Thời Sự Y Học

BS Nguy�̃n Văn Thịnh

         

1/ MỘT CĂN BỆNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BỞI C�C TẾ B�O GỐC.

          Bệnh thiếu m�u h�nh liềm (an�mie falciforme), một căn bệnh xảy ra nơi người, được biểu hiện ở chuột, đ� được chữa l�nh bởi những tế b�o gốc được sản xuất kh�ng phải từ ph�i thai

          Trong v�ng chưa được hai tuần, c�ng cuộc nghi�n cứu về c�c tế b�o gốc đ� đồng thời kinh qua một cuộc c�ch mạng v� một sự gia tốc chưa từng c�. C�ng l�c, hai nh�m c�c nh� nghi�n cứu độc lập đ� c�ng bố h�m 12 th�ng 11 vừa qua c�c kết quả của c�c c�ng tr�nh vang dội. Thật vậy 2 nh�m nghi�n cứu n�y đ� th�nh c�ng � l�m trẻ h�a � c�c tế b�o trưởng th�nh của da để l�m ch�ng giống hệt với c�c tế b�o gốc ph�i thai (cellules souches embryonnaires) m� kh�ng cần phải kinh qua giai đoạn nh�n d�ng (clonage) của ph�i thai v� như vậy tho�t khỏi những vấn đề đạo đức li�n quan với giai đoạn n�y.
        Lần n�y, đ� l� một bằng cớ về nguy�n tắc (preuve de principe) đầu ti�n rằng một căn bệnh xảy ra nơi người, bệnh hồng cầu h�nh liềm (dr�panocytose), cũng được biết dưới t�n thiếu m�u h�nh liềm (an�mie falciforme), c� thể được chữa l�nh bằng những tế b�o gốc được sản sinh như thế. Một nh�m c�c nh� nghi�n cứu của Whitehead Institute for Biomedical Research de Cambridge (Massachusetts) h�m qua đ� c�ng bố c�c kết quả của c�ng tr�nh n�y tr�n site Internet của tạp ch� Science. Bệnh hồng cầu h�nh liềm l� một bệnh di truyền của h�moglobine, ph�n tử tải oxy được chứa trong c�c hồng cầu. C�c hồng cầu của những người bị bệnh thiếu m�u h�nh liềm c�  h�nh lưỡi liềm v� h�moglobine bất thường m� ch�ng chứa c� khuynh hướng kết tinh. C�c bệnh nh�n ở ch�u Phi v� Địa Trung Hải bị thiếu m�u, dễ bị nhiễm tr�ng v� c�c cục m�u đ�ng b�t c�c mạch m�u của c�c bệnh nh�n n�y lại.


CHUỘT ĐƯỢC NH�N T�NH H�A (SOURIS HUMANISES)

        Ch�nh trong một m� h�nh động vật ( tr�n chuột) m� việc điều trị bệnh n�y đ� được thực hiện th�nh c�ng .Thật vậy c� những ch� chuột được nh�n t�nh h�a (souris humanis�s) c� những tế b�o biểu hiện h�moglobine người đột biến của bệnh hồng cầu h�nh liềm. Trước hết người ta lấy c�c tế b�o da tr�n đu�i của những ch� chuột n�y. Cũng như trong c�c phương ph�p của Nhật v� Hoa Kỳ được c�ng bố v�o giữa th�ng 11 trong Cell et Science, c�c tế b�o được nu�i cấy đ� tiếp nhận những biến đổi di truyền ( 4 g�nes) l�m t�i lập chương tr�nh (reprogrammer)  tế b�o. C�c tế b�o n�y trẻ đi v� giống hệt với c�c tế b�o gốc ph�i thai. 24 d�ng (lign�es) c�c tế b�o gốc đ� được x�c lập, rồi được biến đổi nhờ những yếu tố hormone kh�c th�nh c�c tế b�o gốc sinh huyết  (cellules souches h�matopoi�tiques), l� nguồn gốc của c�c hồng cầu, bạch cầu v� tiểu cầu trong tủy xương. Sau đ� một trong c�c d�ng n�y đ� nhận g�ne của h�moglobine b�nh thường, thay thế cho g�ne bệnh của n� . Đ� l� một kỹ thuật được mệnh danh l� � ciblage g�n�tique sp�cifique �.
           Chỉ một v�i trong c�c tế b�o được t�i lập chương tr�nh như thế l� đ� sinh ra c�c tế b�o gốc sinh huyết b�nh thường. Một khi đ� thu được những tế b�o gốc � thuốc � (cellules souches m�dicaments) n�y rồi, c�c nh� nghi�n cứu đ� ti�m v�o c�c ch� chuột bị bệnh hồng cầu  h�nh liềm của người. Kh�ng những c�c nh� nghi�n cứu đ� th�nh c�ng sửa chữa được khuyết tật của h�moglobine, bằng c�ch thay thế 65% h�moglobine bị bệnh bằng c�c h�moglobine l�nh mạnh, m� c�ng tr�nh nghi�n cứu về c�c hồng cầu mới, được sản xuất từ c�c tế b�o gốc bị biến đổi n�y l� đ�ng phấn khởi .Triệu chứng thiếu m�u �t hơn, tủy xương chế tạo c�c hồng cầu mới c� k�ch thước, h�nh d�ng gần với b�nh thường hơn.
         Ở những người bị bệnh hồng cầu liềm, một trong những dấu chứng ch�nh l� sự sản xuất rất nhiều c�c tế b�o hồng cầu trẻ kh�ng trưởng th�nh (c�c r�ticulocytes) để b� lại sự chết sớm của c�c tế b�o hồng cầu trưởng th�nh : ở điểm n�y cũng vậy, số c�c tế b�o n�y giảm đi nơi c�c ch� chuột được điều trị.( LE FIGARO 7/12/2007)
 

2/ NHỮNG BI�N GIỚI CỦA TUỔI GI� KH�NG NGỪNG BỊ L�I LẠI

         C�ng ng�y c�ng c� nhiều người gi� tr�n thế giới. Nhưng họ c�ng ng�y c�ng hoạt động v� độc lập cho đến một lứa tuổi đ� cao.

        Tr�n thế giới hiện c� 600 triệu người tr�n 60 tuổi, hoặc 3 lần nhiều hơn c�ch nay 50 năm v� đến năm 2050 sẽ c� 2 tỷ người tr�n 60 tuổi, hoặc 3 lần nhiều hơn h�m nay.Việc gia tăng những người gi� tr�n h�nh tinh của ch�ng ta l� do tỷ lệ sinh đẻ v� tử vong thấp hơn. � Cuộc c�ch mạng tuổi thọ � ( la r�volution de la long�vit�) n�y, theo từ ngữ của gi�o sư Fran�oise Forette, b� chủ tịch của Cơ quan  l�o khoa quốc gia, do những sự biến đổi c� t�nh c�ch lịch sử , cần phải kế hoạch h�a tương lai, về lao động, y tế v� kiến tr�c.

         C�c Viện H�n L�m khoa học v� y học, theo s�ng kiến của gi�o sư Etienne-Emile Baulieu, đ� tổ chức h�m qua một buổi họp rất l� th� về đề t�i n�y, vừa cố gắng gắn liền với t�nh thời sự. 

       �  Đ�u l� những yếu tố khoa học v� y học vẫn c�n bệnh vực cho tuổi về hưu l� 60 ? �

         Ở Ph�p c�c phụ nữ sống trong 83 năm v� đ�n �ng trong 78 năm, th�m 3 th�ng tuổi thọ bổ sung mỗi năm. Hiện nay trong c�c nước gi�u c�, 1/5  d�n số  l� những người tr�n 60 tuổi v� trong 20 năm đến tỷ lệ n�y sẽ l� 1/3.
          Jean-Marie Robine ( Inserm, đơn vị d�n số v� y tế ) n�i : � Việc gia tăng số những người gi� sẽ tạo n�n một vấn đề của quả đất trong phần hai của thế kỷ n�y. Ở Nhật Bản, v�o đầu những năm 1970, kh�ng c� những người gi� trăm tuổi (centenaire), ng�y nay số người b�ch ni�n l� 30.000. Ở Ph�p, kh�ng c� người gi� 100 tuổi trong những năm 1970, ng�y nay số người n�y l� 15.000 �.V�o năm 2050, theo dự đo�n của Ph�p, số người gi� trăm tuổi sẽ  l� 330.000 người.

        Nếu ch�ng ta chấp nhận � tưởng cho rằng sự l�o h�a (vieillissement) l�m    � gi� � đi, th� những con số n�y c� thể c� vẻ kh� l�m quan ngại. Nhưng nghịch l� thay kh�ng phải l� như vậy.Tuổi m� ch�ng ta trở n�n gi�, tuổi m� ch�ng ta chịu những tật nguyền l�c gi� nua đ� kh�ng ngừng l�i lại trong c�c nước c�ng nghiệp ho�. 

        Robert Rochefort nhấn mạnh đến mức độ n�o thuật ngữ � tuổi gi� � (vieillesse) kh�ng c�n th�ch ứng để m� tả sự tiến h�a của x� hội :

         � Ng�y nay, được gọi l� gi� trung b�nh bắt đầu ở tuổi 76-77. Kh�ng c�n l� 65 tuổi nữa. Ngưỡng cửa của sự l�o h�a c� thể đạt đến 82 tuổi v�o năm 2040, nếu ch�ng ta lạc quan. Thậm ch� ch�ng ta c� thể n�i rằng sẽ kh�ng c� sự gia tăng những người gi�, v� lẽ lứa tuổi định nghĩa tuổi gi� (vieillesse) sẽ gia tăng .

� tưởng một sự l�o h�a x� hội nhưng kh�ng l�m gia tăng tỷ lệ � người gi� � hiện nay đang đạt đến đ�ch của n�.

          Theo Robert Rochefort, định nghĩa của tuổi gi� phải được căn cứ tr�n 3 yếu tố li�n kết với nhau : y tế ( t�nh trạng sức khỏe v� mức độ độc lập) ; x� hội (c�c mối li�n hệ gia đ�nh v� x� hội) ; t�m l� ( khả năng dự ph�ng trong tương lai v� h�nh động).
         Ng�y nay, ch�ng ta phải chăng sống l�u thật sự tốt hơn  ? Nhiều c�ng tr�nh nghi�n cứu, đặc biệt ở Hoa Kỳ, đ� l�m s�ng tỏ sự kiện l� hy vọng sống l�u nhưng kh�ng mất khả năng ( l�esp�rance de vie sans incapacit� ) đ� gia tăng r� rệt với tuổi thọ trung b�nh. Một c�ng tr�nh điều tra lớn của Ch�u �u, được tiến h�nh bởi OCDE nhằm đ�nh gi� sự độc lập tr�n nhiều ti�u chuẩn ( khả năng mặc quần �o, khả năng ăn, di chuyển một m�nh) đ� chứng tỏ rằng tỷ lệ bị lệ thuộc      (taux de d�pendance) rất thay đổi t�y theo nước. Ở Ph�p, hy vọng được sống th�m (esp�rance de vie) của người khỏe mạnh ở tuổi 50 l� v�o khoảng 25 năm.

       Ch�ng ta c� thể c�ng ng�y c�ng sống l�u hơn m� kh�ng cần phải thay đổi thời gian lao động ? Theo Robert Rochefort, đ� l� điều kh�ng thể tưởng tượng được tr�n b�nh diện nh�n khẩu học : � Dĩ nhi�n sẽ phải lao động l�u hơn. Nhi�n hậu, ch�nh c�i ngưỡng của tuổi về hưu v�o năm 70 tuổi l� phải nhắm đến . Đ� đồng thời l� vấn đề c�ng minh để trả tiền hưu tr�. Số năm trung b�nh được sống th�m đạt được sau 60 tuổi ( 3 th�ng mỗi năm) phải được chia sẻ giữa tuổi hưu tr� v� thời gian lao động �. Sự việc l�m việc l�u hơn phải chăng l� một yếu tố bảo vệ tr�n b�nh diện sức khỏe ? � Kh�ng nhất thiết. Nhưng sự việc c� nhiều hoạt động sau khi về hưu sẽ chia hai nguy cơ bị lệ thuộc �, gi�o sư Darligues ( Bordeaux) đ� c�ng nhận như thế. ( LE FIGARO 5/12/2007)

3/ ĐAU ĐẦU M�N T�NH V� NGUY CƠ MẮC BỆNH TRẦM CẢM

         Một nh�m c�c nh� nghi�n cứu Nhật Bản, T.Maeno v� c�c cộng sự vi�n đ� quan t�m đến 177 bệnh nh�n đến kh�m v� đau đầu, từ th�ng gi�ng đến th�ng 12, ở 19 trung t�m y tế tuyến đầu. Họ đ� theo d�i những bệnh nh�n n�y trong v�ng một năm. C�c nguời tham dự đ� điền một bảng c�u hỏi trong đ� họ được y�u cầu m� tả thời gian v� mức độ nghi�m trọng của chứng đau đầu, mức độ nghi�m trọng n�y c� thay đổi kh�ng v� c� c�c triệu chứng kh�c k�m theo với triệu chứng đau đầu kh�ng. Ngo�i ra c�c nh� nghi�n cứu cố gắng t�m xem trong số những người n�y c� ai đồng thời bị chứng trầm cảm kh�ng. C�c kết quả chứng tỏ rằng chứng trầm cảm thường xảy ra hơn nơi những bệnh nh�n bị đau đầu nặng, nơi những người c� đau đầu k�o d�i hay nơi những người c� sự hiện diện của những triệu chứng kh�c.Theo c�c t�c giả, bệnh trầm cảm nặng (d�pression majeure) thường xảy ra nơi những bệnh nh�n đến thăm kh�m nơi c�c thầy thuốc ở tuyến đầu. Sự hiện diện của nhiều triệu chứng th�n thể v� sự hiện diện của đau đầu c� thời gian k�o d�i ( > 6 th�ng ) l� một chỉ dấu thực tiễn để ph�t hiện chứng trầm cảm nặng.( LE JOURNAL DU MEDECIN 7/12/2007)

4/ HUYẾT KHỐI TẮC MẠCH V� NGUY CƠ BỊ NHỒI M�U CƠ TIM V� TAI BIẾN MẠCH M�U N�O.

            Một v�i c�ng tr�nh nghi�n cứu x�c lập mối li�n hệ giữa huyết khối tĩnh mạch (thromboembolie) v� xơ vữa động mạch ( ath�roscl�rose) với nguy cơ bị nhồi m�u cơ tim hay tai biến mạch m�u n�o.

          Với mong muốn l�m s�ng tỏ mối li�n hệ khả dĩ n�y, Hendrik Toft Sorensen v� nh�m nghi�n cứu của �ng đ� tiến h�nh một c�ng tr�nh nghi�n cứu dựa tr�n c�c th�ng tin thu nhận được từ c�c ng�n h�ng dữ kiện y khoa ở Đan Mạch. Sau khi đ� loại trừ những người bị bệnh tim mạch được x�c nhận, c�c t�c giả đ� nghi�n cứu nguy cơ bị nhồi m�u cơ tim hay tai biến mạch m�u n�o nơi 25.799 bệnh nh�n bị huyết khối tĩnh mạch s�u (thrombose veineuse profonde), 16.925 bệnh nh�n với nghẽn mạch phổi (emboilie pulmonaire) v� 163.566 người được d�ng l�m kiểm chứng.
          C�c bệnh nh�n c� tiền sử huyết khối tĩnh mạch s�u, trong suốt năm đầu sau biến cố huyết khối, c� 1,60 lần c� khả năng hơn ph�t triển một nhồi m�u cơ tim v� c� nguy cơ bị tai biến mạch m�u n�o 2,19 lần cao hơn. C�c con số n�y lần lượt l� 2,60 v� 2,93 nơi những bệnh nh�n với tiền sử nghẽn mạch phổi. Theo c�c t�c giả ,với c�c quan s�t n�y dựa tr�n 20 năm theo d�i, th� nguy cơ tăng cao n�y vẫn c�n tồn tại l�u d�i. 
( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)


5/  STRESS SAU CHẤN THƯƠNG V� HEN PHẾ QUẢN

         C�c c�ng tr�nh nghi�n cứu trước đ�y đ� gợi � rằng những người trưởng th�nh bị hen phế quản c� những vấn đề �u lo (angoisse) nhiều hơn những người b�nh thường. R Goodwin (Hoa Kỳ) v� c�c cộng sự vi�n đ� tiến h�nh một c�ng tr�nh nghi�n cứu tr�n những người sinh đ�i được chọn trong số những cựu chiến binh của chiến tranh Việt Nam nhằm l�m s�ng tỏ mối li�n hệ giữa stress sau chấn thương (stress posttraumatique) v� hen phế quản. C�ng tr�nh bao gồm 3.065 những người sinh đ�i nam ( sinh từ 1939 v� 1956 ) đ� tham gia một c�ch t�ch cực v�o cuộc chiến tranh n�y. C�c t�c giả đ� x�c lập một c�ch r� r�ng rằng những tiền sử về chứng trầm cảm (d�pression) hiện diện thường hơn nơi những người tham gia bị hen phế quản so với nh�m những người l�nh mạnh. Theo c�c nh� nghi�n cứu, c�c triệu chứng stress sau chấn thương đ� li�n kết một c�ch đ�ng kể với tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản. Một sự hiểu biết tốt hơn về mối li�n hệ của hai bệnh n�y tất nhi�n l� hữu �ch trong triển vọng ph�ng ngừa cũng như chữa l�nh bệnh. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)
 

6/ D�Y VỎ N�O NƠI NHỮNG NGƯỜI BỊ CHỨNG ĐAU NỬA ĐẦU (MIGRAINE).

          Một c�ng tr�nh nghi�n cứu của Hoa Kỳ chứng tỏ rằng vỏ n�o cảm gi�c- vận động ( cortex sensorimoteur ) trở n�n d�y th�m nơi những người bị chứng đau nửa đầu ( migraine). Nguy�n nh�n hay hậu quả ?  B�c sĩ Nouchine Hadjikani (Hoa Kỳ) v� c�c cộng sự vi�n đ� đo bề d�y của vỏ n�o cảm gi�c-vận động nơi 24 bệnh nh�n bị chứng đau nửa đầu v� nơi những người mạnh khỏe c� c�ng đặc điểm về tuổi v� giống t�nh.Trong số 24 bệnh nh�n, 12 người c� chứng đau nửa đầu với tiền triệu (aura) v� 12 người kh�c c� chứng đau nửa đầu nhưng kh�ng c� tiền triệu. C�c kết quả được b�nh luận trong một th�ng b�o của BBC news (20/11/2007).  C�c t�c giả đ� x�c nhận rằng những người với chứng đau nửa đầu c� vỏ n�o cảm gi�c-vận động trung b�nh d�y hơn ( gia tăng đến 21%) so với những người của nh�m kiểm chứng. Hiện tượng n�y r� rệt nhất trong phần

đu�i ( partie caudale ) của vỏ n�o cảm gi�c-vận động , nơi đ�y c� v�ng của d�y thần kinh sinh ba (zone du trijumeau) tiếp nhận những th�ng tin cảm gi�c từ đầu v� mặt. V�ng n�y đ�ng một v�i tr� chủ yếu trong việc xử l� c�c th�ng tin th�n thể-cảm gi�c ( somatosensoriel ), đau đớn hay l� kh�ng. Việc vỏ n�o d�y th�m của những bệnh nh�n n�y c� thể l� phản ảnh của t�nh qu� nhạy cảm đối với c�c k�ch th�ch, điều n�y giải th�ch tại sao những người bị chứng đau nửa đầu cũng thường c� những vấn đề đau đớn kh�c như đau lưng (lombalgie), đau h�m. Những biến đổi h�nh th�i n�y tương ứng với c�c bất thường được quan s�t trong sự vận h�nh của những đường thần kinh th�n thể - cảm gi�c sinh ba dưới vỏ n�o ( voies somato-sensorielles trig�min�es sous-corticales ), đ� được l�m s�ng tỏ trong một nghi�n cứu cũ hơn. C�c t�c giả kết luận rằng những thay đổi h�nh th�i của vỏ n�o cảm gi�c-vận động nơi những bệnh nh�n bị chứng đau nửa đầu c� thể đ� l�m ph�t khởi những cơn đau nửa đầu lập đi lập lại hay cũng c� thể l� kết quả của ch�ng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 27/11/2007)

 
7/ VIỆC TI�M CHỦNG TRẺ EM V� HEN PHẾ QUẢN.

            Theo c�c dữ kiện đang c� hiện nay ( c�c c�ng tr�nh nghi�n cứu quan s�t )  th� kh�ng c� mối quan hệ giữa việc ti�m chủng c�c trẻ em với BCG hay chống bệnh ho g� với nguy cơ ph�t triển về sau n�y của bệnh hen phế quản. Ran Balicer v� c�c c�ng sự vi�n (Israel) đ� viết như vậy. Suốt trong những năm vừa qua, c�c nh� nghi�n cứu rất ch� � đến sự hiện hữu khả dĩ của một mối li�n hệ giữa việc ti�m chủng v� sự ph�t triển c�c bệnh tạng dị ứng (affections atopiques)  C�c t�c giả đ� xem lại c�c t�i liệu y học v� chọn 7 c�ng tr�nh nghi�n cứu b�n về việc ti�m chủng chống lại bệnh ho g� ( li�n quan đến 186.663 trẻ em ) v� 5 c�ng tr�nh nghi�n cứu d�nh cho ti�m chủng BCG ( tr�n 41.479 trẻ em ). C�c t�c giả đ� kh�ng t�m thấy một mối li�n hệ n�o c� � nghĩa về mặt thống k� giữa một trong những vaccin n�y với tỷ lệ mắc phải hen phế quản suốt trong thời kỳ thơ ấu v� thiếu ni�n.( LE JOURNAL DU MEDECIN 27/11/2007)


8/ CH�M CỨU ĐƯỢC C�NG NHẬN C� HIỆU QUẢ  ĐỐI   VỚI C�C BỆNH N�O  ?

          Năm 1979, Tổ Chức Y Tế Thế Giới đ� c�ng nhận t�c dụng của ch�m cứu trong một số bệnh l� như vi�m dạ d�y, đại tr�ng co thắt (colon spastique), b�n, ti�u chảy, vi�m xoang (sinusite), vi�m phế quản, hen phế quản, nhiễm tr�ng đường h� hấp lập đi lập lại, đau đầu , chứng m�y cơ (tics), đau cổ, đau li�n sườn, vai đ�ng băng (�paule gel�e), tennis-elbow, vi�m g�n (tendinite), đau lưng, vi�m khớp, bệnh l� về tiết niệu v� phụ khoa.

          Năm 1998, một hội nghị nhất tr�, được tổ chức bởi Viện Quốc Gia Y Tế     ( National Institute of Health ) Hoa Kỳ, đ� kết luận về t�nh hiệu quả của ch�m cứu l�n n�n v� mửa sau giải phẫu v� do h�a học trị liệu nơi người trưởng th�nh, cũng như tr�n chứng đau răng sau giải phẫu. C�c chuy�n gia cũng c�ng nhận những t�nh huống kh�c trong đ� ch�m cứu c� thể hữu �ch như điều trị hỗ trợ (traitement adjuvant), thậm ch� như một điều trị thay thế được đưa v�o trong chương tr�nh điều trị :   nghiện (addiction), phục hồi sau tai biến mạch m�u n�o, đau đầu, đau quặn l�c c� kinh, tennis-elbow, đau xơ cơ (fibromyalgie), đau c�n cơ (douleurs myofasciales), vi�m xương khớp (ost�oarthrite), đau lưng, hội chứng ống cổ tay (syndrome du canal carpien), hen phế quản.V� rằng � những nghi�n cứu bổ sung khả dĩ kh�m ph� những l�nh vực bổ sung trong đ� ch�m cứu c� thể c� �ch �( LE GENERALISTE 6/12/2007)

 
9/ C�C THUỐC GIẢM ĐAU NHA PHIẾN ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐẾU ĐẶN C� THỂ KH�NG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC L�I XE.

         C�c bệnh nh�n uống thuốc giảm đau c� t�c dụng mạnh như c�c chất nha phiến (opioids) thường được khuy�n kh�ng n�n điều khiển vận h�nh c�c m�y m�c nặng bởi v� t�c dụng an thần của những loại thuốc n�y. Nhưng một c�ng tr�nh nghi�n cứu mới đ�y nhận thấy rằng những người sử dụng đều đặn thuốc chống đau nha phiến để điều trị đau đớn m�n t�nh vẫn l�i xe tốt tr�n lộ như phần lớn những người kh�c.

         C�c nh� nghi�n cứu đ� đi đến kết luận n�y sau khi y�u cầu hai nh�m khoảng 50 người t�nh nguyện mỗi nh�m, sử dụng một m�y l�i xe giả (a driving simulator) trong 12 ph�t. C�c th�nh vi�n trong một nh�m l� những người sử dụng đều đặn morphine d�ng bằng đường miệng ; c�n c�c người tham dự của nh�m kia th� kh�ng uống thuốc giảm đau.

        C�ng tr�nh nghi�n cứu, được tr�nh b�y tại một hội nghị mới đ�y của Hiệp hội c�c nh� g�y m� Hoa Kỳ, đ� sử dụng m�y l�i xe giả để đo thời gian phản ứng, tỷ lệ tai nạn v� đ� nhận thấy �t c� sự kh�c nhau giữa hai nh�m.

         Nh� l�nh đạo c�ng tr�nh nghi�n cứu, Asokumar Buvanendran thuộc Rush University Medical Center ở Chicago, đ� n�i rằng những người sử dụng đều đặn c�c thuốc nha phiến như morphine đ� ph�t triển một sự dung nạp thuốc (tolerance) đối với c�c t�c dụng phụ.

        � Nếu t�i đột ngột uống 30 mg, �, �ng n�i như vậy , � c� lẽ t�i sẽ ngủ trong 10 giờ, trong khi người n�o đ� cũng uống 30 mg morphine n�y từ 2 năm qua, th� c� lẽ cũng vẫn tỉnh t�o như t�i b�y giờ �.

         Buvanendran n�i rằng �ng ta đ� bắt đầu c�ng tr�nh nghi�n cứu sau khi một bệnh nh�n đ� n�i với �ng rằng đơn xin việc l�m t�i xế xe bus của anh ta bị b�c chỉ v� l� do n�y.

        �ng n�i, những điều được t�m thấy gợi � rằng việc tuyển dụng v� những hạn chế kh�c l�n những người sử dụng đều đặn thuốc nha phiến chống đau cần n�n được x�t lại.

       Nếu kh�ng, những người sử dụng thuốc nha phiến đều đặn n�y sẽ c� thể bị từ chối c� một cuộc sống b�nh thường một c�ch bất c�ng .( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/12/2007)


10/ NẮNG MẶT TRỜI QU� NHIỀU C� THỂ L�M GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG.

         C�c phụ nữ sống trong c�c nước c� nhiều �nh nắng mặt trời nhất dường như bị ung thư nội mạc tử cung (endometrial cancer) �t hơn so với c�c phụ nữ sống xa x�ch đạo.

         Sử dụng c�c dữ kiện to lớn của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế, c�c nh� nghi�n cứu đ� nhận thấy những tỷ lệ mắc phải ung thư nội mạc tử cung thấp hơn nơi những người được tiếp x�c nhiều hơn với c�c bức xạ UVB, �nh s�ng tử ngoại gi�p da sản xuất vitamin D.

       � C� một li�n hệ to�n học �, Cedric Garland, gi�o sư y khoa gia đ�nh v� ph�ng ngừa thuộc Đại Học California, San Diego, v� đồng t�c giả của c�ng tr�nh nghi�n cứu, được c�ng bố trong số th�ng 11 của tờ Preventive Medicine, đ� ph�t biểu như vậy.          
         C�c nh� nghi�n cứu đ� thu thập th�ng tin về ung thư nội mạc tử cung trong 107 nước. Ở cả Nam lẫn Bắc b�n cầu , vĩ độ (latitude) c�ng cao th� nguy cơ mắc phải ung thư nội mạc tử cung c�ng lớn. C�c nh� nghi�n cứu cũng nhận thấy rằng tỷ lệ ăn thịt cao hơn v� nh�m người c� thể trọng qu� gia tăng được li�n kết với nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung cao hơn.

      Mặc dầu c�c nh� nghi�n cứu kh�ng đo nồng độ vitamin D, Garland n�i, � Ch�ng t�i tin rằng vitamin D l� nguy�n nh�n của c�c điều đ� được t�m thấy, bởi v� sự ph�n bố địa l� tương ứng với sự ph�n bố của c�c loại ung thư kh�c đ� được chứng tỏ l� c� li�n quan với nồng độ của vitamin D trong c�c c�ng tr�nh nghi�n cứu � ( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 29/11/2007)

 BS NGUYỄN VĂN THỊNH
 (1
4/12/2007)
 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QU�T HỌC TR�NH HỘI �ỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VI�N VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright � 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/27/07