Câu Chuyện Nàng BHADDA Và

Cuộc Luận Tranh Với Ngài XÁ LỢI PHẤT

Phổ Nguyệt Huỳnh Tấn Ban

 

TRUYỆN NÀNG BHADDA

 (Trích trong tập Truyện Cổ Phật Giáo do N.H. Lộc chép)

 

            Thuở xưa, tại Vương Xá Thành có cô con gái, con quan đại thần, nàng mang sắc đẹp lộng lẫy, thông minh và kiêu hảnh. Đến tuổi gieo cầu, không có vị vương tôn công tử nào lọt vào cặp mắt xanh của nàng. Vă chăng, con tạo vốn trớ trêu, nàng lại si t́nh một chàng trai vũ phu, có học nhưng lại là tên cướp khét tiếng, can tội tử h́nh, không có ai giúp đỡ cho nàng trước mối t́nh vô vọng ấy. Thế là Bhadda, tên nàng, nằm lăn trên giường bệnh.

            Thương con, vị quan đại thần lo lắng chạy chữa thuốc thang nhưng thảy đều vô hiệu.

- Cha ôi! Nàng nói thều thào - Buổi sáng con tim nó nói ǵ với cha?

- Nó nói rằng, nó xót xa lắm con ơi!

- Cha ôi! Buổi tối con tim nó nói ǵ với cha?

- Nó nói rằng con ơi! Con đau th́ nó cũng đau.

Yên lặng giây lát, một hạt lệ rỉ ra từ đôi mắt uyên ương, nàng th́ thầm : Cha ôi! Con tim con cũng đau buổi sáng, buổi tối và cả ban đêm nữa. Th́ ích ǵ những thuốc thang hở cha?

-  Phải rồi, ích ǵ những thuốc thang này khi con tim nó đau! Nhưng mà nó nói ǵ hả con?

 Nàng Bhadda với nhập đề như vậy, với chuyển đề như vậy, rồi đưa vị cha già nua vào một chiếc tḥng lọng :

- Nó có tâm sự riêng của nó chứ, phải vậy không hả cha?

- Phải lắm, nó có tâm sự của nó mà!

- Vậy th́ cha ôi! Nàng khóc lớn- khi mà chiếc đao tử thần rơi xuống đầu Satthuka, tên cướp, th́ trái tim con vĩnh viễn bị tử thương không bao giờ lành nữa!

 Vị quan già nua thoát hiểu, đứng bật dậy, những sợi tóc dựng ngược trên đầu.

- Con nói sao? Satthuka ư? Tên đại tướng cướp ấy? Và tim con...?

- Phải! nàng Bhadda cứng cỏi đáp: Cha ôi! Sự sống của chàng chính là sự sống của con. Cha phải cứu chàng. Đôi mắt của vị quan đại thần đại diện như mê sảng giây lát, nhưng v́ thương con, trái tim ông xót xa rung động.

- Nhưng mà con ơi! Sáng mai y lên máy chém rồi, ta làm sao cứu được?

 Cô gái thấy cha mềm ḷng, bèn ngồi dậy, đôi mắt xanh tươi cười, khẻ ôm chiếc đầu bạc phếu của cha.

- Cha yêu quư! Tiền bạc bước lọt dễ dàng vào các cửa đóng kín. Nó làm hữu lư những cái ǵ phi lư, nó là vị quan ṭa vạn năng, tha tội tử h́nh dẫu đă bị tuyên án. Thương con, cứu con, cha chỉ quẳng cho quỷ ăn một chút xíu linh hồn thôi mà! Vị đại thần rưng giọt lệ, tự nghĩ: Dẫu có mất môt nửa linh hồn để đánh đổi sự sống cho con th́ cũng nên lắm, huống hồ là một chút xíu thôi.

 Sau đó, ông lấy tiền bạc đút lót cho quan ngục, và lính áp giải, tên cướp Satthuka được thả ra môt cách dễ dàng.

 Bhadda trang điểm rực rở chói ngời bằng bảy loại ngọc nụ cười dịu hiền như đóa hoa nở trong cuộc gặp gỡ lần đầu với Satthuka. Tên cướp như mê đi, nhưng bảy loại ngọc trang điểm trên người nàng Bhadda lại càng làm cho y mê hơn. Đôi mắt của Satthuka không rời đi đâu được nữa. Một mưu kế thâm hiểm đă đến với hắn. Y nói :

- Bhadda nàng hởi! Vinh quang thay là những hạnh phúc bất ngờ nầy. Số mệnh của anh từ nay do em an bày. Em là Thượng Đế chí tôn của anh. Nhưng trước khi chung hưởng hạnh phúc, em hăy hứa khả cho anh được thỏa một ước nguyện chưa tṛn.

- Hăy nói đi! Satthuka! Con sư tử lông vàng của em. Bhadda hởi ḷng dạ, trái tim nàng như nở ra trong nụ hoa màu hồng thắm. Satthuka là tên cướp vũ phu nhưng có học, y hiểu tất cả những điều ấy bèn nói xa xôi:

- Mỗi người có quyền có một tín ngưỡng, hay có quyền không có một tín ngưỡng nào phải thế không, nàng Bhadda trí tuệ?

- Phải rồi Satthuka?

- Như vậy mỗi người vốn có một vùng đất thánh ở bên trong tâm hồn hay ở ngoài tâm hồn. Cái đó là tự do thiêng liêng chứ, phải không Bhadda- con mèo diễm lệ của anh!

- Chí lư thay! Satthuka.

- Cho nên dẫu là một tên cướp, nhưng cũng có một vùng đất thánh thiêng liêng để tôn sùng và ngưỡng mộ. Vùng đất ấy ở phía tây Vương Xá Thành, mọi người thường gọi là Ḥn núi của kẻ trộm, nhưng đây là nơi tôn thờ vị tổ sư của các anh, vị tổ sư đạo tặc.

- Và sao nữa Satthuka?

- Trước khi bị bắt, anh có phát thệ như sau, kính lạy vị tổ sư chí thiêng chí kính! Con đang lâm nạn, Ngài hăy cứu con, Ngài hăy dùng mọi oai lực làm cho con thoát khỏi tử h́nh, con sẽ đến lễ tạ Ngài 100 con cừu, 100 dê, cùng vàng bạc 10 mâm, Bhadda yêu quư! Nếu thương anh, nếu muốn cùng anh chung hưởng hạnh phúc, em hăy giúp anh thỏa nguyện lời hứa thiêng liêng ấy!

- Hăy thực hiện đi, Satthuka, lời hứa của anh chính là lời hứa của em. Vàng bạc không phải là hạnh phúc. Cái mà vàng bạc đánh đổi mới là hạnh phúc.

 

            Sau khi triết lư ba hoa như vậy chàng cùng nàng mang lễ vật lên đường. Đến chân Ḥn núi của kẻ trộm, Satthuka cho tôi tớ trở về, chỉ có chàng và nàng leo lên đỉnh núi cao. Suốt cuộc hành tŕnh Satthuka chẳng có một lời thân ái với nàng. Đôi mắt của Satthuka như dán chặt vào bảy loại ngọc mà nàng trang điểm trên người. Cho dầu nàng mệt lă hoặc vấp té mà Satthuka vẫn không nh́n thấy huống hồ là một lời vỗ về an ủi. Một thoáng nghi ngờ khởi lên, Bhadda hỏi:

- Satthuka, tại sao chàng lại cho chúng về? Vậy ai là người giữ cừu dê và vàng bạc?

 Satthuka lầm ĺ không nói. Nàng đâu có hiểu rằng thủ hạ của y đă làm việc ấy. Đến đỉnh, sát môt bờ vực Satthuka quay lại:

 - Bhadda hăy cởi áo ra!

 Vị tiểu thơ con quan đại thần mặt tái ngắt, nói không ra lời:

- Satthuka! Anh... Anh định làm ǵ?

- Làm ǵ nữa! Người ngọc tuy quư, nhưng không quư bằng bảy loại ngọc mà người ngọc đang mang trên người. Đừng hỏi nữa! Hăy cởi áo ra và gói tất cả đồ trang điểm ấy lại.

 Đến đây th́ Bhadda không c̣n lư do ǵ mà không hiểu, nhưng nàng cũng hỏi :

- Satthuka, em có lỗi ǵ với chàng? Phải chăng yêu chàng là một cái tội hở Satthuka? Bảy loại ngọc nầy...

- Nàng tưởng ta mang bảy loại ngọc đó là để cúng dường vị tổ cướp thiêng liêng ở núi nầy chăng? Thông minh như nàng mà cũng có lúc ngu si mù quáng vậy thay; vị tổ sư tướng cướp thiêng liêng ấy chính là ta đây.  Ha, ha, ha...

 

            Bhadda với t́nh yêu chết ngắt trong ḷng: Sự thông minh bừng sáng nơi nàng như mặt trời vừa ra khỏi hang thẳm tối tâm. Trấn tĩnh phi thường, nàng nói:

- Vậy th́ Satthuka chàng hởi! Bảy loại ngọc nầy phần nào của chàng và phần nào của em?

- Của ta hết.

 Bhadda giả vờ nh́n Satthuka một cách đắm đuối ngây dại, rồi thở dài nói:

- Vậy th́ chàng hởi! Dẫu thế nào em cũng yêu chàng cho đến chết. Trước khi vĩnh biệt anh hăy cho em thỏa một ước nguyện cuối cùng.

- Hăy nói đi- Tên cướp bực bội nói lớn: Hăy nói đi cô gái si t́nh ngu ngốc kia. Nói rồi chết.

 Bhadda cất giọng thản nhiên:

- Chàng hăy cho phép em hôn chàng với nguyên vẹn bảy loại ngọc trang điểm trên người.

 Satthuka cười nhạt:

- Thôi nhanh đi!

            Thế là nàng thực hiện được mưu kế. Nàng ôm hôn Satthuka dẫu như ôm cục đá cũng phải tỏ ra dịu dàng âu yếm. Nàng hôn mắt, hôn má, rồi lần lượt hôn đến tai đến gáy, phía sau lưng. Dù là tên tướng cướp đă mất hết nhân tính, nhưng sự vuốt ve ṿng tay thơm hương của người ngọc, cũng làm cho y ngây ngất. Lợi dụng cơ hội hiếm có ấy, Bhadda dùng hết sức b́nh sanh đẩy tên cướp xuống vực thẳm trước mặt. Satthuka biết ra th́ đă muộn rồi. Thân thể to lớn của y băng băng rơi xuống và đập đầu vào đá, cây vọng lên như tiếng núi và một hồi chẳng c̣n tăm hướng rồi đời một tên cướp.

            Một vị thiên trên núi chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, cảm thán thốt lên bài kệ :

 Mưu kế tự mưu kế

 Kẻ ác phải đền tội

 Nhân quả lạnh lùng thay,

 Biết chăng thế gian hỡi!

 

            Nàng Bhadda thấy ḷng ḿnh nguội lạnh như đống tro tàn. Nàng ngỏ: Vô vọng, dối trá, và rỗng không thay là ḷng người- là t́nh yêu! Trái đắng và mật đen đă quyện lên đầu lưỡi ta. Đời người vui ít, khổ nhiều. Từ rày, ta không c̣n mặt mũi nào trở lại gia đ́nh nữa.

            Từ núi cao, quên bẳng ngoại giới, nàng ch́m trong tư duy suốt mấy ngày đêm. Từ núi cao, cuộc phản tĩnh kỳ lạ đă chuyển hướng cuộc đời nàng. B́nh minh hôm kia, nàng đứng bật dậy như loài mănh sư sau giấc ngủ ngàn năm, nàng quăng bỏ y trang ngọc ngà châu báu, khoác manh áo vải tầm thường t́m thầy học đạo.

 Đầu tiên nàng đến một nhóm khổ hạnh phái Ni Kiền Tử

- Hăy cho tôi xuất gia!

Chúng ṭ ṃ nh́n cô gái trẻ tuổi dáng dấp tiểu thư khuê các một hồi rồi nói:

- Phép tu khó lắm, nữ nhân tay yếu chân mềm như nàng làm sao kham nổi cuộc đời gió mưa khổ ải?

- Tôi kham nhẫn được.

- Đến mức độ nào?

- Vào hạng tối thượng!

Nhóm khổ hạnh sư thấy vẻ mặt đanh rắn, ẩn tiềm một nghị lực sắt thép của nàng, bèn chấp thuận. V́ nàng xuất gia vào hàng tối thượng nên chúng đă nhổ từng sợi tóc của nàng thay v́ cạo bằng nứa.

            Y áo rách rưới, mặt mày chân tay đầy máu me và bùn đất; nàng bắt đầu học hỏi giáo lư và thực hành Con đường thoát khổ với ư chí tối thượng. Tuy thế, một thời gian sau không c̣n học hỏi ǵ ở đây được nữa, các bậc thầy của chúng bất lực và bối rối trước những câu hỏi của nàng.

- Chẳng có ǵ đặc biệt - nàng nghĩ. Cái mớ giáo lư lẫn thực hành nầy chỉ đưa đến rỗng không và hạ liệt, nó không rành rẽ cho kẻ trí, nó chỉ rành cho kẻ ngu.

            Từ đây nàng Bhadda lang thang từ xứ nầy đến xứ khác để t́m kiếm, tham vấn các bậc minh sư. Nàng xuất hiện trước họ như những ǵ sâu sắc của trí tuệ, nói thẳng vào những tối tăm và ngu dốt của giới Bà La Môn truyền thống và kinh viện. Không ai tranh luận nổi với nàng. Có những đống cát được nàng vun lên rồi cắm ở đây một nhánh diêm phù đề (nhành dương liễu) trên lối vào các thành. Đấy là dấu hiệu thách thức khiêu chiến, luận tranh của nàng đối với thiên hạ đạo học.

            Suốt một tuần như thế, nhánh diêm phù đề vẫn sừng sững ngạo mạn. Chẳng có vị giáo chủ minh sư nào dám nhổ lên để chấp nhận cuộc luận chiến nầy.

- Ở đây không có người-nàng nghĩ- Ôi! Thiên hạ mênh mông nhưng đâu là bậc thầy tối thượng, soi sáng con đường thoát khổ cho ta?

            Thế rồi, Bhadda lại nhổ lên...đi phương khác, trên lối đi vào thị trấn, làng mạc, xứ nầy, xứ kia, nhánh diêm phù đề của nàng vẫn nghiễm nhiên bất khả xâm phạm.

 

            Đă ngày tháng tuyết sương ṃn mỏi, hôm kia nàng đă du hành Xá Vệ. Đức Thế Tôn lúc đó đang thuyết giảng tại tịnh xá Kỳ Hoàn, chúng đệ tử vây quanh. Buổi sáng tôn giả Xá Lợi Phất đắp y mang bát đi vào cổng thành. Thấy nhánh diêm phù đề trên đống cát trên cao, Ngài dừng chân lại.

- Của ai thế? Ngài hỏi một người.

- Của nàng Bhadda, một khổ hạnh Ta Bà Ni Sư tối thượng -người ta trả lời.

            Tôn giả đưa mắt t́m kiếm, không bao xa dưới cội cây một Ta Bà nữ đang ngồi kiết già, với gậy với bát bên chân, dung sắc phi phàm, cao ngạo lạnh lùng.

            Có xứng đáng cho ta nhổ nhánh cây để tranh luận chăng? Ngài Xá Lợi Phất thầm nghĩ-Nhưng mà được ǵ? Ích lợi ǵ? Giáo lư tối thượng nầy không phải để luận chiến, đấu khẩu hơn thua tại các ngă ba đường, nơi chợ búa, nơi đám đông. Giáo lư nầy, giáo lư vô dục, tịch tịnh chỉ để dành cho nhân duyên, kẻ có tai, mắt và trí tuệ. Nghĩ xong, tôn giả bước đi. Những kẻ hiếu sự xung quanh la lên :

- Đệ tử ông Thích Ca Đại Sa Môn thua rồi!

- Ta Bà Ni Sư khổ hạnh nghiễm nhiên vô địch

            Vẫn không quay lại, Tôn giả Xá Lợi Phất cất giọng điềm đạm với đám đông: Chưa có ai dám đánh bại ta về tư tưởng, kiến thức, trí tuệ...lẫn sở chứng... cho dẫu là các bậc minh sư, giáo chủ...cho dẫu là vua quan, chư thiên, Phạm thiên...huống hồ Ta bà Ni nầy. Trên trời dưới đất, duy nhất chỉ có Đức Tôn Sư của ta là bực thầy ưu việt và tối thắng, nhưng thật rỗng không và vô vị là những cuộc tranh luận, khẩu tranh, được danh và mất danh nầy chỉ tự ta biết là ta thắng hay bại mà thôi.

 

            Tôn giả dượm chân bước đi, nhưng Ngài phải dừng lại. Nàng Bhadda đă để ư đến vị Sa Môn trẻ tuổi từ khi Ngài xuất hiện. Nàng nghĩ: Chẳng có ai mang vẻ đẹp khác phàm và thanh thoát đến thế! Chàng Sa Môn trẻ tuổi nầy đă làm cho ta bị nhiếp phục bởi dung mạo, dáng đi, cử chỉ. Lại càng bị nhiếp phục hơn bởi thái độ và ngôn ngữ. Vậy th́ người nầy, đấng nầy phải có một trí tuệ phi thường?

- Đứng lại, ông Sa Môn! Nàng nói-Nếu ông không tự ư nhổ nhánh diêm phù đề luận chiến th́ tự ta thách thức một cuộc luận chiến vậy.

- Để làm ǵ hởi Ta Bà Ni Sư?

Bhadda cất giọng như tiếng vua loài chim giữa núi cao:

- Này chàng Sa Môn đáng kính trọng, ta khao khát tri thức và hiểu biết, lại càng khao khát hơn là những tri thức và hiểu biết dẫn đến tịch lặng và chân phúc. Nhưng đă ṃn trán, ta bà khắp thế gian, chưa ai cho ta một câu trả lời đúng đắn, hoàn hảo, chỉ là những tri thức phù phiếm rỗng không dẫn đến ngu độn và hạ liệt. Ở nơi tôn giả, ta thấy toát ra cái ǵ khác thế, biết đâu đó là hào quang trí tuệ thượng đẳng? Ta cần biết, vậy hăy luận tranh cùng ta, Tôn giả Xá Lợi Phất tự nghĩ: Nghe nói rằng tri thức cùng lư luận của nàng như lưỡi dao sắc nhọn đi đến xứ nầy xứ khác như chỗ không người. Đức Thế Tôn đă giáng thế, khi mặt trời vừa lên, không c̣n ai mà cầm đèn đi giữa ban ngày. Vậy hăy nhiếp phục nàng. Đặt nàng vào chánh đạo. Đặt nàng vào quy giới. Đấy cũng là lợi ích cho nàng, tăng trưởng đức tin cho tứ chúng và thắp lên ngọn đuốc trí tuệ của giáo pháp thù thắng vô địch.

            Thế là tôn giả Xá Lợi Phất cho nhổ nhánh diêm phù đề, bá cáo một cuộc tranh luận sẽ khởi vào buổi chiều.

 

 Nàng Bhadda nghĩ rằng cuộc luận chiến sẽ không mang lại khết quả nếu như không có sự tham dự đông đủ của Sa Môn, Bà La Môn, các tầng lớp gia chủ, trưởng giả cùng quần chúng hâm mộ. Vă chăng đại danh đệ tử trưởng của Phật cùng với lời đồn đăi về Ta Bà Ni Sư khổ hạnh đủ để tạo một cơn lốc hiếu kỳ rầm rộ.

            Với đại y ngang vai, tôn giả Xá Lợi Phất xuất hiện giữa đám đông như ngôi sao rực rỡ, vàng chói, khuôn mặt b́nh an, tự tin đến độ làm cho nàng Bhadda phải rung động.

 Lần đầu tiên nàng cảm thấy sợ hăi trước một đối thủ trẻ tuổi. Tuy thế nàng đă trấn tĩnh kịp thời, lấy lại bản lảnh để đi vào cuộc tranh luận có một không hai nầy.

- Thưa tôn giả, nàng nói- Trước tiên tôi xin được hỏi cuộc tranh luận nầy lập ngôn ở đâu? Lập ư ở đâu? Lập nghĩa ở đâu? Xin Ngài cho biết?

            Chỉ một câu hỏi mở đầu, đám đông quần chúng đă nín thở, hồi hộp. Chỉ một câu hỏi người ta đă tiên liệu cuộc đụng độ sẽ hào hứng cho tri thức và luận lư dường bao. Chàng Sa Môn kia quá trẻ tuổi, quá non nớt, sợ rằng chỉ một câu nầy thôi chàng sẽ xin rút lui, đầu hàng vô điều kiện.

            Nhưng ḱa. Khuôn mặt vị Sa Môn vẫn b́nh an tự tại và dường như trên môi có thoáng nụ cười.

- Này Ni Sư khổ hạnh -Tôn giả Xá Lợi Phất chậm răi đáp- Bần đạo xin được trả lời.

- Ngôn lập tại ư, ư lập tại nghĩa, nghĩa lập tại ngôn. Nó tương quan, lập, duyên khởi lập. Cái nầy sanh th́ cái kia sanh, cái nầy diệt, th́ cái kia diệt, thưa bà.

Ồ! Mọi người chợt reo lên một tiếng thoải mái, bởi câu hỏi dường như kiêu kỳ, tối tăm, khó hiểu. Câu trả lời không những chính xác mà làm cho câu hỏi trở nên sáng nghĩa hơn. Nàng Bhadda giật thót ḿnh, nàng không thấy một khe hở nào, dầu chỉ bằng sợi tóc để đả phá nó. Tuy thế, sẽ tung ra những câu hỏi hóc búa, không có đường mà đón đở, nàng nghĩ:

- Tôn giả đă đáp rất tuyệt vời- nàng nói- Vậy giờ xin được hỏi :

- Tôi đang hân hạnh nói chuyện với ai đây? Đó là câu hỏi thứ hai.

- Câu hỏi này đáng lư bần đạo không trả lời- Ngài Xá Lợi Phất nói- v́ nó thuộc lư luận, phù phiếm luận, không đưa đến yếm ly giác ngộ thắng trí, niết bàn. Nhưng Ta Bà Ni Sư đă hỏi, bần đạo sẽ trả lời cho tuyệt bặt mọi tư duy tương tự, làm cho rỗng không mọi tri thức xa rời mục đích thực tế của Sa Môn hạnh. Mọi câu hỏi đi sau cũng thế. Nàng Bhadda! Bây giờ bần đạo xin được vào câu trả lời. Người ta gọi bần đạo là Xá Lợi Phất! Hăy nghe cho kỹ đây! Giáo pháp của đức Thế Tôn soi rọi cái rỗng không của các pháp, dẫu tâm hay vật, làm cho vô tự tính mọi thực tại tính, làm cho vô ngă tính mọi hữu tồn dẫu là Atman, Brahman hay đại ngă. Hăy nghe cho kỹ đây!

            Giáo lư ấy không trườn uốn như con lươn, không chẻ sợi tóc làm tư, không sợ kẹt trên ngôn ngữ rằng đây là thường kia là đoạn, giáo lư ấy dành cho người tu chứng, kẻ có trí nghe ắt hiểu. Hăy nghe cho kỹ đây! Không những là Xá Lợi Phất, cái tên gọi giả danh nhằm chỉ vào cái thực. Nhưng mọi cái thực ấy, dẫu là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức phải được nh́n cho rơ ràng bằng trí tuệ như thực, như chơn là nó không phải ta, không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngă của ta. Này nàng Bhadda! Câu hỏi của nàng thuộc lư luận rỗng không phù phiếm, câu trả lời của bần đạo đă đặt chúng trên thực tế, chánh đạo, hăy nghe và hăy thọ tŕ.

- Chưa ai dám tự tin như thế Nàng Bhadda thầm nghĩ. Người nầy đă có sẵn những cái kết luận ở đâu đó, như từ một kho tàng, bây giờ chỉ việc đưa ra, không cần dựa theo một suy luận nào đó của sở tri. Tuy thế mọi khe hở đều được bịt kín. Y có tu chứng của ḿnh. Vậy th́ ta sẽ hỏi ngay nơi cái thực ấy.

- Này ông Sa Môn! Câu trả lời của ông chẳng phải xa lạ ǵ. Ta đă từng nghe những con vẹt cũng đă hót lên như thế, chỉ có điều ông tự tin và vững chăi hơn, do ông có cái thực ở nơi sự tu chứng của ḿnh. Hăy nghe đây! Bây giờ ta sẽ hỏi ngay chính nơi cái thực ấy. Hy vọng rằng ông không trườn uốn như kiểu là không phải ta, không phải của ta. Hy vọng rằng ông trả lời khác, giản dị và uyên áo hơn. Hăy nghe đây! Đây là câu hỏi thứ ba. Cái thực ấy c̣n bị định luật nhân quả chi phối hay không, c̣n bị định luật nhân quả chi phối? Hăy trả lời ngay đi. Hăy trả lời mà đừng hủy hoại ngôn ngữ, như dao chém nước.

- Này nàng Bhadda!- Tôn giả Xá lợi Phất vẫn kiên định như phong thái của con mảnh sư-  chẳng cần phải lớn lối như thế. Hăy nghe đây, nếu cái thực ấy mà c̣n định luật nhân quả chi phối th́ cái thực ấy chỉ là khổ đau, nhiệt năo, tử sanh. Nếu cái thực ấy không c̣n bị định luật nhân quả chi phối th́ đồng nghĩa với hư vô, cái không thực hữu, cái vô tự tính, cái ngoang không niết bàn.

            Này nàng Bhadda, hăy nghe đây! Đây là cái dao chém nước như nàng muốn. Cái thực ấy là cái sáng suốt, mặt trời đại huệ. Cái thấy từ tâm, trí, tư tưởng trí mà có, từ tuệ, tuệ minh, cái tuệ minh ấy nó có trong tâm của bậc giác ngộ, bậc A La Hán, kẻ đă đoạn tận lậu, hoặc giải thoát khổ đau và phiền năo; này nàng Bhađda cứ như thế mà thọ tŕ!

- Chưa thể thọ tŕ được- Ta Bà Ni chợt hét lên như con thú bị tử thương- Ta chưa chấp nhận điều ấy, hởi ông Sa Môn đại ngôn kia. Hăy nghe đây! Đây không phải là câu hỏi thứ tư mà đây chỉ là phản vấn. Ông nói rằng có một cái tuệ minh, xin lỗi tôi có lầm chăng, một cái tuệ minh? Vậy th́ giáo lư vô ngă, vô tự tính của Đức Tôn Sư của ông sẽ không c̣n chỗ đứng, bất khả lập, bất khả thuyết, và nó đă mâu thuẫn tự tiền căn? Vậy phải trả lời làm sao cho kẻ học nữ Ta Bà khổ hạnh nầy: một giáo thuyết thường kiến vậy kia?

- Hăy b́nh tĩnh! Hăy b́nh tĩnh! Này nàng Bhadda đừng tự buộc vào ḿnh những thằng thúc! Đừng tự bịt mắt trước ngọn đèn sáng suốt tự tâm. Hăy nghe đây! Cho bần đạo hỏi một câu, với một câu thôi nàng sẽ tự giải quyết cho chính ḿnh. Câu hỏi như thế nầy: Cáng của ngọn đèn trước mắt nó thường hay nó đoạn.

- Chẳng phải thường- Nàng nghĩ- Thường sao được khi nó sinh diệt từng giây từng khắc! Chẳng phải đoạn, đoạn sao được khi nó đang hiện hữu!

            Thấy nàng Bhadda im lặng, tôn giả Xá Lợi Phất tung câu hỏi thứ hai :

- Này nàng Bhadda! đây là câu hỏi thứ hai nhằm gợi ư cho nàng để nàng bước ra khỏi cái lẩn quẩn, loanh quanh của các luận lư Thường, đoạn, có, không. Đây là câu hỏi: Thuở nàng 5 tuổi, nàng thấy một bông hoa. Thuở 30 tuổi nàng thấy một bông hoa. Nàng có thay đổi cái hoa dẫu có khác, quan niệm đẹp xấu dẫu có khác, nhưng cái thấy của nàng có thay đổi không?

- Không thể thay đổi, thưa tôn giả.

-Nó chẳng phải là thường không?

- Bất khả thuyết- Nàng Bhadda buộc miệng trả lời như vậy rồi tự nghĩ: Ta đă tự trói ḿnh, vậy th́ hăy vùng vẫy khi c̣n vùng vẫy được. Gă Sa Môn nầy đă bủa vây ta bằng một chiếc lưới quá kiên cố và quá chặt chẽ. Nhưng dễ ǵ ta chịu hạ phong.

- Khá lắm, này ông Sa Môn hăy nghe đây! Ta sẽ chịu dừng với ông chung một vùng đất. Mặt đối mặt để trổ tài sở tri Ta tạm thời chấp nhận cái thuyết tuệ minh ấy, nhưng ta muốn hiểu cái sở tri về bậc A La Hán ở nhiều phươngdiện khác nhau. Vị ấy làm thế nào bước ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử.

- Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là ch́m đắm. Bậc A La Hán không bước tới, không dừng lại, vị ấy ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử! Này nàng Bhadda cái đáp số ấy thậm thâm vi diệu, vi tế, vượt ngữ ngôn, vượt suy luận, dành cho kẻ trí, kẻ thâm đại pháp, dành cho kẻ tu chứng. Có lên đường ai ăn mới biết no, chứ không phải để cho nàng-kẻ ngoại giáo, kẻ đứng ngoài cuộc, kẻ với tri thức thuần túy-muốn dùng cái hiểu biết nông cạn, cái tự ngă kiêu căng và đa dục của ḿnh, để nắm bắt cái siêu việt không thời gian, cái bất tử, cái chân phúc, cái niết bàn vô dục và tịch tịnh. Này nàng Bhadda!

Này nàng Bhadda! Nàng có kham nhẫn tịch lặng để lắng nghe những lời như vậy không?

            Ta Bà Ni Sư tức giận đến tím mặt, run lẩy bẩy, những lời những chữ kia như lưỡi kiếm tàn bạo đục khoét vào tim cật nàng. Tuy thế, với trấn tĩnh phi thường, nàng mĩm cười:

- Chớ có nương tay, thưa tôn giả- Nàng nói- Tạm thời ta chấp thuận rằng điều đó là có thực, nhưng điều đó thuộc vùng đất khác, tư duy khác, quan niệm khác, ta không biết lấy ǵ kiểm chứng. Bây giờ tôn giả có dám bước qua vùng đất của tôi, thuộc giáo lư khác, để đi cho cùng tận chân trời sở tri?

- Dám lắm- Ngài Xá Lợi Phất b́nh tĩnh trả lời- Là đệ tử của Đức Tôn Sư vô năng thắng, ta sẵn sàng luận tranh, không khoan nhượng bất cứ một giáo pháp nào trong thiên hạ. Im lặng th́ im lặng như chánh pháp, nói năng th́ nói năng như chánh pháp. Đây là chân ngôn của các đệ tử Đức Tôn Sư.

            Thế là nàng Bhadda bắt đầu hỏi, Ngài Xá Lợi Phất tuần tự trả lời. Đầu tiên nàng mang ra ba tập Phệ Đà, đặt những câu hỏi thuộc lănh vực tri thức thuần túy. Từ chương kinh viện, truyền thống, ngay cả danh nghĩa lễ nghi, giữ nguyên chú giải ngữ pháp, văn phạm, lịch sử. Người hỏi đă chứng tỏ một tri thức quăng bác thâm sâu. Người trả lời lại càng chứng tỏ thông hội vấn đề một cách minh bạch. Những điều thuận thế luận, đại nhân tướng, chiêm tinh, thiên văn, địa lư, bùa chú. Ngài Xá Lợi Phất lại càng chứng tỏ cho nàng Bhadda Thấy rơ sự nghèo nàn, hời hợt nông cạn, thô thiển của ḿnh.

            Ngài không những hiểu qua danh lư mà c̣n là nhà bác học về chúng đến cội nguồn. Hơn nữa điều quan trọng và đáng nói hơn, Ngài đă quẳng chúng mà đi như quẳng một mớ giẻ rách... Từng vấn đề, từng vấn đề... từng lúc, từng tế nhị, khó nắm bắt và khó lănh hội. Nó đi từ gần đến xa, xa đến vô tận. Từ vô tận nó trở về và nhỏ lại như vi trần như mảnh lau vi trần, hư không, tư tưởng tâm niệm, sát na...

            Thính chúng bàng hoàng, ngơ ngẩn nàng Bhadda bàng hoàng ngẩn ngơ. Nàng không biết hỏi ǵ nữa. Nàng không c̣n nh́n thấy một đốm lửa nào nữa khi mặt trời kia đă chói lọi. Nàng đă hoàn toàn bị nhiếp phục.

 

 Tôn giả Xá Lợi Phất với thiên nhăn, Tha tâm thông, thấy rơ tâm địa nàng, đưa ra một câu hỏi kết thúc. Một câu hỏi vứt bỏ sở tri để dẫn nàng về với giáo lư thiết thực hiện tại.

- Bây giờ tới phiên ta hỏi, này nàng Ta Bà Ni Sư khổ hạnh : Thế nào gọi là Một?

            Thời gian lặng lẽ trôi qua khi câu hỏi được đặt xuống. Quần chúng nín hơi, nghẹt thở. Từ vừng trán nàng Bhadda từng hạt mồ hôi to bằng hạt bắp không ngớt tuôn ra. Mái tóc lún phún đă bắt đầu điểm bạc. Một triệu kiếp tư duy cũng không trả lời được câu hỏi tầm thường, giản dị kia. Chỉ với một câu hỏi mà nàng Bhađda của chúng ta đă già đi ngàn năm.

- Này nàng Bhadda! Nàng hỏi ta một câu, mười câu, trăm câu, ta đă trả lời nàng đầy đủ cả chặng đầu, chăng giữa,chặng cuối, thế mà ta chỉ hỏi một câu, nàng cũng không trả lời ta. Một là ǵ? Một là thế nào? Mà nàng cũng không hiểu, không biết. Thế mà nàng lại đ̣i biết cho kỳ được cổ kim thiên hạ sự, đ̣i hiểu cho hết chuyện trên trời dưới đất. Kinh như núi, chữ như rừng... thế đấy! Là trí tuệ của người đi cắm nhánh diêm phù đề khắp cả thiên hạ.

            Như thân cây bị chặt đứt, nàng Bhadda chợt phủ phục xuống bên chân bậc trí tuệ bậc nhất.

- Kính lạy tôn giả con chịu thôi, không một câu hỏi nào mà con dám trả lời nữa. Với một tự ngă kênh kiệu vô tư, con đă đi đánh trống khắp cửa mọi nhà, để bây giờ biết rằng đất trời vô lượng. Tôn giả đă kham nhẫn, từ bi soi sáng cho con, chỉ đường cho con, đem đèn vào trong bóng tối để ai có mắt có thể nh́n thấy sắc. Cũng vậy, xin Ngài xá tội cống cao ngă mạn của con, cho con trọn đời quy ngưỡng.

            Nàng Bhadda phủ phục năm vóc sát đất. Quần chúng reo ḥ. Chư thiên hoan hỷ. Ngài Xá Lợi Phất chợt đứng cao 10 tầm thốt nốt, tḥ tay đụng mặt trời, mặt trăng, cất giọng phạm âm với tâm tuyệt hảo:

- Này hởi Bhadda! mừng thay cho nàng vứt bỏ được sở tri và tự ngă, mừng thay cho nàng thức tĩnh sau đêm trường mộng, hé mở con mắt pháp để thấy rơ giáo lư vô dục thực tiển, thậm thâm, có khả năng làm yên lặng khổ đau, phiền năo. Hăy hướng đến Đức Tôn Sư của ta cùng tăng chúng thánh hạnh. Bậc cao cả đang ở tại tịnh xá Kỳ Hoàn. Nàng hăy đến nghe pháp rồi quy y với Ngài.

            Sau đó nàng Bhadda đến kỳ viên đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi nép một bên phải lẻ. Thấy căn cơ nàng đă thuần thục, Đức Thế Tôn chỉ nói vắn tắt một kệ:

 

Dầu nói ngàn câu kệ,

 Nhưng không chút lợi ích

 Tốt hơn nói một câu

 Nghe xong được tịnh lạc.

            Và tức khắc, ngay sát na ấy, nàng Bhađda đă chứng quả A La Hán với pháp Tín Thọ, nghĩa là tín thọ.

            Đức Thế Tôn tự thân trao đại giới cho nàng. Nàng Bhadda được biết là vị tỳ kheo A La Hán im lặng, thiền duyệt và đi ta bà cả khắp quốc độ.

 

Cốt tủy Giác Ngộ Giải Thoát của Phật Giáo (Phổ Nguyệt)

Những câu hỏi của nàng Bhadda luận tranh với Ngài Xá Lợi Phất.

 

- Câu hỏi 1: Cuộc tranh luận này lập Ngôn ở đâu? Lập Ư ở đâu? Lập Nghĩa ở đâu?

Đáp: Ngôn lập tại Ư, Ư lập tại Nghĩa, Nghĩa lập tại Ngôn. Nó tương quan lập, duyên khởi lập. Cái này sanh th́ cái kia sanh, cái này diệt th́ cái kia diệt.

    * Câu nầy nói lên lư Duyên Khởi, thực tại do Nhân Duyên kiến lập.

  

 - Câu hỏi 2: Tôi đang nói chuyện với ai đây?

 Trả lời: Người ta gọi bần đạo là Xá Lợi Phất. Hăy nghe cho kỹ đây! Giáo pháp của đức Thế Tôn Sư rọi cái rỗng không của các pháp, dẫu Tâm hay Vật, làm cho vô tự tính mọi thực tại tính, làm cho vô ngă tính mọi hữu tồn, dầu là Atman, Brahman hay Đại Ngă. Hăy nghe đây!

            Giáo lư ấy không trườn uốn như con lươn, không chẻ sợi tóc ra làm tư, không kẹt trên ngôn từ rằng đây là thường rằng kia là đoạn, giáo lư ấy dành cho người tu chứng, kẻ có trí nghe ắt hiểu. Hăy nghe cho kỹ đây! Không những là Xá Lợi Phất, cái tên gọi giả danh nhằm chỉ vào cái thực, nhưng mọi cái thực ấy, dẫu là sắc thọ tưởng hành thức phảỉ đươc nh́n cho rơ ràng bằng trí tuệ như thực, như chơn, là nó không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngả của ta. Này nàng Bhadda! Câu hỏi của nàng thuộc lư luận rỗng không phù phiếm, câu trả lời của bần đạo đă đặt chúng trên thực tế, chánh đạo, hăy nghe và thọ tŕ.

**-  Câu hỏi về Ngă nầy được Ngài Xá Lợi Phất giải nghĩa rất rơ ràng. Xá Lợi Phất là một thực tại giả lập, ngay trong nó có cái thực. Thực tướng của thân ngũ uẩn là không. Sắc không khác không.... Thể không của thân ngũ uẩn là thực tướng của nó.

 

- Câu hỏi 3: Này ông Sa Môn! Câu trả lời của ông chẳng phải xa lạ ǵ. Ta đă từng nghe những con vẹt cững đă hót lên như thế, chỉ có điều ông tự tin và vững chăi hơn, do ông có cái thực ở nơi sự tu chứng của ḿnh. Hăy nghe đây! Bây giờ ta sẽ hỏi ngay chính nơi cái thực ấy. Hy vọng rằng ông không trườn uốn như kiểu là không phải ta không phải của ta! Hy vọng rằng ông trả lời khác, giản dị và uyên áo hơn. Hăy nghe đây! Cái thực ấy c̣n định luật nhân quả chi phối hay không? C̣n định luật chi phối? Hăy trả lời ngay đi. Hăy trả lời đừng hủy hoại ngôn ngữ, như dao chém nước.

 Xá Lợi Phất:

-Này nàng Bhadda! Nếu cái thực ấy mà c̣n định luật nhân quả chi phối th́ cái thực ấy chỉ là khổ đau, nhiệt năo, tử sanh. Nếu cái thực ấy không c̣n định luật nhân quả chi phối th́ đồng nghĩa với hư vô, cái không thực hữu, cái vô tự tính, cái ngoang không niết bàn.

            Này nàng Bhadda, hăy nghe đây! Đây là cái dao chém nước như nàng muốn. Cái thực ấy là cái sáng suốt, mặt trời đại huệ. Cái thấy từ Tâm, Trí, tư tưởng Trí mà có, từ tuệ, tuệ minh ấy nó có trong tâm của bậc giác ngộ, bậc A La Hán,kẻ đă đoạn tận lậu, hoặc giải thoát khổ đau và phiền năo, này nàng Bhadda cứ thế mà thọ tŕ!

**- Câu nầy Xá Lợi Phất giải minh hai loại thực tại. Thực tại tương đối là thực tại giả lập hay tùy thuộc như khổ đau, nhiệt năo, sanh tử v.v...đều phải bị định luật nhân quả chi phối. C̣n thực tại tuyệt đối, không sanh không diệt, tự nó đầy đủ, không có ǵ áp đặt lên nó như hư không, vô tự tính v.v..., nên nó không bị định luật nhân quả chi phối. Thực tại tuyệt đối cũng là thiệt tánh giác (tuệ minh). Cho nên, đối với các bậc giác ngộ, bậc A La Hán, hoặc những kẻ đă giải thoát khổ đau và phiền năo, hoặc kẻ có trí, th́ trong tâm họ có cái sáng suốt, cái tuệ minh, cái thực tại tuyệt đối, mà cái thực tại tuyệt đối nầy không bị định luật nhân quả chi phối.

- Ta Bà Ni chợt thét lên như con thú bị tử thương: chưa thể thọ tŕ được! Ta chưa chấp nhận điều ấy, ông Sa Môn đại ngôn kia. Hăy nghe đây! Đây không phải là câu hỏi thứ tư mà đây chỉ là phản vấn. Ông nói rằng có cái tuệ minh, xin lỗi tôi có lầm chăng, một cái tuệ minh? Vậy th́ giáo lư vô ngă, vô tự tính của đức Thế Tôn Sư của ông sẽ không c̣n chỗ đứng, bất khả lập, bất khả thuyết và nó đă mâu thuẫn từ tiền căn? Vậy phải trả lời làm sao cho kẻ học nữ Ta Bà khổ hạnh nầy: một giáo lư thường kiến vậy kia?

- Hăy b́nh tĩnh! Hăy b́nh tĩnh! Này nàng Bhadda đừng tự buộc ḿnh vào những thằng thúc! Đừng bị bịt mắt trước ngọn đèn sáng suốt tự tâm. Hăy nghe đây! Cho bần đạo hỏi một câu, với một câu thôi nàng sẽ tự giải quyết cho chính ḿnh. Câu hỏi như thế này: Cáng của ngọn đèn trước mắt nó thường hay đoạn?

- Chẳng phải thường- Nàng nghĩ- Thường sao được khi nó sinh diệt từng giây từng khắc! Chẳng phải đoạn, đoạn sao được khi nó đang hiện hữu!

 Thấy nàng Bhadda im lặng, tôn giả Xá Lợi Phất tung câu hỏi thứ hai:

- Này nàng Bhadda! Thuở nàng 5 tuổi, nàng thấy một bông hoa. Thuở nàng 30 tuổi nàng thấy một bông hoa. Nàng có thay đổi dẫu cái hoa có khác, quan niệm đẹp xấu có khác, nhưng cái thấy của nàng có thay đổi không?

- Không thể thay đổi, thưa tôn giả.

- Nó chẳng phải thường không?

***- Câu nầy tả tánh thấy và cái bị thấy. Tánh thấy thường hằng bất biến, đó là năng tri. Cái bị thấy hay đối tượng là những thực tại giả lập, hay thay đổi, vô thường tức là cái sở tri.

 

- Câu hỏi 4: Ta muốn hiểu cái sở tri về bậc A La Hán ở nhiều phương diện khác nhau. Vị ấy làm thế nào bước ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử đang xiết chảy?

- Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là ch́m đắm. Bậc A La Hán không bước tới, không dừng lại, vị ấy ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử! Này nàng Bhadda, cái đáp số ấy thậm thâm vi diệu, vi tế, vượt ngữ ngôn vượt suy luận, dành cho kẻ trí, kẻ thâm đại pháp, dành cho kẻ tu chứng. Có lên đường ai ăn mới biết no, chứ không để cho nàng - kẻ ngoại giáo, kẻ đứng ngoài cuộc, kẻ với tri thức thuần túy - muốn dùng cái hiểu biết nông cạn, cái tự ngă kiêu căng và đa dục của ḿnh, để nắm bắt cái siêu việt không thời gian, cái bất tử, cái chân phúc, cái niết bàn vô dục và tịch tịnh. Này nàng Bhadda! Nàng có đủ kham nhẫn tịch lặng để lắng nghe những lời như vậy không?...

****-Câu thứ tư nầy diễn tả rất thâm diệu về thiệt tánh giác trong hai giai đoạn, hàng phục vọng tâm và an trụ tâm.

 

- Câu hỏi 5: Làm thế nào ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử đang xiết chảy?

Trả lời: Bước tới là lăn trôi. Dừng lại là ch́m đắm; cho nên, không bước tới, không dừng lại ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử đang chảy xiết.

*-Bước tới: tiến về phía trước mặt: tương lai, khoảng không gian phía trước.

Bước tới là lăn trôi theo thời gian huyễn hóa, hay lăn trôi theo trần cảnh giả lập. Bước tới là lăn trôi theo sự vật huyễn hóa, nhân duyên chằng chịt, sanh tử luân hồi khổ đau phiền năo.

            Không bước tới là giai đoạn đầu của nhận thức đúng đối tượng giả lập và không chạy theo những ảo tưởng tức là giải thoát được khổ đau và phiền năo (phủ định những sự vật giả lập). Không bước tới là tri thức đúng được thực tại giả lập, đó là sự hiểu biết suông. Trong giai đoạn nầy chỉ thấy mọi sự giả vọng là không thật mà tránh nó đi, th́ trạng thái tâm lúc bấy giờ thanh thản, không c̣n bận bịu, dính dáng ǵ đến phiền năo khổ đau.Tuy nhiên, tri cũng chưa đủ mà cần phải hành.Trước tiên,khai mở đường đi đến thế giới chơn thật, thấy được con đường rồi tức là giai đoạn khai thị của tri thức. Đến giai đoạn hành, th́ phải ngộ nhập như phải đi th́ mới đến, ai ăn mới no. Tri thức đúng thực tại giả lập và phải thể nhập thực tướng của thực tại giả lập đó, là hai giai đoạn giác ngộ niết bàn tuyệt đối. Đó là trực nhận ngay thể không của sự vật. Sắc không khác không, Đưa tất cả thực tại giả lập vào thực tại tuyệt đối mà không c̣n thấy thực tại giả lập đó nữa.

* Dừng lại: Chận gịng thời gian phía sau lưng, là quá khứ. Dừng lại là trụ vào cái thực tại giả lập (quá khứ) mà ch́m đắm trong vọng tưởng triền miên, trong sanh tử luân hồi của gịng sống đang xiết chảy theo thời gian không ngừng. Không dừng lại là không trụ vào quá khứ cũng như không trụ vào tất cả các chỗ, vào các thực tại giả lập mà phải xa ĺa bốn tướng (Ngả tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng). Không bước tới và không dừng lại là vượt ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử.

Tương lai hay quá khứ không thể nắm bắt, bất khả đắc. Cho nên không nghĩ đến tương lai mà lăn trôi theo ảo giác, mà cũng không hồi tưởng quá khứ hay trụ vào vọng tưởng hoặc là thực tại giả lập mà phải xa ĺa bốn tướng. Vô thời không là thể trạng của một sát na hiện tiền, một khoảnh khắc hiện tại, thắp sáng được cái hiện hữu ấy cũng là khai mở con đường đi đến chân nguyên. Do đó, khi chúng ta không bước tới là dứt bặt nhân duyên sanh diệt, và không dừng lại là không trụ vào cái giả lập, th́ ngay đó vượt qua thời không rồi. Ngay lúc nắm bắt được cái vô thời không là giác ngộ niết bàn tuyệt đối, cũng là lúc ra khỏi gịng bộc lưu sanh tử đang chảy xiết. Thực vậy, người có đi ắt có đến, người có ăn ắt có no, chớ tri thức thuần túy chỉ là hí luận mà thôi.

Phổ Nguyệt Huỳnh Tấn Ban, Ph.D.

(Trích: Giác Ngộ và Giải Thoát, Chương: Đại Thừa Có Phải Bà La Môn Giáo Không?)

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/10/06