Năm 1906, Phan Châu Trinh ra Hà Nội gặp các ông Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, giúp các ông thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Phan Châu Trinh lên Yên Thế thăm Hoàng Hoa Thám nhờ sự hướng dẫn của Ông Ích Đường. Nguyên Ông Ích Đường, con của Ông Ích Kiền, cháu nội của Ông Ích Khiêm (1832-1884), có người chú ruột là Ông Ích Thọ, con Ông Ích Khiêm với bà vợ người Hà Đông. Nhân ra bắc thăm quê ngoại, Ông Ích Thọ lên Yên Thế theo Hoàng Hoa Thám khởi nghĩa. Ông Ích Đường đem theo gia phả nhà ḿnh cùng Phan Châu Trinh lên Yên Thế gặp Ông Ích Thọ để nhận ra chú cháu. Thọ đưa Phan Châu Trinh vào gặp Hoàng Hoa Thám. Phan Châu Trinh không đồng ư với đường lối bạo động của Hoàng Hoa Thám, v́ theo Phan Châu Trinh càng bạo động, người Pháp càng có lư do để đàn áp, trong khi người Việt Nam c̣n quá yếu kém so với sức mạnh quân sự của Pháp.

Phan Châu Trinh tiếp tục đi sang Trung Hoa, gặp Phan Bội Châu (1867-1940), lúc đó đang ở Quảng Châu. Phan Châu Trinh đă quen biết với Phan Bội Châu khi ông Châu vào Huế năm 1903 ở lại trường Quốc tử giám để t́m cách liên lạc với các nhân sĩ Trung Kỳ. Lúc ở Huế, Phan Châu Trinh cũng đă đọc "Lưu Cầu huyết lệ tân thư" của Phan Bội Châu.

Tại Nhật, hai ông cùng nhau bàn thảo cách thức tranh đấu giành độc lập cho xứ sở, nhưng mỗi người một ư khác nhau. Phan Bội Châu lúc đó vẫn c̣n vương vấn quan niệm quân chủ theo kiểu quân chủ lập hiến, và nhất là muốn nhờ Nhật Bản viện trợ để chống Pháp. Quan niệm của Phan Bội Châu được các nhân sĩ quan trọng Nhật Bản như tử tước Inukai Ki và bá tước Okuma Shigonebu khuyến khích, v́ Nhật Bản đang theo chế độ quân chủ. Phan Châu Trinh cho rằng quan niệm của Phan Bội Châu vẫn c̣n cổ hủ, chưa thoát khỏi ṿng khuôn sáo cũ.

Sau khi đi Nhật về, Phan Châu Trinh khẳng định lập trường của ông: "Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đă biết có quyền th́ việc khác có thể tính lần được." Phan Châu Trinh là nhà họat động chính trị Việt Nam đầu tiên đề xướng thuyết dân quyền trước công luận nước nhà. Để vận động dân quyền, Phan Châu Trinh quyết định hoạt động công khai trong khuôn khổ luật pháp của nhà cầm quyền, dù đó là nhà cầm quyền thực dân đang bảo hộ Việt Nam, không gia nhập và hoạt động trong bất cứ một tổ chức bí mật nào. Tiến tŕnh vận động tuy ôn ḥa, không nguy hiểm nhưng chậm chạp, khó khăn v́ phải thuyết phục dân chúng thay đổi năo trạng trong khung cảnh vân hóa Nho giáo quân chủ lâu đời, chuyển qua nếp suy nghĩ dân chủ dân quyền của nền văn hóa tân tiến chịu nhiều ảnh hưởng của Tây phương.

Phan Châu Trinh gởi cho viên Toàn Quyền Đông Dương lúc bấy giờ là Paul Beau và viên Khâm Sứ Pháp ở Trung Kỳ là Fernand Lévecque một lá thư đề ngày 15-8-1906, thường được gọi là "Đầu Pháp chính phủ thư". Có nhiều người, nhất là cộng sản, dựa vào lá thư nầy để đả kích Phan Châu Trinh, cho rằng ông chủ trương hợp tác với Pháp. Từ đầu đến cuối của lá thư, Phan Châu Trinh tŕnh bày hoàn cảnh bi đát của nhân dân Việt Nam, chỉ trích chính sách hà khắc của nhà cầm quyền bảo hộ Pháp, những tệ trạng của quan lại Việt Nam, và yêu cầu người Pháp hăy lắng nghe lời ông, để mưu cầu phúc lợi cho dân chúng Việt Nam. Lá thư nầy thật sự là một hành động trực diện công khai tố cáo chế độ bảo hộ Pháp tại Việt Nam..

Phan Châu Trinh cho rằng muốn đề cao dân quyền, phải nâng cao dân trí; muốn nâng cao dân trí phải chấn hưng giáo dục, đề cao dân khí. Trong một bài diễn thuyết tại Hà Nội, Phan Châu Trinh kêu gọi: "Không nên trông người ngoài, trông người ngoài là ngu. Không nên bạo động, bạo động th́ chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không ǵ bằng học." Nhưng học như thế nào? Phan Châu Trinh chủ trương băi bỏ chữ Nho, không băi bỏ chữ Nho th́ không cứu được nước. Phan Châu Trinh khuyến khích học Quốc ngữ v́ Quốc ngữ dễ học, dễ viết, có thể phổ cập đến đại đa số quần chúng, nhờ thế mới có thể mở mang giáo dục, truyền bá được rộng răi những kiến thức hiểu biết về mọi mặt đến dân chúng. Những vị phó bảng, tiến sĩ Nho học, tức những nhà đại khoa bảng thời bấy giờ như Phan Châu Trinh, Hùynh Thúc Kháng, Trần Quư Cáp mà lại đứng ra kêu gọi bỏ chữ Nho, tức là bỏ luôn cả những bằng cấp cao cấp có thể đem đến cho các vị chức tước, áo cơm, vinh hoa phú quư, quả là một sự đoạn tuyệt hết sức can đảm và ngoạn mục.

Chẳng những thế, Phan Châu Trinh c̣n chủ trương hướng việc giáo dục vào thực tế, dạy thêm cho thanh niên đủ các nghề từ công nghiệp đến thương mại. Phan Châu Trinh và những người cùng chí hướng với ông chủ trương phú dân bằng hiệp thương, giáo dân bằng tân văn hóa, nâng cao dân trí, phổ biến dân quyền. Đi đến đâu, các ông đều kêu gọi mở trường dạy chữ Quốc ngữ, mở thương hội, nông hội. Những trung tâm hoạt động náo nhiệt nhất là Hà Nội, Quảng Nam và B́nh Thuận trong đó nổi tiếng nhất là Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội.

Những hoạt động của Phan Châu Trinh làm cho người Pháp rất lo ngại. Louis Bonhoure (quyền toàn quyền Đông Dương từ 28-2-1908 đến 23-9-1908) đă nhận xét rằng thơ văn Phan Châu Trinh tuy không tỏ ra bạo động như Phan Bội Châu, nhưng xảo quyệt và nguy hiểm hơn cho sự thống trị của người Pháp. Nhân vụ Trung Kỳ dân biến bùng nổ ở Quảng Nam năm 1908, khâm sứ Trung Kỳ là Fernand Lévecque gởi công điện ngày 29-3-1908 yêu cầu thống sứ Bắc Kỳ là Joseph de Mirabel bắt Phan Châu Trinh. Ngày 10-4, ông Phan bị Pháp bắt giải về Huế.

Trung Kỳ dân biến là phong trào tự phát của nhân dân miền Trung đứng lên đ̣i hỏi chính quyền phải giảm xâu, giảm thuế, khởi đầu từ Quảng Nam vào tháng 3 năm 1908, rồi lan truyền ra khắp Trung Kỳ. Đây là kết quả trực tiếp của công cuộc vận động duy tân và dân quyền của Phan Châu Trinh và các sĩ phu cùng chí hướng, nhưng Trung Kỳ dân biến không do các ông trực tiếp tổ chức và lănh đạo.

Lúc mới bị giải từ Hà Nội về Huế, Phan Châu Trinh bị giam ở ṭa khâm sứ Pháp (nằm ở khu vực trường Đại Học Sư Phạm), phía hữu ngạn sông Hương. Ông tuyệt thực để phản đối. Pháp bối rối, liền đẩy trách nhiệm cho triều đ́nh Huế, đưa ông qua giam ở nhà lao Hộ thành trong thành nội (khu vực Nữ Trung Học Thành Nội trước 1975). Theo yêu cầu của Lévecque, triều đ́nh Huế quyết định lên án tử h́nh Phan Châu Trinh ngày 13-4-1908.

Khi Phan Châu Trinh mới bị bắt ở Hà Nội, Ernest Babut, một hội viên hội Nhân Quyền Pháp (Ligue des Droits de l’Homme), và là bạn thân của Phan Châu Trinh, chủ bút Đăng Cổ Tùng báo (tờ báo Phan Châu Trinh cộng tác viết bài), can thiệp mạnh mẽ, nên khâm sứ Lévecque có phần dè dặt, đă đổi án tử h́nh thành án khổ sai chung thân đày Côn Lôn (sau nầy có tên là Côn Đảo) ngày 14-4-1908.

Khi lính dẫn ra khỏi nhà giam, Phan Châu Trinh đinh ninh ḿnh bị đưa đi chém. Thông thường tử tù ra cửa bắc hoàng thành v́ pháp trường nằm ở An Ḥa, một làng nằm về phía bắc Huế, nhưng Phan Châu Trinh lại thấy ḿnh được dẫn về cửa nam. Ông bèn hỏi người lính áp giải, mới biết ḿnh không bị ra pháp trường, mà chỉ bị đày đi Côn Lôn, liền ứng khẩu đọc bài tứ tuyệt:

"Luy luy già tỏa xuất đô môn,

Khảng khái bi ca thiệt thượng tồn,

Quốc thổ trầm luân dân tộc lụy,

Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn."

Huỳnh Thúc Kháng dịch: ‘Xiềng gông cà kê biệt đô môn,

Khẳng khái ngâm nga lưỡi vẫn c̣n,

Đất nước đắm ch́m ṇi giống mỏn,

Thân trai nào sợ cái Côn Lôn."

Việc Pháp vội vă đày Phan Châu Trinh ra Côn Lôn vào tháng 4-1908, ngay khi Trung Kỳ dân biến chưa chấm dứt, cho thấy Pháp rất sợ sự hiện diện của Phan Châu Trinh trong lúc t́nh h́nh chính trị miền Trung càng ngày càng phức tạp. Khi một số lớn sĩ phu bị bắt trong vụ Trung Kỳ dân biến bị đày ra Côn Lôn tháng 8-1908, th́ Pháp đưa Phan Châu Trinh đi an trí biệt lập tại An Hải, một làng chài nhỏ ven biển, phía ngoài trại tù, nghĩa là dù ở Côn Lôn, ông cũng bị tách biệt hẳn khỏi mọi người.

Trong khi đó, tại Pháp, hội Nhân Quyền tiếp tục can thiệp cho Phan Châu Trinh. Chính phủ Pháp ra lệnh cho tân toàn quyền Đông Dương là A. Klobukowsky đưa Phan Châu Trinh trở về đất liền năm 1910.

Tại Sài G̣n, năm 1911, Pháp lập một Hội đồng do tham biện (tức tỉnh trưởng) Mỹ Tho là Couzineau chủ toạ lễ phóng thích. Trong buổi lễ nầy, Phan Châu Trinh đưa ra ba yêu cầu: ân xá toàn thể quốc sự phạm, trị tội kẻ đă giết Trần Quư Cáp là Phạm Ngọc Quát, và xin đi Pháp. Pháp đưa Phan Châu Trinh về Mỹ Tho giam lỏng một thời gian, và chỉ đáp ứng yêu cầu thứ ba của ông, là để cho ông qua Pháp cùng với người con trai là Phan Châu Dật.

Tại Paris, Phan Châu Trinh sống bằng nhiều nghề lao động phổ thông rất cực khổ, nhưng ông vẫn kiên tŕ tiếp tục hoạt động chính trị. Phan Châu Trinh viết liền sách Trung Kỳ dân biến thỉ mạt kư, tường thuật lại đầu đuôi câu chuyện dân chúng nổi dậy tại Trung Kỳ năm 1908, và đ̣i hỏi chính quyền phải giải quyết thỏa đáng vụ án nầy, nhất là vụ án Trần Quư Cáp. Sau đó Phan Châu Trinh viết Đông Dương chính trị luận, lên án thực dân Pháp tại Đông Dương về nhiều tệ nạn gần như có hệ thống, như cách dùng người, quan lại Pháp Việt gian tham, cách bóc lột trong các ngành thương mại, tài chánh, thuế khóa, sưu dịch, công chính, canh nông. Sau khi dẫn chứng đầy đủ, Phan Châu Trinh nhận định rằng nền chính trị của Pháp tại Đông Dương chỉ nhắm làm ngu dân, bần cùng hóa dân chúng, và nhắm làm giàu cho một số người Pháp và tay sai mà thôi.

Ngoài ra, Phan Châu Trinh c̣n viết Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân thư, tŕnh bày quan niệm của ông về một đường lối chính trị thi hành việc liên hiệp Pháp Việt. Muốn thế, ông yêu cầu thực hiện những biện pháp cải cách cụ thể, "khai trí trị sinh".

Khi thế chiến thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, Pháp vu tội Phan Châu Trinh làm gián điệp cho Đức, bắt giam ông vào ngục La Santé tháng 9-1914. Đảng Xă Hội Pháp và hội Nhân Quyền Pháp một lần nữa tranh đấu ráo riết xin thả Phan Châu Trinh. Nhờ đó, Phan Châu Trinh ra khỏi ngục La Santé tháng 7-1915.

Năm 1922, vua Khải Định (trị v́ 1916-1925) sang Pháp tham dự cuộc đấu xảo quốc tế tại Marseille (nay thường được gọi là hội chợ triển lăm). Nhân cơ hội nầy, Phan Châu Trinh gởi cho vua Khải Định một lá thư dài, đề ngày 15-7-1922 bằng chữ Nho, thường được gọi là thư Thất Điều, kể bảy tội của nhà vua. Bảy điều đó là: “Tôn bậy quân quyền, lạm hành thưởng phạt, thích chuộng sự quỳ lạy, xa xĩ quá độ, ăn bận không phải lối, tội chơi bời, chuyến đi Tây có sự ám muôi”. Đây là một vụ đột kích thẳng vào chế độ quân chủ Việt Nam. Thư Thất Điều được các báo Pháp dịch đăng ở Paris, gây một tiếng vang rất lớn trong dư luận thời đó.

Năm 1924, Liên minh tả phái thắng thế trong cuộc bầu cử quốc hội. Tân chính phủ Xă hội thay đổi phần nào chính sách thuộc địa. Phan Châu Trinh xin trở về Việt Nam vào tháng 6-1925. Trong một bài diễn thuyết rất quan trọng tŕnh bày tại Nhà Hội Thanh Niên ở Sài G̣n với đề tài "Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa", Phan Châu Trinh cho rằng chế độ quân chủ là một chế độ có tính cách nhân trị, nghĩa là con người cai trị theo ư kiến chủ quan của con người, chứ không dựa trên một căn bản pháp luật nào cả. Nếu gặp một vị vua sáng suốt th́ nền cai trị đó sẽ tốt đẹp, nhưng nếu gặp một kẻ làm vua hôn ám th́ nền chính trị sẽ đen tối, và chắc chắn nhân dân sẽ lầm than cơ cực. Phan Châu Trinh c̣n tố cáo nền quân chủ Việt Nam lúc đó đă lợi dụng Nho giáo, và cố t́nh giải thích sai Nho giáo theo kiểu Tống Nho, để củng cố vương quyền.

Điểm cần lưu ư là Phan Châu Trinh chỉ đả kích những ai "nói theo đạo Nho đó kỳ thật không có thi hành một chút đạo Nho nào, chỉ c̣n sót lại một hai điều trong gia đ́nh mà thôi. Kỳ dư là những điều mấy ông vua chuyên chế dựa vào đạo Nho để đè nén dân "(lời Phan Châu Trinh). Phan Châu Trinh không chủ trương chống lại nền Nho giáo chân chính. Ông cho rằng nền quân chủ Việt Nam vào lúc đó đă làm cho nhân dân có cảm tưởng đất nước nầy là của riêng nhà vua, chứ không phải của người Việt Nam, nên "...tôi nghĩ rằng v́ cái độc quân chủ nó giết hẳn cái ḷng ái quốc của dân tộc Việt Nam ta..."(nguyên văn lời Phan Châu Trinh).

Phan Châu Trinh hô hào thiết lập chế độ dân chủ với tam quyền phân lập theo kiểu tây phương, được phân định rơ ràng bằng hiến pháp. Hiến pháp do quốc hội soạn, quốc hội do dân chúng tự do bầu ra. Nền dân chủ có tính cách pháp trị rơ ràng và b́nh đẳng."...Từ ông tổng thống cho đến người nhà quê cũng đều chịu theo một pháp luật như nhau..." và "...Khi nào dân đă hiểu như thế th́ nó mới biết thương nước. Mà nó có biết thương nước th́ một ngày kia mới mong độc lập tự do, chứ không thế th́ cứ đời đời làm tôi mọi măi...” (lời Phan Châu Trinh). Trong bài thuyết tŕnh cuối đời, "Đạo dức và luân lư đông tây", Phan Châu Trinh có nhắc đến chủ nghĩa xă hội, nhưng theo ông, chủ nghĩa nầy chưa thể áp dụng tại nước ta được.

Bệnh t́nh Phan Châu Trinh càng ngày càng trầm trọng; lúc đầu là viêm mũi, sau biến chứng qua phổi. Phan Châu Trinh từ trần tại Sài G̣n lúc 9g30 tối 24-3-1926, hưởng dương 54 tuổi. Tin Phan Châu Trinh từ trần được loan báo khắp nơi, đồng bào rất xúc động. Tang lễ không phải chỉ được cử hành ở Sài G̣n, mà hầu như các tỉnh thành lớn trên toàn quốc đều tự động để tang Phan Châu Trinh, tạo thành một phong trào rộng lớn trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.

Tại Sài G̣n, ngày 4-4-1926, khoảng 100,000 người đă đến tiễn đưa nhà chí sĩ họ Phan đến nơi an nghỉ cuối cùng. Đây là một số lượng rất lớn so với dân số Sài G̣n lúc đó chỉ khoảng 300,000 người. Huỳnh Thúc Kháng, một chiến hữu của Phan Châu Trinh, người tù trong vụ Trung kỳ dân biến trở về sau cùng từ Côn Lôn năm 1921, cũng có mặt trong cuộc đưa tiễn nầy. Đám tang có tính cách tự phát vĩ đại, chứ không phải do chính quyền đứng ra tổ chức, làm cho chẳng những nhà cầm quyền Pháp, mà bất cứ một nhà cầm quyền nào cũng phải tự suy nghĩ. Nhân dân Việt Nam luôn luôn biết ơn, và chỉ biết ơn những người nào đă thực sự v́ nhân dân mà hy sinh.

Bên cạnh những hoạt động chính trị, Phan Châu Trinh đă để lại cho đời sau nhiều tác phẩm đủ loại: thơ, tuồng, văn, nhất là văn chính luận. Ngoài khoảng năm mươi bài thơ bằng chữ Nho (theo lời Huỳnh Thúc Kháng), những tác phẩm khác là : Đầu Pháp chính phủ thư (1906), Hợp quần doanh sinh thuyết quốc âm tự (1907), Tỉnh quốc hồn ca (1907), tuồng Trưng Nữ Vương (soạn chung với Huỳnh Thúc Kháng và Phan Thúc Duyện tại Côn Lôn năm 1910), Trung Kỳ dân biến thỉ mạt kư (1911), Giai nhân kỳ ngộ (1913-1915), Tây Hồ Santé thi tập (1914-1915), Kư Khải Định hoàng đế thư (1922), Bức thư trả lời cho người học tṛ tên Đông (1925), Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa (1925), Đạo đức và luân lư đông tây (1925). Ngoài ra, c̣n có một số bản thảo chưa xuất bản do gia đ́nh con gái của Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng cất giữ.

Kỷ niệm 80 năm húy nhật Phan Châu Trinh, xin hăy cùng nhau nhớ lại câu nói tiêu biểu cho chủ trương của ông: "Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đă biết có quyền th́ việc khác có thể tính lần được." Câu nầy đă được Phan Châu Trinh phát biểu cách đây đúng một trăm năm, nhưng ngày nay cũng c̣n thật đầy đủ ư nghĩa, khi chế độ cộng sản toàn trị, một chế độ đă bị lên án trong nghị quyết 1481 ngày 25-1-2006 của Hội đồng Âu Châu, vẫn c̣n độc quyền thao túng trên quê hương yêu dấu của chúng ta.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 12-3-2006)

 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/24/06