Xung Đột Trường Sa và Trạng Thái Ḥa B́nh Mong Manh Trên Biển (Bài 1)

Trần Vinh Dự -- 08 tháng 12, 2007

Phần 1: Tranh chấp trên Biển Đông qua cái nh́n của người ngoài cuộc

Tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông luôn đứng đầu bảng với tư cách là nguồn gốc gây bất ổn định ở Đông Nam Á. Quần đảo Trường Sa, với khoảng hơn 40 đảo và băi đá lớn nhỏ[1], là nơi tranh chấp giữa Malaysia, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia và Brunei, trong đó chủ chốt nhất là 5 nước đầu tiên. Cuộc tranh chấp này có vẻ như sẽ không có lời giải trong tương lai gần. Mặc dù các bên đều mong muốn giải quyết vấn đề một cách ḥa b́nh, bạo lực quân sự đă từng được sử dụng và có thể sẽ c̣n được sử dụng nữa – nhiều khả năng là với các hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều[2]. Ngày nay, các bên đều có lợi từ sự ổn định trong khu vực và điều này khiến cho triển vọng xảy ra xung đột quân sự có vẻ thấp, nhưng tiềm năng xảy ra xung đột quân sự th́ vẫn c̣n nguyên vẹn, thậm chí có thể ngày một lớn dần.

Những ḥn đảo và băi đá trên Trường Sa đều thuộc loại rất nhỏ, nhiều băi đá lúc ch́m lúc nổi theo sự lên xuống trong ngày của mực nước biển. Những ḥn đảo và băi đá này đều nằm rất xa đất liền và dân thường không thể sinh sống ở đó được. Vậy cái ǵ làm cho chúng trở nên hấp dẫn đến vậy? Dĩ nhiên là không phải đất đá ở đó quư hiếm hơn đất đá ở trong đất liền. Rowan[3] cho rằng có 3 lư do quan trọng ngoài cá và san hô:

A. Mở rộng biên giới quốc gia và vùng đặc quyền kinh tế: Tất cả các nước đang tranh chấp trong vùng Trường Sa đều đă kư vào Công ước quốc tế về Luật biển. Nó quy định mỗi nước có quyền mở rộng biên giới lănh thổ của ḿnh tới 12 hải lư ra biển. Ngoài ra mỗi nước c̣n có được sở hữu Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) vượt khỏi phạm vi lănh thổ tới 200 hải lư. Như vậy, sở hữu được các ḥn đảo ở Trường Sa sẽ giúp các nước mở rộng vùng lănh thổ và vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh. Tuy nhiên, công ước này quy định rằng không thể dùng các băi đá để xác định biên giới và vùng đặc quyền kinh tế. Các băi đá, theo định nghĩa, là những nơi con người không thể sống và thực hiện các hoạt động kinh tế. Một số nước như Trung Quốc đă khai thác vấn đề này và t́m cách biến các băi đá nửa ch́m nửa nổi thành những nơi con người có thể sinh sống bằng cách âm thầm vận chuyển đất đá – vật liệu xây dựng từ đất liền ra xây dựng các công tŕnh kiên cố trên biển.

B. Dầu mỏ và Khí đốt: Vùng đặc quyền kinh tế sẽ không có nhiều ư nghĩa cho lắm nếu nó thuộc vùng biển nghèo tài nguyên. Nhiều nguồn tin, đặc biệt là từ Trung Quốc, cho rằng trữ lượng dầu mỏ trong vùng Trường Sa lên tới 105 tỉ thùng và nếu tính cả vùng Biển Đông th́ lên tới 213 tỉ thùng. Tuy nhiên, ước lượng của Bộ Năng lượng Mỹ cho rằng trữ lượng dầu mỏ của toàn bộ vùng Biển Đông chỉ vào khoảng 7 tỉ thùng mà thôi, rất thấp so với một số vùng biển khác trên thế giới (xem Bảng Một). Trung Quốc cũng ước lượng có khoảng 2000 ngàn tỉ cubic feet khí đốt dưới ḷng Biển Đông trong khi Bộ Năng lượng Mỹ ước tính chỉ khoảng 150,3 ngàn tỉ cubic feet. Trên thực tế th́ dầu mỏ và khí đốt chưa bao giờ được t́m thấy trong vùng Trường Sa cả[4]. Có vẻ như người Trung Quốc trong cơn khát năng lượng đă có cái nh́n quá lạc quan về tài nguyên dầu mỏ trên Biển Đông.

BẢNG MỘT

DẦU MỎ Ở BIỂN ĐÔNG SO VỚI CÁC KHU VỰC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI

 

Trữ Lượng

Dầu Mỏ

Đo Được

(Tỉ Barrels)

Trữ Lượng Khí

Đốt Đo Được (Ngàn Tỉ Cubic Feet)

Mức Độ Khai

Thác Dầu Mỏ (Triệu Barrels/Ngày)

Mức Độ Khai Thác Khí Đốt (Ngàn Tỉ Cubic Feet/Year)

Caspian Sea Region

17.2-32.8

232

1.6

4.5

North Sea Region

16.8

178.7

6.4

9.4

Persian Gulf

674.0

1,923.0

19.3

8.0

Biển Đông

(ước tính) 7.0

(ước tính)150.3

2.2

3.2

Số liệu về dầu mỏ của năm 2003 và khí đốt của năm 2002.

Nguồn: Bộ Năng Lượng, Hoa Kỳ

C. Địa chính trị: Kiểm soát Biển Đông cũng đồng thời có nghĩa là kiểm soát tuyến giao thương lớn số 2 của thế giới. Hàng năm có khoảng hơn một nửa các tàu vận tải hạng nặng của thế giới đi qua các eo biển Malacca, Sunda và Lombok, phần lớn để tới Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Lượng dầu mỏ và khí hóa lỏng đi qua Biển Đông lớn gấp 3 lần lượng dầu khí đi qua kênh Suez và gấp 15 lần lượng dầu khí đi qua kênh Panama[5]. Nhiều nhà phân tích cho rằng Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông một phần là muốn kiểm soát con đường vận chuyển này. Tất nhiên thay v́ đi qua Biển Đông, các tàu vận tải có thể đi xuôi xuống phía Nam, qua vùng biển của Indonesia rồi ngược lên Đông Bắc Á. Tuy nhiên, nếu đi theo lộ tŕnh này th́ chi phí vận chuyển tăng lên khá nhiều (xem Bản Đồ Một).

Nếu Trung Quốc hoàn toàn kiểm soát khu vực này, th́ theo cách gọi của nhiều người, Biển Đông sẽ chở thành cái ao nhà của Trung Quốc. Họ có thể gây khó khăn cho những tàu vận tải đi qua khu vực và v́ thế có thể gây ra những tổn thất kinh tế cho Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước khác cần tới tuyến đường này. Ngoài ảnh hưởng tới vùng Đông Bắc Á về mặt thương mại, việc kiểm soát vùng Biển Đông c̣n tạo ảnh hưởng và sức ép tới các nước trong ASEAN, tạo ra vùng cấm bay và hải phận cấm hoạt động (aerial and sea denial zone) trong đó các lực lượng đối phương không được sử dụng không phận và hải phận trong những khoảng thời gian nhất định[6].

BẢN ĐỒ MỘT

LUỒNG HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN QUA BIỂN ĐÔNG

Tóm lại, lợi ích của việc kiểm soát Trường Sa nằm ở việc mở rộng biên giới lănh thổ và vùng đặc quyền kinh tế. Điều này trở nên quan trọng nếu dưới ḷng Biển Đông có trữ lượng dầu mỏ lớn. Ngoài ra c̣n có các lợi ích về mặt địa chính trị khác, tuy nhiên có lẽ nó không có nhiều ư nghĩa lắm đối với nước kiểm soát Trường Sa trừ khi họ có lực lượng quân sự mạnh có khả năng hoạt động linh hoạt và rộng khắp trên biển.

V́ có những lợi ích nhất định như vậy, các nước trong khu vực đă không ngừng t́m cách chứng minh chủ quyền đối với Trường Sa. Tuy nhiên, ngay cả định nghĩa khu vực mang tên Trường Sa cũng không rơ ràng và liên tục thay đổi. Trong một nghiên cứu năm 1996, Dzurek[7] cũng chỉ ra Việt Nam đă mở rộng định nghĩa của ḿnh về Trường Sa giữa các năm 1988 và 1992. Phía Trung Quốc cũng có những động thái tương tự. Để khẳng định chủ quyền, các bên đều sử dụng những bằng chứng lịch sử, đồng thời củng cố sự hiện diện của ḿnh trên Trường Sa. Theo Vũ Quang Việt[8], các luận cứ mà mỗi bên đưa ra, trong đó có cả của Việt Nam và Trung Quốc, đều thiếu thuyết phục trong việc biện minh chủ quyền trên toàn bộ vùng lănh hải này.

Phần 2: Bàn cờ, người chơi và những nước đi

Như đă đề cập, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia và Brunei là các bên tham gia vào cuộc tranh chấp ở Trường Sa, trong đó chủ chốt nhất là 5 nước đầu tiên. Để xác định các chiến lược mà mỗi bên sử dụng, tôi đă thực hiện thống kê các động thái mỗi nước đă dùng trong ṿng 3 thập kỷ trở lại đây và chia chúng làm 6 loại (xem Bảng Hai). Việc chia các chiến lược thành 6 nhóm là một việc làm đơn giản hóa cần thiết để giúp các phân tích sâu hơn về các tương tác chiến lược trong vùng biển này.

BẢNG HAI

CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC BÊN THAM GIA

Chiến lược

Kư hiệu

Mức độ khiêu khích

Khẳng định chủ quyền một cách h́nh thức trong khi không thực sự kiểm soát biển, đảo: chỉ khẳng định chủ quyền trên giấy tờ hoặc diễn ngôn ngoại giao

C1

Rất thấp

Kiểm soát và bảo vệ các vùng biển, đảo hiện có. Không thực hiện các hành vi khiêu khích nào khác, không chủ động chống lại đối phương trừ khi bị khiêu khích quân sự trên các đảo mà ḿnh đang kiểm soát.

C2

Thấp

Bảo vệ nguyên trạng, sẵn sàng chống lại các hành vi của đơn phương của đối phương (như đánh cá, thăm ḍ, khai thác dầu khí, xây dựng trên các băi đá nhằm biến băi đá thành đảo có người ở, cắm cột mốc…)

C3

Vừa phải

Công khai hành xử như đương nhiên có toàn bộ chủ quyền. Thí dụ: tổ chức đánh cá, thăm ḍ và khai thác dầu khí, du lịch, tập trận, bắt giữ hoặc bắn tàu vận tải và đánh cá của đối phương…

C4

Khiêu khích

Ngấm ngầm thay đổi nguyên trạng của t́nh h́nh như xây dựng trên các băi đá nhằm biến băi đá thành đảo, cắm cột mốc…

C5

Rất khiêu khích

Khiêu chiến và tấn công quân sự nhằm chiếm các đảo của đối phương bằng vũ lực.

C6

Chiến tranh

Theo Bảng Hai, các chiến lược sẽ có mức độ khiêu khích khác nhau từ rất thấp (C1) tới rất khiêu khích (C5) và đạt cực điểm là tiến hành chiến tranh (C6). Mỗi chiến lược khi thực hiện sẽ gây ra những tổn thất nhất định và đem lại những lợi ích nhất định kèm theo những rủi ro tiềm tàng. Một trong những sai lầm có ở nhiều phân tích về chiến lược trên Biển Đông của Việt Nam là tập trung vào phân tích cân bằng quân sự để xem ai thắng ai thua. Cách nh́n của tôi là không phân tích biệt lập dưới góc độ quân sự mà nh́n dưới góc độ lợi ích tổng quát. Câu hỏi ở đây không phải là nếu khiêu chiến th́ có chiếm được các đảo trên Trường Sa hay không. Mà câu hỏi là với mỗi chiến lược cụ thể từ C1 tới C6, chi phí, lợi ích và rủi ro cho từng chiến lược là ǵ. Và như thế, nếu chỉ nh́n vào C6, th́ câu hỏi sẽ là nếu khiêu chiến, th́ lợi ích thực sự thu lại sau khi trừ hết đi các phí tổn (về kinh tế, quân sự, ngoại giao và h́nh ảnh quốc gia) có đáng giá hay không. Nếu câu trả lời là KHÔNG, th́ chiến lược đó sẽ không được thực hiện cho dù về năng lực quân sự để cưỡng chiếm là dư thừa.Khi một bên tính toán chi phí, lợi ích và rủi ro cho mỗi chiến lược mà họ toan tính thực hiện, sau đây là ba yếu tố cốt lơi để họ dựa vào:

A. Tác động của bên thứ 3 có thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược này hay không: Ví dụ, Trung Quốc đă rất khôn khéo trong việc lợi dụng các điều kiện quốc tế để thực hiện các chiến lược thích hợp. Điển h́nh nhất là việc họ chiếm Hoàng Sa vào năm 1974. Khi đó Mỹ đă bỏ rơi Miền nam Việt Nam và các quan tâm của thế giới nói chung c̣n đang đổ dồn về cuộc chiến trong đất liền giữa Nam và Bắc Việt. Tương tự như vậy, họ đă chiếm một số đảo ở Trường Sa từ tay Việt Nam năm 1988 khi mà Liên Xô và khối Đông Âu đang tan ră và là tâm điểm thu hút sự chú ư của thế giới. Trung Quốc đă KHÔNG chiếm Trường Sa vào năm 1979 trong khi họ thực hiện cuộc xâm lược trên đất liền. Lư do là nếu thực hiện cuộc chiến ở Trường Sa, họ sẽ thu hút hải đội cực mạnh của Liên Xô tới khu vực và nếu phải giao chiến với hải quân Liên Xô th́ chắc chắn họ sẽ thua, thậm chí có thể sẽ mất luôn cả Hoàng Sa.

Trong điều kiện như hiện nay, xu thế chung của quốc tế là duy tŕ ḥa b́nh để phát triển, v́ thế thiệt hại về ngoại giao, kinh tế và ḷng tin quốc tế sẽ lớn hơn rất nhiều so với vài thập kỷ trước. Điều này tạo ra một cản trở lớn cho việc thực hiện các chiến lược có mức độ khiêu khích cao trên Biển Đông. V́ thế, trong những năm cuối thập kỷ 90 đổ lại đây, Trung Quốc đă tỏ ra mềm dẻo hơn và thậm chí đă có lúc có những nhượng bộ nhất định. Thí dụ trong tranh chấp với Việt Nam vào năm 11997 và 1998 (xem thêm ở Bảng Bốn ở phụ lục).

B. Phản ứng dự tính từ phía đối phương: Trong một bàn cờ tương tác chiến lược, việc thực hiện nước đi nào sẽ phụ thuộc cực lớn vào dự đoán về hành vi trả đũa của đối phương. Nếu kỳ vọng bị trả đũa là lớn, th́ dự tính chi phí gắn với chiến lược đó sẽ lớn và người chơi sẽ phải tính toán kỹ trước khi thực hiện nước đi. Khó khăn là ở chỗ các bên thường không biết thực tâm của nhau, v́ thế việc dự đoán này đôi khi bị nhầm lẫn. Do đó, phương pháp thường được các bên sử dụng là thăm ḍ nhau. Thí dụ cố t́nh khiêu khích để kiểm tra mức độ phản ứng của bên kia. Nếu bên kia phản ứng mạnh th́ bên này sẽ lùi bước, nếu bên kia phản ứng yếu th́ họ sẽ lấn tới. Điển h́nh nhất là vụ đụng độ ở băi đá Mischief của Philippines giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Philippines. Phía Philippines đă tê liệt và không có hành vi đáp trả thích đáng. Trung Quốc đă lấn tới, chiếm Mischief từ tay người Philippines và xây dựng các công tŕnh quân sự của họ ở đây. Sau sự kiện này người Philippines đă cứng rắn hơn và thể hiện thái độ sẵn sàng trả đũa, điển h́nh là cuộc giao tranh năm 1996 trên biển (xem ở Bảng Bốn).

Việc thể hiện thái độ sẵn sàng đáp trả bằng quân sự kể cả trên biển và đất liền là một việc đặc biệt quan trọng. Khác với nhiều nghiên cứu của Việt Nam cho rằng cần phải mềm mỏng v́ Việt Nam đang ở thế yếu hơn, tôi nhấn mạnh lại là vấn đề không phải ai là người thắng hay thua vào phút cuối cùng. Mà vấn đề là khi một bên thể hiện thái độ quyết tâm sống mái tới cùng với bên kia, th́ phía bên kia sẽ nhận thức được mức độ thiệt hại lớn hơn nhiều khi họ toan tính dùng các chiến lược khiêu khích, và v́ thế, chắc chắn sẽ hạn chế dùng các chiến lược này. Ngụ ư này rất quan trọng và sẽ được nhắc lại ở phần cuối cùng của bài viết.

C. Đồng thuận và bất đồng thuận trong nước: Về mặt chính trị, mỗi bên tham gia thường có các khối lợi ích – chính trị khác nhau và có những quan điểm mâu thuẫn nhau. V́ thế, mặc dù khả năng quân sự có thể có thừa, việc không thống nhất trong nội bộ về cách hành xử có thể khiến cho các quyết định khiêu khích trở nên không khả thi.

Bảng Bốn dưới đây ghi lại các cuộc đụng độ quân sự và phi quân sự trên Biển Đông và Trường Sa nói riêng. Một điểm dễ nhận thấy là xu hướng sử dụng bạo lực quân sự đă giảm bớt, thế chỗ cho một xu hướng ít khiêu khích hơn. Các chiến lược từ C4-C6 được sử dụng nhiều trước năm 1996 nhưng từ cuối 1996 đă chuyển dần sang các chiến lược thuộc nhóm C1-C4.

BẢNG BỐN

ĐỤNG ĐỘ QUÂN SỰ VÀ PHI QUÂN SỰ TRÊN TRƯỜNG SA

Năm

Quốc gia và Chiến lược

Đụng độ và Tranh chấp

1974

China (C6), Vietnam (C2).

Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam.

1988

China (C6), Vietnam (C2)

Hải quân Trung Quốc và Việt Nam đụng độ ở Johnson Reef thuộc Trường Sa. 3 tàu VN bị ch́m và 70 thủy thủ thiệt mạng. Trung Quốc chiếm một số đảo từ tay Việt Nam.

1992

China (C5), Vietnam (C1)

China (C4), Vietnam (C1)

Việt Nam tố cáo Trung Quốc đổ quân lên Da Luc Reef. Trung Quốc bắt giữ khoảng 20 tàu trở hàng của Việt Nam đi từ Hồng Kông trong khoảng từ tháng 6 tới tháng 9.

Trung Quốc kư hợp đồng cho phép Crestone, một công ty dầu mỏ Mỹ, thăm ḍ dầu mỏ gần Trường Sa. Việt Nam lên tiếng phản đối.

1993

China (C4), Vietnam (C3)

Vào tháng 5, tàu do thám địa chất của Trung Quốc đi vào vùng biển nơi BP (có hợp đồng với VN) đang thăm ḍ dầu khí. Tàu Trung Quốc bỏ đi khi có 2 tàu hải quân VN xuất hiện.

1994

China (C4), Vietnam (C2)

China (C4)

Vietnam (C2)

Hải quân Trung Quốc và Việt Nam chạm chán nhau trên vùng biển thuộc lănh hải Việt Nam được quốc tế công nhận – vùng thăm ḍ dầu khí Tu Chinh, khối 133, 134, và 135. Trung Quốc khẳng định vùng này thuộc khối Wan’ Bei-21 (WAB-21) của họ và cho phép Crestone thực hiện thăm ḍ dầu khí ở vùng biển này.

Vào tháng 8, tàu hải quân Việt Nam cưỡng bức tàu thăm ḍ dầu khí của Trung Quốc ra khỏi vùng biển VN khẳng định có chủ quyền..

1995

China (C6), Philippines (C2).

Trung Quốc chiếm đảo Mischief Reef từ tay Philippines.

1995

Taiwan (C4), Vietnam (C1)

Hải quân Đài Loan bắn vào tàu vận tải Việt Nam.

1996

China (C5), Philippines (C3)

China (C1)

Vietnam (C4)

Vào tháng 1, chiến hạm Trung Quốc và Philippines giao chiến trong khoảng 90 phút gần đảo Capones của Philippine.

Vào tháng 4, Việt Nam cho phép Conoco, một công ty dầu khí Mỹ thực hiện thăm ḍ dầu khí ở vùng tranh chấp; đồng thời không chấp nhận hợp tác với Crestone. Trung Quốc phản đối.

1997

China (C5), Philippines (C3)

China (C4)

Vietnam (C3)

China (C4)

Vietnam (C3)

Hải quân Philippines buộc tàu cao tốc của Trung quốc và 2 tàu đánh cá rời khỏi vùng biển Scarborough Shoal in April; Hải quân Philippines sau đó tháo dỡ các cọc mốc và cờ của Trung Quốc cắm.

Vào tháng 3, Trung Quốc thực hiện cú khoan dầu ở mỏ dầu Kantan-3 gần Trường Sa. Việt Nam phản đối và cuối cùng Trung quốc nhượng bộ hủy bỏ dự án này.

Vào tháng 12, Việt Nam phản đối tàu thăm ḍ Trung Quốc và hai tàu tiếp vận của họ đi vào vùng biển thuộc chủ quyền VN. Cả 3 tàu này đều được tàu chiến VN áp tải ra khỏi khu vực.

1998

Philippines (C4), Vietnam (C3)

China (C4)

Vietnam (C3)

Vào tháng 1, tàu hải quân Việt Nam bắn vào tàu đánh cá Philippine trong vùng gần Tennent (Pigeon) Reef.

Vào tháng 9, Việt Nam phản đối sau khi Trung Quốc ra báo cáo nói rằng Crestone và Trung Quốc sẽ tiếp tục thăm ḍ dầu khí ở vùng Tu Chinh region (Wan’ Bei in Chinese). Tranh chấp này được giải quyết qua thương lượng vào tháng 12 năm 2000.

1999

China (C4), Philippines (C4)

Hai tàu đánh cá Trung Quốc bị ch́m vào tháng 5 và tháng 6 khi đụng phải tàu chiến Philippines.

1999

China (C4), Philippines (C3)

Vào tháng 5, Philippines tố cáo tàu chiến Trung Quốc khiêu khích tàu hải quân Philippines.

1999

Philippines (C4), Vietnam(C3)

Vào tháng 10, hải quân Việt Nam bắn máy bay Philipines trên vùng Trường Sa.

1999

Malaysia (C3), Philippines (C4).

Vào tháng 10, hai máy bay chiến đấu của Malaysia và 2 máy bay thám sát của Philippines gần như đụng độ nhau gần một băi đá do Malaysia quản lư.

Số liệu cập nhật tới năm 2003.

Nguồn: Bộ Năng Lượng, Hoa Kỳ


[1] Theo Vũ Quang Việt th́ số đảo và băi đá ở Trường Sa lên tới hơn 100. Xem Vũ Quang Việt “Đi t́m một giải pháp hoà b́nh hợp công lư cho Biển Đông Nam Á” http://www.tapchith oidai.org/ ThoiDai11/ 200711_VuQuangVi et.htm

[2] Cordesman A.H and Kleiber M., 2006: “The Asian Conventional Military Balance in 2006,” Special Report, Center for Strategic and International Studies (CSIS).

[3] Rowan J.P., 2005: “The U.S-Japan Security Alliance, Asean, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. XLV, p.p. 414-436.

[4] Khẳng định của Bộ Năng lượng Mỹ vào đầu năm 2003. Chúng tôi không có con số update để tái khẳng định kết luận này vào năm 2007.

[5] Rowan, đă dẫn.

[6] Rowan, đă dẫn.

[7] Dzurek D.J.,1996: “Spratly Islands, Who’s on First?” book chapter in Maritime Briefing, published by IBRU.

[8] Vũ Quang Việt, đă dẫn.

1.  14 lời b́nh cho bài “Xung Đột Trường Sa và Trạng Thái Ḥa B́nh Mong Manh Trên Biển (Bài 1)”

2.      Mọi người đọc link này có những tư liệu rất hiếm thấy trên đời. Tổ quốc ơi, ḷng tôi quặn đau:

http://blog. 360.yahoo. com/blog- uaEgArsyerQFoR0E sk4QWs2d? p=1927

Ai công hầu, ai khánh tướng, dưới trần ai, ai dễ hơn ai? Câu hỏi ngày nào của tiền nhân lại vang vang mà ḷng kẻ sĩ hổ thẹn với lương tâm.

Phạm Viết Duy -- Dec 8, 2007

3.      Bài này Dự Trần viết hay. Nếu highlight một số kết luận trong A, B, C th́ mọi người sẽ dễ thấy điểm nhấn hơn.

Khoa -- Dec 8, 2007

4.      Dự Trần viết hay.

Nhưng các chỉ số về tiềm năng dầu khí thấp dễ dẫn đến sự nguỵ biện cho việc bỏ rơi Quân đảo Trường sa v́ lư do hiệu quả kinh tế thấp,tổn thất sinh mạng nhân dân nhiều của một số người đang lănh đạo.

vấn đề là chỉ có 2 option duy nhất để chọn.
1. Từ bỏ trường sa và hoàng sa
2. giữ Trường sa va hoàng sa
Nếu chọn số 1 :
giới lănh đạo sẽ vận dụng toàn bộ lư lẽ , lư luận để biện minh cho hành động từ bỏ trường sa và hoàng sa.

Dĩ nhiên phe chống lại sẽ không ngôi yên .
đất nước sẽ rơi vào nội chiến và TQ sẽ không chỉ lấy 2 đảo mà c̣n thâu tóm VN ÍT NHẤT LÀ MIỀN NAM vÀ sẽ trả cho campuchia với lư do ǵ th́ ai cũng biết.

Nếu chọn số 2 : Chẳng cần quan tâm làm ǵ đến khả năng tiềm năng vật chất của 2 đảo làm ǵ .

Tổ tiên ḿnh ngày xưa họ ra đó chiếm đảo dựng cờ có v́ dầu khí ǵ đâu mà vượt trùng khơi sóng gió băo bùng trên con tàu gổ mở mang bờ cơi cho chúng ta thừa hưởng.

Chí đă quyết GIỮ th́ các chuỗi lệnh hành động mới được thi hành khớp lệnh.

80 triêu người sẽ đêm ngày nghĩ kế sách , thao luyện quân sự, tích trữ lương thực, dành lại đất đai cha ông tổ tiên để lại .

tôi tin bạn và tôi lúc đó sẽ gặp nhau tại VN.

AC- ARIZONA COWBOY -- Dec 8, 2007

5.      Không hẳn là chỉ có hai giải pháp: (1) từ bỏ chủ quyền ở TS và HS; (2) giữ TS và HS. Giải pháp thứ nhất là một giải pháp cực đoan trong khi điểm (2) không phải là một giải pháp bởi VN hiện nay không chiếm toàn bộ HS và TS nên không thể nói là giữ HS và TS được. Hiện nay HS do TQ chiếm đóng và chỉ có VN và TQ đ̣i chủ quyền. Trong khi TS th́ có 5 nước 6 bên. Xét từ nhiều khía cạnh th́ việc nêu ra giải pháp (3) Việt Nam đ̣i chủ quyền toàn bộ HS và TS cũng có nguy cơ trở thành một giải pháp cực đoan v́ không hề tính đến lập trường của các nước khác và t́nh h́nh chiếm đóng hiện tại cũng như thực lực của Việt Nam. Chính v́ vậy nên có một giải pháp khác (4) VN chỉ yêu sách một phần hợp lư nào đó hai quần đảo này đồng thời tách vấn đề tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này với việc phân định lănh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN được kéo dài từ đường cơ sở của NV sang phía Đông và phía Nam. Giải pháp (4) một mặt có tính đến quyền lợi chính đáng của VN và của các bên có liên quan, vừa hiện thực vừa ngăn chặn được việc các nước (đặc biệt là TQ) dựa vào yêu sách với hai quần đảo HS và TS đ̣i có thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế kéo dài từ đường cơ sở của các đảo này chồng lấn lên thềm lục địa của Việt Nam.
Đây chỉ là một gợi ư về các giải pháp có thể. Có thể có nhiều giải pháp khác nhưng nếu chỉ đưa ra những giải pháp cực đoan, không hiện thực th́ chỉ kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa chứ không thể giải quyết được vấn đề.

DongA -- Dec 9, 2007

6.      Hoàn toàn đồng ư với bác Đông A.

Hiện tại và trong tương lai VN không có khả năng chiếm và giữ hết TS. Khăng khăng đ̣i tất cả sẽ dẫn tới mất tất cả. Không những mất đảo mà c̣n mất cả biển, eg, ngoài khơi miền Trung và vùng Nam Côn Sợn

TQ có tham vọng chiếm hết TS. Ngoài tham vọng chiếm đảo, TQ là nước duy nhất có tham vọng chiếm 80% biển Biển Đông. Tham vọng này c̣n nguy hiểm và tai hại cho VN và các nước ASEAN hơn cả tham vọng chiếm đảo. TQ là nước duy nhất có khả năng thực hiện tham vọng của ḿnh.

Philippines và Malaysia chỉ đ̣i các đảo gần bờ biển họ, ie, họ chỉ đ̣i một phần nhỏ của TS. Họ không có chủ trương và khả năng đánh VN ra khỏi TS. Đ̣i hỏi của họ không đe doạ vùng đặc quyền kinh tế của VN. Họ và VN không phải là nguy cơ của nhau. Tham vọng của TQ cũng là nguy cơ cho họ như cho VN.

V́ vậy, VN, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei cần:

1. Chia đảo với nhau để giải quyết mâu thuẫn. Hiện nay VN giữ nhiều đảo nhất, Philippines & Malaysia giữ ít hơn, họ không có khả năng chiếm đảo của VN. Trong hoàn cảnh đó, trong đàm phán VN sẽ giữ được nhiều đảo nhất. Nếu VN & ASEAN giải quyết được mâu thuẫn nội bộ th́ sẽ là sự cản trở lớn hơn cho TQ.

2. VN & ASEAN cần kêu gọi thế giới ủng hộ việc thiết lập 1 cơ chế luật biển quốc tế ở Biển Đông theo UNCLOS (United Nation Convention on the Law of the Sea). Cơ thế này sẽ cả trở 1 nước nào đó lợi dụng việc chiếm đóng (thậm chí “chủ quyền”) trên một vài đảo nhỏ mà lấn và vùng đặc quyền kinh tế của VN (hay các nước ASEAN khác), như TQ lợi dụng TS để đ̣i các lô dầu vùng Mộc Tinh, Hải Thạch, và băi Từ Chinh của VN. Các nước ASEAN sẽ ủng hộ cơ chế này v́ nó bảo vệ các vùng đặc quyền kinh tế của họ. Các nước khác khẻ ủng hộ cơ chế này v́ nó bảo vệ quyền giao thông trên Biển Đông của họ (BD là một trong những biển quan trọng nhất thế giới về giao thông).

Nếu thực hiện được những điều trên th́ khó mà TQ chiếm được đảo và biển của VN.

Nếu không thực hiện được th́ TQ sẽ chiếm hết bằng các chiến lược tằm ăn rỗi, chia để trị, thả câu nước đục.

Dương Danh Huy -- Dec 9, 2007

7.      Thưa anh em. có lẽ ḿnh quen Yes or No dứt khoát nên vẫn quyết định chọn 2 options mà thôi . V́ sao?

1. Không chao đảo lúc này lúc khác như 32 năm qua.Dứt khoát sẽ phải giành lại toàn bộ Trường sa và Hoàng sa . thời gian có thể 50 hay 100 năm nhưng đó là việc phải làm như TQ đă đ̣i lại Hongkong Macao sau 100 năm.

2. Nếu không đặt ra mục tiêu cụ thể dễ thoả măn khi đạt được phần bánh của ḿnh như hiện nay.

3. Trong chiến tranh. chỉ cần có bàn đạp th́ việc tái chiếm sẽ dễ dàng hơn rất nhiều . Nếu duy tŕ Đài loan liệu Trung quốc thu tóm Đài loan lấy thế để uưnh ḿnh không?

Hảy nh́n vào bản đồ của TQ nếu:

1. Tân Cương và Tây Tạng độc lập th́ tàu chỉ c̣n 1/2 nước
2. Nếu Hoa Nam tách ra th́ tàu chỉ c̣n 1/4
3. Nếu Nội Mông Măn Châu tách ra tàu chỉ c̣n 1/8 diện tích nước hiện nay.

Tức là tàu chỉ c̣n diện tích 3 nước đông dương gọp lại. Cho nên tàu sẽ t́m mọi cách kể cả chiến tranh với nước Hoa Kỳ để cố gắng không bị vở từng mănh. V́ nếu vở ra có nghĩa là bọn Bắc Kinh sẽ tới tận diệt.

chưa kể đến việc Hongkong, macao, đàiloan,singapore sẽ măi măi tách hẳn Trung Quốc

Liên xô, Nam tư, bị chẻ nhỏ bởi Mỹ và EU . Bạn có tin rằng Trung Quốc trong ṿng 100 năm nữa sẽ giữ nguyên như vậy không.

Hiện nay việc xẻ thịt anh Tàu đă được EU, NGA, MỸ, ÚC, NHẬT, HÀN QUỐC, Ấn độ, Pakistan.. âm thầm tiến hành và họ đang chờ thời điểm thích hợp. Có thể chính việc VN có chiến tranh với tụi Bắc Kinh khiến quá tŕnh phân ră sẽ nhanh hơn dự kiến .

Nếu VN dứt khoát từ bỏ ôm chân Bắc Kinh th́ họ mới tin tưởng mà bàn việc quân cơ. Hiện chả có ai tin VN v́ ḿnh yes/no không dứt khoát làm sao tụi nó ăn nói với dân của tụi nó.

Sau khi dứt khoát với TQ vứt 16 chữ Vàng . VN chống trả lại nó th́ mấy ông kia sẽ dại ǵ bỏ lỡ cơ hội không bán cho ḿnh 1 đống vũ khí và viện trợ cho ḿnh có sức mà đập lộn . dĩ nhiên ḿnh phải ra người góp xương máu và họ góp của. nói chung là ai cũng có lợi trong việc xẻ thịt anh Tàu.

Có lẽ các bạn ở trong nước nên đánh giá Trung Quốc quá cao. thực sự vũ khí của nó c̣n lạc hậu lắm so với Nga Mỹ. T́nh báo TQ ăn cắp được 1 số công nghệ vũ khí nên các Tướng lănh của nó hoang tưởng muốn lấy VN ra để thử nghiệm.

Túm lại Enemy at the Gate rùi. Sau Olympic 2008 giữa lúc Mỹ c̣n đang bàn giao công việc giữa 2 đảng luxubu và Hilary Clinton o am hiểu ǵ về chiến tranh là thời cơ tốt nhất để TQ XÂM CHIẾM TRƯỜNG SA .

Nếu VN cứng nó sẽ chiếm các đảo thuộc các nước khác và ưu tiên số 1 là của Đài loan. Đàiloan/trườngsa c̣n không chiếm nổi th́ làm sao buộc Đàiloan vâng lời.

Kêu gào quốc tế th́ cứ la cho to. Nhưng o được coi như đă tranh đấu hết sức . Hành động cụ thể từng người chỉ huy người nào việc ấy phải được planning từng chi tiết yes/no tránh báo cáo láo lừa dối nhân dân.

Hiện nay ṭan thể dân Việt đang chờ nghe một lời Hiệu triệu của người số 1 VN .
Họ sẽ chờ đến khi nào ? Dứt khoát Họ không muốn nghe mấy thằng cắc ké nói . Chính Ông Ng Tấn Dũng phải đưa ra lời hiệu triệu . Và lịch sử VN sẽ ghi nhớ điều này .

AC-ARIZONA COWBOY -- Dec 9, 2007

8.      Gửi các bạn bài này đọc chơi!

Why Vietnam loves and hates China
By Andrew Forbes

For more than 2,000 years, Vietnam’s development as a nation has been marked by one fixed and immutable factor - the proximity of China. The relationship between the two countries is in many ways a family affair, with all the closeness of shared values and bitterness of close rivalries.

No country in Southeast Asia is culturally closer to China than Vietnam, and no other country in the region has spent so long fending off Chinese domination, often at a terrible cost in lives, economic development and political compromise.

China has been Vietnam’s blessing and Vietnam’s curse. It remains an intrusive cultural godfather, the giant to the north that is “always there”. Almost a thousand years of Chinese occupation, between the Han conquest of Nam Viet in the 2nd century BC and the reassertion of Vietnamese independence as Dai Viet in AD 967, marked the Vietnamese so deeply that they became, in effect, an outpost of Chinese civilization in Southeast Asia.

While the other countries of Indochina are Theravada Buddhist, sharing cultural links with South Asia, Vietnam derived its predominant religion - a mix of Mahayana Buddhism, Taoism and Confucianism popularly known as tam giao or “Three Religions”- from China. Until the introduction of romanized quoc ngu script in the 17th century, Vietnamese scholars wrote in Chinese characters or in chu nho, a Vietnamese derivative of Chinese characters.

Over the centuries, Vietnam developed as a smaller version of the Middle Kingdom, a centralized, hierarchical state ruled by an all-powerful emperor living in a Forbidden City based on its namesake in Beijing and administered by a highly educated Confucian bureaucracy.

Both countries are deeply conscious of the cultural ties that bind them together, and each is still deeply suspicious of the other. During the long centuries of Chinese occupation, the Vietnamese enthusiastically embraced many aspects of Chinese civilization, while at the same time fighting with an extraordinary vigor to maintain their cultural identity and regain their national independence.

During the Tang Dynasty (6th-9th centuries AD), Vietnamese guerrillas fighting the Chinese sang a martial song that emphasized their separate identity in the clearest of terms:

Fight to keep our hair long,
Fight to keep our teeth black,
Fight to show that the heroic southern country can never be defeated.

For their part, the Chinese recognized the Vietnamese as a kindred people, to be offered the benefits of higher Chinese civilization and, ultimately, the rare privilege of being absorbed into the Chinese polity.

On the other hand, as near family, they were to be punished especially severely if they rejected Chinese standards or rebelled against Chinese control. This was made very clear in a remarkable message sent by the Song Emperor Taizong to King Le Hoan in AD 979, just over a decade after Vietnam first reasserted its independence.

Like a stern headmaster, Taizong appealed to Le Hoan to see reason and return to the Chinese fold: “Although your seas have pearls, we will throw them into the rivers, and though your mountains produce gold, we will throw it into the dust. We do not covet your valuables. You fly and leap like savages, we have horse-drawn carriages. You drink through your noses, we have rice and wine. Let us change your customs. You cut your hair, we wear hats; when you talk, you sound like birds. We have examinations and books. Let us teach you the knowledge of the proper laws … Do you not want to escape from the savagery of the outer islands and gaze upon the house of civilization? Do you want to discard your garments of leaves and grass and wear flowered robes embroidered with mountains and dragons? Have you understood?”

In fact Le Hoan understood Taizong very well and, like his modern successors, knew exactly what he wanted from China - access to its culture and civilization without coming under its political control or jeopardizing Vietnamese freedom in any way. This attitude infuriated Taizong, as it would generations of Chinese to come.

In 1407, the Ming Empire managed to reassert Chinese control over its stubbornly independent southern neighbor, and Emperor Yongle - no doubt, to his mind, in the best interests of the Vietnamese - imposed a policy of enforced Sinicization. Predictably enough, Vietnam rejected this “kindness” and fought back, expelling the Chinese yet again in 1428.

Yongle was apoplectic when he learned of their rebellion. Vietnam was not just another tributary state, he insisted, but a former province that had once enjoyed the benefits of Chinese civilization and yet had wantonly rejected this privilege. In view of this close association - Yongle used the term mi mi or “intimately related” - Vietnam’s rebellion was particularly heinous and deserved the fiercest of punishments.

China on top
Sometimes a strongly sexual imagery creeps into this “intimate relationship”, with Vietnam, the weaker partner, a victim of Chinese violation. In AD 248, the Vietnamese heroine Lady Triu, who led a popular uprising against the Chinese occupation, proclaimed: “I want to ride the great winds, strike the sharks on the high seas, drive out the invaders, reconquer the nation, burst the bonds of slavery and never bow to become anyone’s concubine.”

Her defiant choice of words was more than just symbolic. Vietnam has long been a source of women for the Chinese sex trade. In Tang times, the Chinese poet Yuan Chen wrote appreciatively of “slave girls of Viet, sleek, of buttery flesh”, while today the booming market for Vietnamese women in Taiwan infuriates and humiliates many Vietnamese men.

It’s instructive, then, that in his 1987 novel Fired Gold Vietnamese author Nguyen Huy Thiep writes, “The most significant characteristics of this country are its smallness and weakness. She is like a virgin girl raped by Chinese civilization. The girl concurrently enjoys, despises and is humiliated by the rape.”

This Chinese belief that Vietnam is not just another nation, but rather a member of the family - almost Chinese, aware of the blessings of Chinese civilization, but somehow stubbornly refusing, century after century, to become Chinese - has persisted down to the present day.

During the Second Indochina War, Chinese propaganda stressed that Vietnam and China were “as close as the lips and the teeth”. After the US defeat, however, Vietnam once again showed its independence, allying itself with the Soviet Union, in 1978-79, invading neighboring Cambodia and overthrowing China’s main ally in Southeast Asia, the Khmer Rouge.

Once again Chinese fury knew no bounds, and Beijing determined to teach the “ungrateful” Vietnamese a lesson. Deng Xiaoping, the Chinese leader, openly denounced the Vietnamese as “the hooligans of the East”. According to one Thai diplomat: “The moment the topic of Vietnam came up, you could see something change in Deng Xiaoping.

“His hatred was just visceral. He spat forcefully into his spittoon and called the Vietnamese ‘dogs’.” Acting on Deng’s orders, the Chinese army invaded Vietnam in 1979, capturing five northern provincial capitals before systematically demolishing them and withdrawing to China after administering a symbolic “lesson”.

But who taught a lesson to whom? Beijing sought to force Hanoi to withdraw its frontline forces from Cambodia, but the Vietnamese didn’t engage these forces in the struggle, choosing instead to confront the Chinese with irregulars and provincial militia. Casualties were about equal, and China lost considerable face, as well as international respect, as a result of its invasion.

Over the millennia, actions like this have taught the Vietnamese a recurring lesson about China. It’s there, it’s big, and it won’t go away, so appease it without yielding whenever possible, and fight it with every resource available whenever necessary.

Just as Chinese rulers have seen the Vietnamese as ingrates and hooligans, so the Vietnamese have seen the Chinese as arrogant and aggressive, a power to be emulated at all times, mollified in times of peace, and fiercely resisted in times of war.

In 1946, 1,700 years after Lady Triu’s declaration, another great Vietnamese patriot, Ho Chi Minh, warned his Viet Minh colleagues in forceful terms against using Chinese Nationalist troops in the north as a buffer against the return of the French: “You fools! Don’t you realize what it means if the Chinese remain? Don’t you remember your history?

“The last time the Chinese came, they stayed a thousand years. The French are foreigners. They are weak. Colonialism is dying. The white man is finished in Asia. But if the Chinese stay now, they will never go. As for me, I prefer to sniff French shit for five years than to eat Chinese shit for the rest of my life.”

Yet Ho was an ardent admirer of Chinese civilization, fluent in Mandarin, a skilled calligrapher who wrote Chinese poetry, a close friend and colleague of Chinese leaders Mao Zedong and Zhou Enlai. Ho wasn’t as much anti-Chinese as he was pro-Vietnamese. It was his deep understanding of and respect for China that enabled him to recognize, clearly and definitively, the menace that “a close family relationship” with the giant to the north posed, and continues to pose, for Vietnam’s independence and freedom.

It’s ironic, then, that as the current Vietnamese leadership strive to develop their economy along increasingly capitalist lines while at the same time retaining their monopoly on state power, the country they most admire and seek to emulate is, as always, the one they most fear.

Andrew Forbes is editor of CPA Media as well as a correspondent in its Thailand bureau. He has recently completed National Geographic Traveler: Shanghai , and the above is an excerpt from his forthcoming book A Phoenix Reborn: Travels in New Vietnam.

(Copyright 2007 Andrew Forbes.)

DongA -- Dec 10, 2007

9.      Thêm bài này nữa!

Why Vietnam is turning up its nose at Chinese goods.
By Daniel GrossNewsweek Web ExclusiveUpdated: 2:49 PM ET Dec 4, 2007It’s tempting to view Vietnam as a mini-China. Both are populous Asian countries whose single-party governments are engineering a headlong rush into free-market capitalism (of a fashion). But Vietnam doesn’t regard China, with whom it shares a border and a long, complicated history, as an older brother to emulate. Rather, it sees it as a regional bully, a harsh competitor, and—surprise!—a source of cheap, junky merchandise. Duncan Hunter, the obscure congressman whose presidential campaign seems based largely on hostility to illegal immigrants and China, could be very popular here. For in Vietnam, from school kids to government officials, China-bashing is very much in vogue.

One of the prerequisites of a true consumer economy is snob appeal, the ability and willingness of shoppers to draw invidious distinctions between classes of products and brands. Vietnam is clearly well on its way. Everywhere I went I encountered high-level slagging of all things Chinese-made. At a Nike factory outside Ho Chi Minh City, managers complained about counterfeit shoes flooding in from China. In urban areas Chinese goods are distinctly low-status. Le Dang Doanh, an economist and former president of the Central Institute for Economic Management, spoke about imported Chinese-made clothes the way a bespoke-suit- wearing Wall Street banker might talk about Wal-Mart overalls. Chinese-made clothes, he said, are for the “buffalo boys”—country kids seen riding water buffaloes to work in the fields. And for those in the know, status matters. Our fixer and guide, Ha Tran, described her mortification when, upon returning from the United States with clothes bought from Old Navy as presents, she discovered that they were made not in America but in Vietnam.

For American visitors, who tend to view Vietnamese history through the lens of our disastrous 20-year involvement, it’s surprising how little the war defines collective memory and attitudes toward Americans and American goods. It could be that our hosts were simply being polite. Or it could be a function of the extreme youth of Vietnam. About 40 percent of the population was born after the fall of Saigon. There are memorials and monuments, to be sure, but they’re unobtrusive, like the small cement statue in Hanoi that marks the spot where John McCain was shot down in Truch Buch Lake in 1967. At the War Remnants Museum in Ho Chi Minh City, where the propagandistic exhibits include a chilling photograph of two American soldiers water-boarding a prisoner, the crowd was roughly divided between tourists and Vietnamese school kids gleefully posing on captured American tanks. Yet the Vietnamese politicians, businesspeople, and kids we met seemed to regard the United States as one in a list of imperial powers the country had fended off in its long quest for independence. No hard feelings. The regime has decided that it is moving forward economically, that it needs capital and investment, and that it would much rather throw in its lot with the United States, Japan, and Europe than with China.

In our travels we heard repeated stories of how Vietnamese brands and consumers had fought off cheap Chinese imports by improving quality and focusing on brands. In urban clothing stores consumers are far more likely to find domestically made clothes than Chinese ones. “Now the time for cheap products has gone by,” said Nguyen Thi Thanh Hu, general director of apparel maker Garco 10, which derives about 20 percent of its sales from the Vietnamese consumer market. Last summer a Vietnamese company, Viet Tien, signed a deal with Perry Ellis to license its Manhattan line of clothes for the domestic market.

In the 1990s, said a senior trade official, cheap Chinese beer flooded the market. “Ten years ago eight of every 10 bottles of beer in the market were Chinese-made, and everybody was afraid,” he said. But Vietnamese brands like 333, Saigon and Tiger Beer (foreign-owned but brewed domestically) took marketing cues from Western beer companies and began advertising on television. As they did so, better-off consumers grew more sophisticated. “In the past we just drank any beer we had,” said the trade official. But today “there is no Chinese [brand] in the market to compare.”

The arrival of cheap Chinese motorbikes a few years ago forced Japanese firms to cut prices significantly. But Vietnamese consumers with disposable income now look beyond price. The trade official said he had bought a Chinese-made motorbike for his daughter, but she sold it after a year and purchased a Japanese-made one instead. At Le Quy Don High School, a magnet public school in Ho Chi Minh City, we chatted with students (most disconcerting flat-Earth moment: the unanimous roar of approval that arose when we asked if they liked Hannah Montana). “The goods imported to Vietnam from China are not really good,” Bang Thanh, a 16-year-old wearing stylish sunglasses, told me. “The Honda motorbikes they make there and bring in are no good.”

Of course, national pride—and not simply a rising sense of consumer sophistication—filters into the resentment of all things Chinese. The Vietnamese are fiercely proud of their local industries and products, especially their food. One day we met for lunch with young Vietnamese businesspeople at the Chinese restaurant in the New World Hotel in Ho Chi Minh City. The sumptuous multicourse meal was delicious, several orders of magnitude better than Empire Szechuan. But the executive seated to my left wasn’t impressed: “Chinese food is too oily.”
URL: http://www.newsweek .com/id/73745

DongA -- Dec 10, 2007

10.  Theo tôi th́ nên có cái nh́n ṭan cục trong quá khứ, hiện tại th́ mới nghĩ đến chiến lược cho tương lai cho cả ṭan bờ cơi chứ không chỉ HS và TS. Không biết các bạn nghĩ sao về chiến tranh Việt nam trong quá khứ, c̣n theo tôi th́ thực chất cuộc chiến này chia làm 2 giai đọan rơ ràng:

1. Giai đọan nội chiến: từ 1954 đến 1960, rơ ràng đây là nội chiến tranh giành quyền lực, dẫu cho mỗi bên trong 2 miền Nam, Bắc đều có sự hỗ trợ đằng sau của 2 khối Nato và Vasavar.

2. Giai đọan làm băi chiến trường cho 2 phe: từ 1960 đến 1975 chủ yếu là phục vụ cho cuộc chạy đua vũ trang của 2 phe Nato và Vasavar. Mặc dù nh́n tổng thể cuối cùng th́ đất nước ḿnh cũng chỉ là cái khán đài cho 2 phe mượn làm nơi tỷ thí sức mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế.

Nhưng, rơ ràng trong cuộc đua này khối Nato đă thắng khối Vasavar, trong đó có bàn tay tráo trỡ của Trung quốc khi Mao bắt tay với Nixon năm 1972. Mỹ giao cuộc chiến VN lại cho Trung quốc và tạo ra sự đối đầu nội bộ phe Cộng sản và tạo gánh nặng về kinh tế, quốc pḥng cuộc chiến này cho khối Cộng sản, từ đây, mới có sự sụp đổ khối Vasavar năm 1990.

Trước cuộc tấn công biên giới phía Bắc 1979, Đặng đă gặp TT Jimy Cater bàn bạc trước và Mỹ đă bật đèn xanh cho Đặng đánh Việt Nam. Khi Jimy Cater lên làm tổng thống, người Mỹ đă định “b́nh thường hóa” quan hệ với Việt Nam. Năm 1977, Việt Nam khó có thể lấy được chiếc ghế mà Sài G̣n đă ngồi ở Liên Hợp Quốc nếu như không có sự ủng hộ của người Mỹ. Khi ấy, ASEAN cũng đă ch́a bàn tay ra nhưng lănh đạo Việt Nam đă thật kiêu ngạo để không nắm lấy. Đó là một sai lầm chiến lược của nhóm lănh đạo VN lúc này. Và c̣n bao cơ hội khác mà v́ đọan tuyệt chơi với Mỹ, Trung quốc và sát cánh với Liên xô cũ mà Việt nam đă bỏ lỡ.

Nh́n lại vấn đề TS và HS, tôi th́ có cái nh́n 1 chút hơi giống với tác giả Andrew Forbes mà bác Đông A dưa bài viết trên. Thực chất sau cải cách kinh tế của Việt Nam trong 20 năm qua và những cải tổ nhân sự trong bộ máy chính quyền sau đại hội Đảng IX, X của đảng Cộng sản VN, Trung quốc bắt đầu lo sợ mất đồng minh, đàn em dễ bảo và thân tín mà họ đào tạo, ủng hộ từ những ngày đầu lập quốc đến nay mà đồng minh đó lại có một cái nhà mặt tiền quá tốt cho mọi vấn đề có liên quan.

Tại sao Korea cũng gần Trung quốc, Đài Loan là lănh thổ chủ quyền tách ra từ Trung quốc và Nhật bản cũng gần Trung quốc mà họ không làm được ǵ? Thiết nghĩ, lănh đạo Việt Nam phải thay đổi lại quan niệm:”Là bạn của tất cả các nước trên thế giới”. Suốt thập niên này, khi 2 đại sứ Hoa kỳ đến nhậm chức tại VN đều nhắc nhở Viêt nam phải có thái độ, lập trường và trách nhiệm rơ ràng hoặc jhuynh tả, hoặc khuynh hữu, không thể lập lờ nước đôi. Và việc TS, HS cũng không lọai trừ giả thiết là có Mỹ bật đèn xanh sau một vài chuyến gặp nhau gần đây của lănh đạo Mỹ và Trung quốc, mặc dù Mỹ và Trung quốc bằng mặt, nhưng không bằng ḷng và nhất là sự trỗi dậy về mặt kinh tế của Trung quốc trong những năm gần đây dù đó là một sự phồn vinh c̣n giả tạo.

Động thái đồng ư cho Việt nam vào thành viên không thường trực của LHQ vừa diễn ra tháng trước là một động thái mới để cho Việt nam tỏ rơ lập trường trong các cuộc thương thuyết về các vấn đề ṭan cầu. Tuy mới vào chiếc ghế này, nhưng đă từ lâu, Việt nam đă và đang có đóng góp lớn trong việc Bắc Hàn đóng cửa ḷ hạt nhân, ngồi vào bàn đàm phán. Miến điện cũng bắt đầu êm dịu trong cuộc nội chiến.

Tất cả những điều trên làm tăng mối lo sợ của một Tống Giang mất vai tṛ trong cái đám anh hùng Lương Sơn bạc!

Tối hôm qua đài truyền h́nh Việt nam phải làm khẩn 1 chương tŕnh ca nhạc trực tiếp cho tất cả các nước có mời các phái đ̣an ngọai giao, và nội dung chính của chương tŕnh này là muốn nói với thế giới là Việt nam muốn ḥa b́nh và Việt Nam muốn là bạn bè của thế giới. Chuyện đâu có đơn giản như vậy được? “Có đảng th́ phải có phái”, câu nói nỗi tiếng của Mao năm nào vẫn c̣n ăn sâu trong máu của giới lănh đạo Trung quốc và cũng không khác trong ư nghĩ của Mỹ. Anh không thể đứng ng̣ai cuộc trong thế giới hiện tại. Anh phải tỏ rơ lập trường, không thể “Tọa sơn quang hổ đấu” được!

Như vậy, hành động của Việt Nam lúc này phải như thế nào th́ ai cũng rơ phải làm ǵ?

1. Chiến tranh hay đàm phán để đ̣i Trường sa và Ḥang sa chưa thể đi đến kết quả tốt được với khả năng và ḥan cảnh VN, nếu Việt Nam chưa rơ ràng khuynh tả hay khuynh hữu.

2. Thân Trung quốc th́ chịu cảnh nộ lệ như cảnh ông cha ta đă từng 1000 năm bị đô hộ và nghèo đói, nhược tiểu.

3. Thân Mỹ là khả dĩ nhất để giải quyết vấn đề, nhưng dù nhóm thân Trung quốc và bảo thủ gần đây có yếu thế hơn, mà những động thái gần đây của nhóm bảo thủ trẻ c̣n có những đ̣n ranh ma hơn 2 ông già cũ.

4. Vậy phải lo xong lọan trong nhà, dàn xếp ổn thơa 2 phe rồi mới đi đến thống nhất thân Mỹ th́ mọi vấn đề tôi nghĩ sẽ ổn chứ không riêng ǵ TS và HS.

Mọi người có cao kiến ǵ không bổ sung thêm, đây chỉ là ư tưởng của một người dân yêu nước. Có ǵ sai th́ xin mọi người chỉ giáo thêm. Nhưng làm ǵ th́ làm, theo tôi, không nên và dừng bao giờ đẩy dân tộc và đất nước này vào ḷ lửa chiến tranh.

Phạm Viết Duy -- Dec 10, 2007

11.  “Năm 1977, Việt Nam khó có thể lấy được chiếc ghế mà Sài G̣n đă ngồi ở Liên Hợp Quốc …” ? Thông tin này của bạn không đúng v́ Sài G̣n và Hà Nội trước năm 1977 đều không có ghế ở LHQ.

DongA -- Dec 10, 2007

12.  Xin lỗi, tôi viết hơi tối nghĩa. Ư của tôi là khi Nam-Bắc phân tranh chưa có bên nào được vào LHQ, nhưng khi miền Bắc đă thu về ṭan vẹn lănh thổ th́ việc vào chiếc ghế LHQ chỉ là vấn đề quan điểm và cơ hội rất cao. Có nghĩa là VN ḿnh đă bỏ qua quá nhiều cơ hội, trong đó có chiếc ghế này.

Lănh đạo một tổ chức cũng vậy, nếu động cơ tốt th́ tổ chức đó sẽ phát triễn tốt. Lănh đạo một đất nước, theo tôi, nếu v́ dân tộc và tổ quốc th́ mọi việc sẽ ổn, c̣n nếu xem chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ là mục đích mà không xem là phương tiện th́ mọi việc sẽ rối rắm. Lại càng sai lầm khi lănh đạo chỉ xem xét những quyền lợi cho 1 nhóm người mà không đặt lợi ích dân tộc và tổ quốc lên trên.

Thân,

Phạm Viết Duy -- Dec 10, 2007

13.  Sau đây là bài b́nh luận của TS Triết học Lê Tuấn Huy về vấn đề TS & HS, một nhà nghiên cứu, dịch thuật, một trong những người trẻ đáng trân trọng. Thiết nghĩ cũng nên đưa lên Minh Biện để các bạn biết. Tôi dă xin phép tác giả.

VIỆT NAM “CHỊU” BỎ RƠI, ĐÓ LÀ CƠ HỘI CỦA TRUNG QUỐC(BÀI I)

Báo chí phải lột bài phê phán hành động của Trung Quốc, trường học có công văn không cho sinh viên, giảng viên tham gia biểu t́nh chống Trung Quốc… Đó là những động thái mà chính quyền đáp ứng lại trước sự sôi sục của công chúng, cả ngoài thế giới thực lẫn trên thế giới ảo sau khi người đồng chí phương bắc hợp thức hóa chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa… Tôi hoàn toàn không ủng hộ những hành động thiếu suy nghĩ (ví dụ hack vào các website TQ, nếu bị truy nguyên không ai đứng ra bảo vệ đâu cho dù là thể hiện ḷng yêu nước…) nhưng đến như thế này th́ bạc nhược quá thể!…

Thực tế, những “đáp ứng” như thế là điều hoàn toàn dễ hiểu và không có ǵ lạ. Khẩu chiến suông bằng ngôn từ ngoại giao để rồi hoàn toàn… thúc thủ trước bất kỳ động thái nào về lănh thổ từ phía Trung Quốc, vẫn là “khuôn mẫu” từ trước đến nay. V́ sao như vậy? Có nhiều nguyên nhân, nhưng quan hệ quốc tế và tương quan địa-chính trị là một trong những điều chủ yếu nhất.

Bài dưới đây của tác giả Hoằng Danh đăng trên talawas gần sáu tháng trước, trong một bối cảnh khác hiện nay. Đương nhiên, dưới ng̣i bút của một tác giả không thuộc ḍng “chính thống”, bài này công kích thẳng thừng chính quyền Việt Nam trong việc đàn áp đối lập, nhưng được đặt trên nền phân tích gần như toàn diện quan hệ địa-chính trị của vùng Đông Nam Á (và cả với Đông Bắc Á) trong tương quan giữa Việt Nam - Hoa Kỳ - Trung Quốc.

Ở khía cạnh này, những luận điểm đáng chú ư trong bài là:

*
Sau khi ảo tưởng và đi đến phá sản trong chiến lược dùng ASEAN để kiềm chế Trung Quốc, Việt Nam lại quá ảo tưởng về vai tṛ chiến lược độc nhất vô nhị của ḿnh trong vùng, từ đó quá ảo tưởng về việc mặc nhiên được Hoa Kỳ bảo vệ trong chiến lược địa-chính trị của siêu cường này.
*
Việt Nam không có đồng minh về mặt thể chế để sẵn sàng cùng đứng trong cuộc đối đầu với TQ. Ngược lại, đồng minh thể chế đó lại chính là TQ! (Điều này h́nh như Hoằng Danh đă viết đâu đó…)
*
Việt Nam bị bỏ rơi trong cuộc “đối đấu” về lănh thổ với Trung Quốc.
*
Tác giả thách thức Việt Nam “giảm cấp” quan hệ với Hoa Kỳ để dựa vào Trung Quốc, v́ như thế Trung Quốc sẽ sẵn sàng và tức th́ chớp bất kỳ cơ hội nào vừa có để “ngoạm” tiếp miếng khác của Việt Nam (mà một khi đă “ngoạm” th́ không bao giờ Việt Nam lôi ra lại được!).

Đặt trong khung cảnh ngay lúc này, khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và Việt Nam - Liên hiệp Âu châu - ngoài bề mặt và ngôn từ ngoại giao, kinh tế - đang ở vào mức rất thấp về mặt chính trị (xuất phát vẫn là chuyện nhân quyền, dân chủ). Đó há không phải là sự “bơ vơ” của Việt Nam và là thời cơ để Trung Quốc làm tiếp một “phát” sao?

Bài dài, được post vào hai entry.

—-

22.6.2007

Hoằng Danh

Lựa chọn chính trị (3): của Hoa Kỳ, qua chuyện đối lập Việt Nam, trong bối cảnh địa-chính trị

1. Đột ngột ra khỏi danh sách CPC, tổ chức Hội nghị APEC, nhận được PNTR, gia nhập WTO - những thắng lợi ngoại giao dồn dập này khiến h́nh ảnh Việt Nam sáng chói vào những tháng cuối năm 2006 và đầu năm 2007.

2. Chính Hoa Kỳ đă đính ngôi sao này lên ṿm trời, v́ trong bốn sự kiện vừa nêu đă có đến ba là từ quyết định trực tiếp hoặc quyết định có tính quyết định của quốc gia này. Sự kiện c̣n lại th́ siêu cường số một cũng đóng vai tṛ chủ chốt trong thành công đầy màu mè của nó, khi vị Tổng thống Mỹ chống chuyên chế mạnh mẽ nhất lại có những hoạt động giúp tô điểm cho nền toàn trị và ngó lơ trước những người đang tranh đấu chống lại ách bạo quyền đó.

Ngày 03 tháng Hai 2007 đă “đi vào lịch sử” khi nó vốn là ngày mà đế quốc không được phép có sự “khoe mẽ” nào trên đất Việt Nam của Đảng Cộng sản, th́ Đại sứ Hoa Kỳ lại có cuộc trao đổi trực tuyến hoành tráng, làm lu mờ cả meeting và phát biểu nhàm chán năm nào cũng như năm nào của lănh đạo sở tại, bởi ông Marine công khai nói đến quan hệ chiến lược giữa đầu sỏ đế quốc với một sừng sỏ chống đế quốc.

Cũng đă có tin về việc Mỹ sẽ tiến hành t́m kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh trên vùng biển Việt Nam. Rồi trong khi lệnh cấm vận vũ khí vẫn duy tŕ đối với Trung Quốc, nó lại được tháo khoán cho quốc gia láng giềng phía nam.

3. Vừa đến đích (ít ra là trong quan niệm của một số giới quyền lực, thành quả là “đích” đến để khoa trương), theo truyền thống “tự lực cánh sinh” của ḿnh (ít ra là sau khi đă dựa dẫm đến hết mức), không cần đến bàn tay đính lên của Hoa Kỳ nữa, Việt Nam tiếp tục tự chói sáng trên bầu trời bằng cuộc chiến công khai, khốc liệt, phi pháp và bỉ ổi của cả hệ thống bạo lực và truyền thông toàn trị chống lại các nhà hoạt động dân chủ mà vốn vũ khí của họ chỉ là ḷng quả cảm và ngôn luận.

4. Cuộc đàn áp lần này là được suy đoán theo nhiều hướng khác nhau: sự nín nhịn quá lâu của phe bảo thủ, có sự giật dây từ bên ngoài, có những thế lực trong nước muốn phá hoại các chuyến công du sang Mỹ, v.v… Tuy vậy, có một điều dễ thống nhất, là bộ máy toàn trị đă và đang hành động một cách có hệ thống chứ không hề là những việc làm bột phát về chiến lược hay sách lược. Nh́n vào hành xử của họ đối với các nhà hoạt động dân chủ và khối dân oan từ trước khi có cuộc đàn áp đến nay, ta dễ dàng nhận ra những toan tính có sẵn về các bước đi chiến thuật, về các biện pháp và thời điểm… đối với từng đối tượng cụ thể[1].

Và cái bối cảnh quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ mà cả hai bên đều phô diễn đó đă biến thành ngay một thứ mồi cho giới toàn trị nhử các nhà hoạt động dân chủ và đưa họ vào tṛng.

5. Ngoài chuyện đàn áp hung hăn, bất chấp mọi chuẩn mực sơ đẳng nhất về pháp luật và đạo đức, đối với bên ngoài, thái độ của giới cầm quyền Việt Nam cũng không thua ǵ. Dường như họ muốn chứng tỏ rằng sẽ càng gia tăng cường độ và phạm vi đàn áp trước sự gia tăng phản ứng các nước dân chủ. Đó là một thái độ thách thức công khai đối với cộng đồng quốc tế.

6. Khinh khỉnh đối với châu Âu và những nước như Úc, Canada… khi các nước này hoặc chính trị gia tại đó phê phán chiến dịch đàn áp bất đồng chính kiến tệ hại nhất trong hai mươi năm qua. Trơ tráo chụp mũ các tổ chức nhân quyền quốc tế, mà vốn tiếng nói của họ không một tổ chức hay chính quyền dân chủ nào dám coi thường. Hành xử một cách thô bạo và vô liêm sỉ, bất chấp chuẩn mực ngoại giao với bất kỳ ai trực tiếp liên hệ với giới phản kháng ngoài “chương tŕnh chính thức”…

7. C̣n với Hoa Kỳ, Việt Nam thật sự đă đánh vỗ mặt.

Bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân vừa từ Mỹ về sau khi tham gia khóa học về xă hội dân sự do chính Quốc hội Mỹ tài trợ, phớt lờ sự lên tiếng của những chính trị gia có liên quan vốn được xếp trong nhóm uy tín hàng đầu nước Mỹ.

Hạ nhục dân biểu Hoa Kỳ khi “dàn quân” ngay trước mũi Loretta Sanchez, không cho tiếp xúc với vợ những nhà bất đồng chính kiến, vu vạ bà tiếp tay cho “khủng bố” bằng cả một chiến dịch truyền thông. Đó là c̣n chưa kể họ đặt điều một cách ngờ ngệnh đến không thể tưởng tượng rằng bà gây áp lực với Đại sứ Micheal Marine tổ chức cuộc gặp những phần tử chống đối, rằng bà đă vi phạm chính Hiến pháp Hoa Kỳ…

Tiếp tục đàn áp và xét xử không ngơi nghỉ những người phản kháng ôn hoà ngay khi cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ thường kỳ đang diễn ra.

Không ngại ngần nhổ cả lên chữ tín ngoại giao khi lời hứa trực tiếp của một Phó thủ tướng nhiều quyền lực với hành pháp Hoa Kỳ cũng bị nuốt.

Khi cả Hạ viện Mỹ tuyệt đối đồng thanh (chuyện hiếm hoi trong một xứ sở mà hoàn toàn đồng thuận trong quan điểm riêng là điều không tưởng) về nghị quyết chỉ trích chuyện nhân quyền Việt Nam, nhà cầm quyền toàn trị vẫn tiếp tục lu loa về cái gọi là “công việc nội bộ” như một tṛ đùa ngôn từ.

8. Họ đùa đến mức thật ḷng dạy bảo lại cho Hoa Kỳ như thế nào là pháp quyền và dân chủ, luôn vênh mặt trên truyền thông và cả những trao đổi trực tiếp, bằng những lời lẽ mà chỉ có những kẻ trâng tráo nhất trong lịch sử loài người mới không biết ngượng mà nói ra, về việc chỉ có “những kẻ vi phạm pháp luật” bị xử phạt ở Việt Nam chứ không bỏ tù người bất đồng chính kiến, không có tù chính trị.

Giới cầm quyền Việt Nam đang nói với Hoa Kỳ và thế giới mà như chỉ đang nói với đám (mà họ muốn là và coi là) dân ngu của họ. Thái độ ngạo nghễ như vậy khi nói những điều trơ trẽn ở mức hoàn toàn lộ liễu chỉ có được thể giải thích rằng hoặc là do xem người ta quá ngu ngốc, hoặc do chính ḿnh quá ngu ngốc mà tưởng người ta ngu ngốc hay không thể nhận ra cái ngu ngốc của ḿnh. Trường hợp này, là cả hai.

9. Tṛ đùa của giới toàn trị đối với Hoa Kỳ cũng đă được nâng lên đến “tầm cao mới”, họ không chỉ xem cường quốc này là đối tượng để dạy bảo mà c̣n là đối tượng để… răn đe. Đến là nực cười, khi chính giới cao cấp Hoa Kỳ ngày càng tỏ một thái độ đồng thuận và cứng rắn với chiến dịch đàn áp tại Việt Nam, phản ứng của nhà nước toàn trị là đưa công an ra đáp lễ.

Tờ Công an Nhân dân (mà ai cũng biết là cơ quan ngôn luận ǵ), trong một bài hồi gần đây, sau phỉ báng Quốc hội Mỹ (“cố t́nh đánh lận con đen”) đă dùng văn phong của một bản văn cấp nhà nước mà nói rằng: Cũng phải thẳng thắn nói rằng, hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đang có lợi ích chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trên nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả. Việt Nam sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và cởi mở về những vấn đề mà phía Hoa Kỳ quan tâm, để tăng cường hiểu biết giữa hai bên và không để những khác biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực. Nhưng Việt Nam không bao giờ chấp nhận những thái độ áp đặt, kẻ cả, có xu hướng can thiệp vào công việc nội bộ của nước ḿnh.

Đây chính là lời răn đe - theo đúng nghĩa đen - được Hà Nội tung ra với thông điệp đe doạ đến quan hệ chiến lược giữa hai bên.

10. Trước nay Hà Nội vẫn bất chấp cộng đồng quốc tế trong vấn đề dân chủ và nhân quyền, nhưng lần này thái độ của họ “dũng mănh” và tự tin đến lạ thường, v́ sao vậy? Cùng với sự đánh tráo và tráo trở trong văn hóa chính trị toàn trị Việt Nam, thói kêu ngạo cộng sản - như một phần của sự ảo tưởng từ trong bản chất của chủ thuyết này - vẫn là một đặc điểm khó mà có thể gột bỏ của họ.

Bên cạnh việc ảo tưởng quá sớm về vị thế kinh tế và chính trị trên trường quốc tế tạo được trong thời gian gần đây, vốn từ thực chất đến biểu hiện đều xuất phát từ sự vận hành và quan hệ tư bản chủ nghĩa, Hà Nội cũng ảo tưởng quá sớm về vị thế chiến lược của ḿnh trên bàn cờ toàn cầu và trong quan hệ với Hoa Kỳ. Với những ǵ đă thể hiện, giới cầm quyền toàn trị nghĩ rằng vị thế này có thể cho phép họ bất chấp dân chủ và nhân quyền, thậm chí buộc thế giới dân chủ phải dung dưỡng cho sự chuyên chế của họ.

11. Ai cũng đă rơ, trên phạm vi châu Á, vị thế của Trung Quốc đang nhanh chóng củng cố và bành trướng, và theo truyền thống, chuyển động của nó trước tiên lại hướng xuống phía nam. Cũng theo truyền thống, dù muốn hay không, dù ở mức độ nào và theo nghĩa nào, Việt Nam vẫn trở thành một tiền phương trước sự bành trướng này.

Sự bành trướng thế và lực - mà nay đă lên tới vũ trụ - của một quốc gia cộng sản Khổng giáo (đáng sợ hơn nhiều so với cộng sản ở phía tây) khiến Hoa Kỳ phải nhanh chóng có sự điều chỉnh thích hợp về địa-chính trị trên nhiều mặt, kể cả quân sự. Vị trí tiền phương của Việt Nam khiến quốc gia này trở nên quan trọng trong chiến lược đó.

12. Việt Nam, sau khi hoàn toàn thất bại trong việc sử dụng ASEAN như một đối trọng kiềm chế tham vọng trên biển của Trung Quốc, đă âm thầm thay đổi tư duy chiến lược và t́m đến một đối trọng khác. Đó chính là Hoa Kỳ, vốn cũng đang có chủ đích xác lập vai tṛ đối trọng trước thế lực đang lên của Trung Quốc tại châu Á, và cần đến Việt Nam như một điểm hiện diện của thế và lực tại Đông Nam Á gần với Trung Quốc nhất.

Với Trung Quốc, Việt Nam cần đến như một đồng minh ư thức hệ trong một thế giới mà chủ nghĩa cộng sản chỉ c̣n phần co cụm đáng kể tại châu Á[2]. Việt Nam cũng cần người láng giềng này ban cho một quan hệ thân thiện, cần thiết cho việc tập trung phát triển kinh tế, xă hội.

Trung Quốc th́ cần Việt Nam được đặt trong ṿng ảnh hưởng của ḿnh, để ngăn ngừa sự hiện diện của thế lực Mỹ.

Và ở đây, trên lănh thổ Việt Nam và biển Đông, cũng như trên khắp vùng Đông Nam Á, Trung Quốc không cần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ không cần Trung Quốc. Nếu có chăng th́ chỉ là cái đối trọng để hù dọa và khuyên bảo, ve văn Việt Nam ngả về phía ḿnh.

13. Nh́n vào cục diện hiện nay của quan hệ tay ba này, trong bối cảnh địa-chính trị, Hoa Kỳ dường như yếu thế nhất và Việt Nam là mạnh “thế” nhất.

Trung Quốc th́ “yên vị” với vị trí địa lư tự nhiên, không cần phải “bôn ba” và nhọc ḷng ve văn, đổi chác để có sự hiện hiện nào đó, như Hoa Kỳ phải làm. Các căn cứ quân sự tại Hải Nam và Hoàng Sa chắc hẳn đă tạo được “tầm ảnh hưởng” đến bắc và trung phần Việt Nam. Đó là c̣n chưa kể không biết họ c̣n đang thực hiện những công tŕnh ǵ tại những đảo đă chiếm được ở Trường Sa nhằm mở rộng cái tầm đó về hướng nam. Điều duy nhất cần làm là trong khi thực hiện chiến lược vết dầu loang, họ cố gắng tạo cho Việt Nam một cảm giác an ninh lănh thổ và an toàn chính trị.

Với Hoa Kỳ, cường quốc này đă rời khỏi Đông Nam Á khá lâu, để tái hiện diện, dường như họ sẽ phải làm lại từ đầu dù với bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào, vậy th́ chọn phương án tốt nhất là Việt Nam… Chủ động khai thông những chướng ngại rất lớn trên con đường hội nhập của quốc gia cựu thù, những hứa hẹn và thực tế nguồn lợi kinh tế từ đầu tư và thị trường Mỹ, sự hậu thuẫn tại các định chế kinh tế thế giới và hứa hẹn một vai tṛ lớn hơn trên trường quốc tế dành cho Việt Nam, thậm chí c̣n ngầm mở ra khả năng về một sự bồi thường chiến tranh trá h́nh (vụ kiện tác nhân cam)…; Hoa Kỳ phải làm nhiều việc như thế chỉ là để đem lại cho Việt Nam cảm giác rằng không chỉ là lợi ích kinh tế to lớn mà c̣n nhiều lợi ích chính trị trên b́nh diện quốc tế, cũng như một sự an toàn lănh thổ trước sự bành trướng lúc ẩn lúc hiện của phương bắc.

Nhận thấy vị trí địa lư quan trọng của ḿnh trong tính toán chiến lược của Hoa Kỳ, trước t́nh h́nh cường quốc này ngày càng nôn nóng về sức mạnh quân sự không minh bạch của Trung Quốc, Việt Nam trở nên mạnh “thế” trước Hoa Kỳ. Cái thế đó càng được củng cố hơn nữa khi nhận ra sự chuyển hướng, nhích lại gần nhau của hai cựu thù này, Trung Quốc cũng đă điều chỉnh cách hành xử. Sự thân thiện trong quan hệ Việt - Trung sau sự kiện đổ máu oan của người Việt trên vịnh Bắc bộ (tháng Giêng 2005) chính là kết quả từ sự chuyển hướng chiến lược của Việt Nam.

Việt Nam nay đang ở vào cái thế được cả hai cường quốc Thái B́nh Dương này ve văn. Tṛ đi dây của Việt Nam nay đă quá rơ.

14. Sự yếu thế của Hoa Kỳ về địa-chính trị trong quan hệ bộ ba này chính là cái đem lại cho Việt Nam thái độ trịch thượng, đă công khai tráo trở mà lại c̣n lên mặt dạy bảo lại và răn đe Hoa Kỳ.

Khi cơ quan ngôn luận của công an thay mặt cho nhà nước lên tiếng nhắc Hoa Kỳ không để những khác biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực, Hà Nội đang đ̣i hỏi Washington phải chấp nhận và dung túng cho họ trong việc đàn áp những người đối lập để đổi lấy một quan hệ chiến lược.

Chuyến thăm của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đến Trung Quốc trung tuần tháng Năm vừa rồi đă diễn ra trong khi đang chuẩn bị cho chuyến đi Hoa Kỳ. Phát biểu của ông Triết trong chuyến đi đă được các báo Đảng ở Việt Nam in rất đậm: Trung Quốc là đối tác hàng đầu. Chuyến thăm này đă được dự trù từ trước, trong bí mật, hay chỉ được thực hiện khi Mỹ gia tăng phản đối chiến dịch đàn áp dân chủ, như một cách thức dằn mặt đối tác bên kia bờ Thái B́nh Dương - về phía Việt Nam, và là động thái chớp thời cơ - về phía Trung Quốc?

15. Có phải Việt Nam ở vào vị thế mà v́ chiến lược địa-chính trị, Hoa Kỳ buộc phải nhượng bộ dưới bất cứ giá nào, kể cả vứt bỏ giá trị tối thượng của một xă hội dân chủ để vừa phải đem lại các nguồn lợi kinh tế và chính trị cho Việt Nam, vừa phải dung túng cho chuyện đàn áp dân chủ và nhân quyền?

Với những biểu hiện suốt từ sau APEC đến nay, trong tính toán của giới toàn trị, có lẽ là vậy.

16. Việt Nam có một vị trí chiến lược, là cửa ngơ đi vào Đông Nam Á và nằm trên tuyến đường biển quan trọng nối giữa Thái B́nh Dương và Ấn Độ Dương. Câu này hiện diện trong tài liệu giáo khoa ở Việt Nam. Nó đúng, nhưng hoàn toàn không đủ.

Điểm đầu tiên để xác định chiến lược địa-chính trị chính là biết “đọc” và đọc kỹ bản đồ, điều mà tôi e rằng những người có trách nhiệm ở Việt Nam đă không làm hoặc không thể làm.

17. Đông Nam Á gồm các nước trong vành đai địa giới Myanmar - Thailand - Malaysia - Indonesia - Philippines - vùng biển phía nam Trung Quốc giáp với Việt Nam. Phía bắc Đông Nam Á là Trung Quốc, nam là Australia, đông là Thái B́nh Dương và tây là Ấn Độ và Ấn Độ Dương. Trong vành đai này là vùng biển mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa (cũng là từ chuẩn của bản đồ thế giới) và Việt Nam gọi là biển Đông.

18. Việt Nam là cửa ngơ đi vào Đông Nam Á nhưng không phải là cửa ngơ duy nhất, và cũng không phải là cửa ngơ đối với tất cả.

Việt Nam chỉ là cửa ngơ Đông Nam Á đối với Trung Quốc mà thôi, và cũng chỉ là cửa ngơ đường bộ. Với sự lớn mạnh của hải quân, đảo Hải Nam và Hoàng Sa đă quân sự hoá ở những mức độ nhất định, rồi các hải cảng hùng hậu ven biển phía nam, trong đó kể cả Hongkong và Macau, cửa ngơ trên biển để tiến vào Đông Nam Á của Trung Quốc chưa bao giờ rộng mở như lúc này.

Nga không cần cửa ngơ Việt Nam v́ chiến lược địa-chính trị của họ nay rất thực tiễn. Lănh thổ vắt ngang Âu-Á của họ cho phép họ kiểm soát tốt những vùng họ muốn kiểm soát, nên quan tâm hàng đầu của họ là những vùng địa lư thân thuộc chứ không phải một vùng xa lắc của một cựu đồng minh Soviet.

Việt Nam cũng không hề là cửa ngơ của Mỹ v́ Mỹ không muốn tiến lên phía bắc từ đây, và quanh Việt Nam cũng không phải là những chốn mà Hoa Kỳ cần chinh phục trong khó khăn.

19. Mà thật ra dường như vấn đề cửa ngơ vào Đông Nam Á cũng chỉ có Việt Nam tự nhấn mạnh. Thời c̣n chia cắt, họ cho rằng cuộc chiến là do vị trí cửa ngơ giữa hai chiến tuyến ư thức hệ ở Đông Nam Á. Sau năm 1975 cho đến trước khi mất chỗ dựa vào Liên Xô, vai tṛ cửa ngơ càng được nhấn mạnh hơn nữa do “mộng bành trướng của chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh”. Hiện nay, trước sự lớn mạnh và tham vọng trên biển của Trung Quốc, dường như Việt Nam lại muốn “làm ḿnh làm mẩy” với Hoa Kỳ về vai tṛ cửa ngơ này.

20. Thực tế, ngoài Trung Quốc vào Đông Nam Á trực tiếp bằng con đường Việt Nam, th́ người ta có thể vào Đông Nam Á theo những hướng khác nhau. Khái niệm “cửa ngơ” cũng chỉ theo nghĩa tương đối tùy theo nơi xuất phát. Chẳng hạn các nước Đông Bắc Á khác hay các nước bên kia Thái B́nh Dương, kể cả Hoa Kỳ, để vào Đông Nam Á, th́ Philippines là cửa ngơ quan trọng hơn nhiều so với Việt Nam v́ nước này giữ vị trí chắn dọc ŕa phía đông của các nước Đông Nam Á, và cực bắc của nó (gồm cả một số đảo) cùng với phía nam Đài Loan tạo thành cái cửa mà phần lớn tàu bè vào Đông Nam Á theo hướng đông đều phải qua. Các căn cứ quân sự lớn của Mỹ trước đây tại khu vực này được đặt ở Philippines là v́ vậy.

21. Với chiều dài bờ biển trải dọc biển Đông, Việt Nam kiểm soát được các di chuyển từ Thái B́nh Dương sang Ấn Độ Dương ư? Lại là một ảo tưởng.

Một phần hai chiều dài đó đă phải chia sẻ tầm ảnh hưởng với phần lănh thổ nối dài đến đảo Hải Nam và Hoàng Sa, vậy đó chỉ là hai người bạn kiểm soát lẫn nhau mà thôi. Đó là chưa kể vịnh Bắc bộ, mà vị trí chỉ như một cái hốc, không có vai tṛ trong tuyến thông thương đông - tây quốc tế.

Hơn một phần hai chiều dài bờ biển c̣n lại của Việt Nam th́ chia sẻ ở mức độ như nhau với các nước lớn là Philippines, Malaysia, Indonesia trong việc “ḍm ngó” vào lưu thông hàng hải.

Một điểm đặc biệt chú ư, Việt Nam cũng hay nhắc rằng nước này nằm trên hải lộ có eo biển Malacca, là điểm huyết mạch giữa Thái B́nh Dương và Ấn Độ Dương. Đây là cách hiểu lập lờ đến huyễn hoặc. Với eo biển này, Việt Nam đă hoàn toàn không c̣n chút vai tṛ ǵ, nó thuộc vùng chi phối trực tiếp của Malaysia, Indonesia và Singapore, nên không thể “ăn theo” một cách vô lối như vậy được.

22. Với cách hiểu cửa ngơ theo “tư duy một cửa” Việt Nam nghĩ rằng từ vị trí của ḿnh sẽ vươn tầm kiểm soát khắp Đông Nam Á. Nếu chịu “tư duy đa cửa” Việt Nam sẽ thấy rằng chính là đất nước này nằm trong một vùng mà cửa nào cũng đều có thể hướng thẳng về họ (như đă từng xảy ra trong chiến tranh). Do vậy, cho dù cái cửa Việt Nam có mở hay bị mở cho Trung Quốc th́ các cửa khác vẫn có thể đóng lại, thậm chí bịt kín tầm vươn đă được mở ra đó trong giới hạn của nó mà thôi, v́ nên nhớ rằng những cánh cửa này tạo thành một ṿng cung mà Việt Nam nằm lọt thỏm trong đó.
————————————————————
Chú thích:

[1] Đă dự trù tất cả, từ việc không cho Lê Thị Công Nhân hay Nguyễn Văn Đài thoát ra (ít ra là giới cầm quyền nghĩ đó là đường thoát) qua những chuyến đi ra nước ngoài, cho đến việc Lê Trí Tuệ “mất tích” ngay cả khi đă sang Cambodia và được Cao uỷ Tỵ nạn cấp qui chế, rồi hành động quyết liệt khi Nguyễn Quốc Tuấn công bố kháng thư của ḿnh cùng cáo trạng của chính quyền đối với Nguyễn Quốc Huy, bất chấp các thủ tục tố tụng thành văn, như một h́nh thức xiết chặt sự cô lập và bao vây về thể chất, tinh thần đối với các nhà dân chủ đang bị giam giữ…

[2] Điều này, nói cho đúng ra, là giới lănh đạo toàn trị Việt Nam cần một chỗ dựa quốc tế cho quyền lực và quyền lợi của nhóm đầu sỏ, chứ bản thân họ biết Trung Quốc từ xưa đến nay chưa bao giờ là chỗ dựa lưng cho đất nước cả.

Link: http://blog. 360.yahoo. com/blog- bfvqsbM9frIQmHcP B6d2QS4LkA–?cq=1&p=215

Phạm Viết Duy -- Dec 11, 2007

14.  VIỆT NAM “CHỊU” BỎ RƠI, ĐÓ LÀ CƠ HỘI CỦA TRUNG QUỐC(BÀI II)
Lê Tuấn Huy

23. Biển Nam Trung Hoa cũng chỉ là một cái vũng của Thái B́nh Dương mà thôi, và trong khi Việt Nam chỉ có một hướng quay về “vũng” th́ những nước Đông Nam Á phía ŕa đông, nam và tây có cái nh́n hướng ra biển lớn cũng như từ biển lớn tiếp cận vào, thông thoáng hơn nhiều khi xét trên phương diện thông thương và chiến lược trên biển.

Đặc biệt với vị trí của Philippines, họ vừa có thể hướng tầm kiếm soát vào “vũng”, vừa có thể vươn tầm ra Thái B́nh Dương - cái đại dương quan hệ mật thiết với cả Trung Quốc và Đông Nam Á - dễ dàng hơn nhiều. Có thể nói đối với đại dương này, Philippines giữ vị trí tiền tiêu, cửa ngơ của Đông Nam Á chứ không phải Việt Nam.

24. Trước sự lớn mạnh trên biển của Trung Quốc, cái cửa Việt Nam dù có đóng hay mở th́ cũng không thành vấn đề lớn đối với các nước khác trong vùng, v́ với phân bố địa lư biển như thế, mỗi nước phải tự gánh vác thách thức của ḿnh chứ Việt Nam không hề gánh giùm cho phần nào. Có chăng chỉ là Việt Nam phải gánh lấy phần nặng nhất của chính ḿnh mà thôi. Dù có Qui tắc Ứng xử biển Đông được kư chung giữa tập thể ASEAN với Trung Quốc nhưng khi Trung Quốc vượt khỏi khung ứng xử này với Việt Nam th́ tất cả phần c̣n lại đều im lặng, là v́ vậy.

25. Như thế, thực tế mà nói, tầm quan trọng của Việt Nam trong tương quan với sức mạnh của Trung Quốc trong vùng rốt lại cũng chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc với Việt Nam, và kiềm chế được Trung Quốc hay không là quyền lợi trực tiếp và sống c̣n của Việt Nam chứ không phải của các nước Đông Nam Á khác, dù không phải họ không bị tác động. Nó càng không phải quyền lợi trực tiếp và sống c̣n của Hoa Kỳ. Tuyến Malacca là con đường huyết mạch vận chuyển dầu mỏ và hàng hóa đông - tây, nếu phát sinh vấn đề nghiêm trọng, người đầu tiên chịu ảnh hưởng chính là Trung Quốc và Nhật Bản với tư cách nguồn tiêu thụ nhiên liệu từ Trung Đông và những nơi khác, sau đó là Việt Nam và một số nước khác trong vùng với tư cách người xuất khẩu dầu mỏ và hàng hoá.

26. Với quyền lợi trực tiếp và sống c̣n của ḿnh mà lại nghĩ rằng người khác phải hy sinh đến cả giá trị tối thượng của họ, th́ không có sự huyễn hoặc nào hơn nữa trong quan hệ quốc tế!

Vấn đề là ở chỗ Việt Nam hiểu rằng nếu hiện diện tại đây, Hoa Kỳ thuận lợi hơn và trực diện hơn với Trung Quốc trong chiến lược kiềm chế “từ xa”. Nhưng các nhà chiến lược Việt Nam cần nhớ cho rằng dù có là lựa chọn thuận lợi nhất về mặt địa lư th́ Việt Nam không phải là lựa chọn thuận lợi nhất về mặt chính trị (họ quen nghĩ thuận lợi chính trị chỉ là “ổn định chính trị”), và càng không phải là lựa chọn duy nhất.

Chọn Việt Nam, Hoa Kỳ đạt mục tiêu mà Việt Nam cũng được trực tiếp bảo đảm an ninh trước sự đe dọa tiềm tàng từ phương bắc. Không chọn Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn sẽ đạt mục tiêu nhưng Việt Nam th́ không có được sự bảo đảm đó, thậm chí sẽ bị bỏ rơi như đă từng hoàn toàn bị bỏ rơi.

27. Trên thực tế Phillipines, Malaysia, hay Indonesia dù không trực tiếp nhưng đều có thể thay thế cho Việt Nam. Đặc biệt, như đă nói, với vị trí mở cho cả hướng từ Thái B́nh Dương và Đông Bắc Á vào biển Nam Trung Hoa, Philippines là một địa điểm lư tưởng, có vai tṛ đối với toàn bộ tiểu vùng này nếu tính từ hướng Thái B́nh Dương.

Với những nước này Hoa Kỳ đang có những vấn đề nhất định, nhưng điều đó không có nghĩa là siêu cường không thể nào tái hiện diện. Chỉ là cả những nước đó, cả Việt Nam cùng lúc được đặt lên bàn cân, và do chính những vấn đề nhất định đó nên vị trí của Việt Nam trở thành ưu thế vượt hẳn. Ưu thế này c̣n được củng cố khi chính Hà Nội ve văn để có một vị thế như vậy cho ḿnh, cùng với một tâm lư thoả măn “thầm kín” có thể có nào đó trong tính toán của Washington.

28. Như vậy, trong tương quan địa-chính trị, khi so bộ ba Hoa Kỳ - Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam ở vào vị thế mạnh nhất và Hoa Kỳ là yếu nhất. Nhưng đặt trong bối cảnh của Đông Nam Á và rộng hơn nữa - mà chính bối cảnh này mới là cái cần thiết để Hoa Kỳ tính toán địa-chính trị - th́ vị thế yếu nhất chính là Việt Nam và mạnh nhất lại là Hoa Kỳ. Việt Nam gặp những đe doạ trực tiếp chứ không phải là ai khác. Việt Nam đă từng bị bỏ rơi trước nguy cơ này và khả năng đó vẫn có thể xảy ra, chứ không phải là các nước phía nam ASEAN. Và dù có bất kỳ vấn đề ǵ, không kể Việt Nam, tất cả các nước ven biển Nam Trung Hoa c̣n lại đều thừa hiểu họ cần đến Hoa Kỳ như thế nào trước sự lớn mạnh trên biển của Trung Quốc.

29. Với Việt Nam, nói đến khả năng xấu nhất trong quan hệ, Hoa Kỳ vẫn có thể “buông”, c̣n Philippines hay các nước quanh Malacca, điều đó không thể xảy ra. Một rẻo nước ở góc kẹt lại có thể quan trọng bằng điểm nối trên biển giữa Đông Bắc Á với Đông Nam Á và giữa Thái B́nh Dương với biển tiểu vùng, hay có thể quan trọng bằng ngay chính Malacca ư? Việt Nam, với tư cách đồng minh ư thức hệ hay đồng minh chính trị của Trung Hoa mà đối với với Hoa Kỳ lại có thể khả tín hơn so với những đồng minh thể chế và truyền thống trong khu vực ư?

30. Mức độ khả tín đó như thế nào, ai ai cũng đă thấy rơ trong thời gian vừa qua, trong thái độ dạy bảo và răn đe ngược đời của Hà Nội.

Việt Nam là một “đồng minh” như thế nào và của ai, ai ai cũng đă thấy trong trong văn hoá bài Mỹ một cách nhất quán của họ.

Gieo rắc nhận thức và tâm lư chống Mỹ là điều quá dễ nhận thấy trong văn hoá và giáo dục Việt Nam. Thế hệ 8x, 9x ngày nay có thể thuộc làu làu “tội ác” của Mỹ trên đất Việt Nam từ năm 1975 về trước, chứ những chuyện sau đó chỉ vài năm của Khmer đỏ - “tay sai của tập đoàn Trung Nam Hải” hay của chính Trung Quốc gây ra trên đất Việt Nam th́ đối với những thế hệ sau này dường như không từng xảy ra! Thái độ chống Mỹ ở bất cứ đâu trên thế giới cũng được truyền thông Việt Nam khai thác, c̣n những ǵ làm phật ḷng người láng giềng họ đều kiêng sợ, thậm chí là đối với đối tác làm ăn lớn và từ rất sớm của thời đổi mới (Đài Loan) họ cũng sẵn sàng “bôi mặt” cho vừa ḷng Bắc Kinh…

31. Có đáng để Hoa Kỳ hy sinh giá trị dân chủ để dung túng cho một đối tác như vậy không? Hoa Kỳ có phải là quốc gia nhục nhă đến mức chấp nhận quốc sách bài xích thâm căn cố đế của đối tác mà vẫn phải bảo đảm an ninh cho “thân hữu” này? Cường quốc số một thế giới có thấp hèn đến mức phải nghe dạy bảo và răn đe từ một đối tượng nhất thiết phải cần đến ḿnh?…

Những câu hỏi như vậy không chỉ là vấn đề về lựa chọn cho phía Hoa Kỳ, mà cũng chính là vấn đề lựa chọn cho phía Việt Nam.

32. Đương nhiên có nhiều ư kiến cho rằng không chỉ và không phải là chính trị, kinh tế mới là cái quyết định thái độ của hai nước này với nhau, và khả năng là Hoa Kỳ v́ các quyền lợi kinh tế mà hy sinh các vấn đề về dân chủ, nhân quyền.

Đúng là Hoa Kỳ cũng nhận được những lợi ích kinh tế trong quan hệ với Việt Nam, nhưng ở khía cạnh này cũng vậy, Hoa Kỳ có phải lép vế để mà chấp nhận dung túng mọi điều cho hành xử toàn trị? Rơ ràng là không. Việt Nam cần (và đă được) Hoa Kỳ ban cho PNTR chứ không phải ngược lại. Việt Nam cần Hoa Kỳ tăng cường đầu tư chứ không phải ngược lại. Thị trường Hợp chủng quốc là nơi Việt Nam cần mở rộng thị phần để cạnh tranh với thị phần của Trung Quốc, chứ không phải Hoa Kỳ phải đi làm điều đó ở thị trường Việt Nam. Các công ty Hoa Kỳ muốn làm ăn ở Việt Nam, họ muốn có được sự hợp tác của các giới thẩm quyền, nhưng nếu quan hệ giữa hai nước không thân hữu khiến làm ăn của họ không thuận lợi, th́ sự rút lui của họ lại có thể làm lợi cho h́nh ảnh và môi trường đầu tư của Việt Nam sao?

Chính cái tư duy đến là ngờ nghệch thể hiện thành quan niệm giáo khoa và chiến lược, rằng chính quyền Mỹ do các tập đoàn đa quốc gia giật dây và chỉ phục vụ cho lợi ích giới đại tư bản, nên Hà Nội cố t́nh trám miệng Hoa Kỳ bằng những màn tŕnh diễn với Bill Gate[1] và Intel ngay khi sự phản đối đàn áp dân chủ dữ dội đang diễn ra tại Việt Nam của cả Capitol và Nhà trắng đạt đến cao điểm. Rơ ràng đây cũng là một thông điệp nhắn nhủ đến Washington.

33. Khi tôi kết lại bài này, Tập đoàn PB vừa loan báo ngừng một dự án thăm ḍ dầu khí lớn ở Trường Sa để “các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề ”. Họ không b́nh luận ǵ thêm, nhưng những cái đầu tại tổng hành dinh PB có lẽ đâu thể ngờ nghệch đến mức đặt bút kư một dự án hai tỷ dollar cách đây chỉ trên dưới hai tháng mà không biết đến tranh chấp đă mấy chục năm qua, họ đâu ngờ ngệch đến mức không biết làm ǵ có cơ hội cho các nước liên quan giải quyết vấn đề. Ngoài giả định họ chịu áp lực từ phía Trung Quốc, cũng không thể loại bỏ giả định rằng viễn cảnh an ninh không c̣n được bảo đảm như khi đàm phán tiền khả thi, đă khiến họ rút lui. Nếu đúng là có dính dáng ǵ đó, th́ tương quan giữa kinh tế và địa-chính trị có tầm quan trọng như thế nào, là điều Hà Nội cần phải học lại.

34. Bên trong nước th́ đối với mọi thứ, tư duy và hành động toàn trị đều buộc tất cả phải phục tùng chính trị. Đối với bên ngoài, Việt Nam muốn kinh tế là kinh tế, chính trị là chính trị. Họ luôn ra rả rằng thúc đẩy quan hệ kinh tế nhưng không “can thiệp vào (cái gọi là) công việc nội bộ” của nhau. Nếu vậy, Hà Nội nói đến “quan hệ chiến lược” để làm ǵ, v́ nó đă chạm đến chính trị trên phạm vi khu vực và toàn cầu rồi đó! Nếu vậy, Hoa Kỳ nhọc ḷng đến chuyện tranh chấp hay ảnh hưởng của ai đó trên biển Đông làm ǵ, v́ như thế là đă can dự vào chính sách đối ngoại của Việt Nam rồi đó!

Làm ăn và hưởng lợi lẫn nhau từ cái hoạt động kinh tế th́ không cần đến quan hệ chiến lược, thậm chí ngay cả đối xử tệ bạc về chính trị và văn hoá với Đài Loan mà Việt Nam c̣n giành thắng lợi kinh tế đó thôi.

Vậy theo đó, Washington đừng can thiệp vào “công việc nội bộ” giữa Hà Nội với Bắc Kinh, họ là anh em, đồng chí mà, sẽ tự thu xếp được thôi! Hoa Kỳ chỉ là người ngoài, hăy về mà chơi với anh em, “đồng chí” của ḿnh trong khu vực. Hơn nữa, chính những nơi này mới giữ vị trí yết hầu.

35. H́nh tượng đi dây thật đúng để diễn tả quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ hiện nay. Và với chính h́nh tượng đó, nên nhớ rằng người đi dây chỉ đi được khi hai người nắm đầu dây chịu căng dây thăng bằng. Vậy nếu Việt Nam không muốn tiến quá gần đến đầu dây Hoa Kỳ mà ngược lại, dằn mặt siêu cường bằng cách tiến về phía đầu dây bên kia, th́ Hoa Kỳ có thể ch́u ư họ, buông đầu dây phía bên ḿnh ra.

Cũng theo h́nh tượng này, khi một đầu dây buông ra, người đi dây sẽ rơi xuống vực, va vào vách đá của sườn bên kia, hoặc may mắn th́ chạy kịp về đứng trên phần của sườn đó. Tương ứng th́ nếu không có Hoa Kỳ, hoặc Việt Nam sẽ hứng chịu những hậu quả nặng nề từ phía Trung Quốc hoặc sẽ phải hoàn toàn thuần phục.

36. Tôi nghi ngờ quan điểm cho rằng trong giới cầm quyền Việt Nam có những người muốn dựa hẳn vào Trung Quốc. Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, qua những ǵ đă trải qua trong thời kỳ “môi hở răng lạnh”, sau năm 1975, và cả cho đến hiện nay, cho dù quan hệ Việt - Trung có hữu hảo đến tuyệt đỉnh chăng nữa, không thể nào tin rằng ở đất nước này và giờ này vẫn sản sinh ra ai đó b́nh thường mà lại nảy ra được ư nghĩ dựa hẳn vào Trung Quốc như lá chắn chiến lược của ḿnh.

Nguồn tin đó chẳng qua chỉ là hoả mù do chính Việt Nam tung ra để vừa loè bịp vừa dằn mặt Hoa Kỳ mà thôi! Xét tương quan lịch sử, thực tế và bối cảnh địa-chính trị, chỉ có thể Hoa Kỳ “buông” Việt Nam chứ Việt Nam không thể “buông” Hoa Kỳ để về hẳn với Trung Quốc.

37. Hà Nội càng gia tăng mức độ đàn áp, Washington càng tỏ ra cứng rắn th́ hỏa mù càng nhiều.

Ư kiến về việc có lực lượng nào đó công khai phá hoại những chuyến đi Mỹ thực tế cũng chỉ là hoả mù, dù là cố t́nh ở đối tượng đă tung ra hay vô ư ở những ai đă thổi lên. Nh́n lại thời điểm Việt Nam thay đổi đường lối nhằm “chiến lược” hơn với Hoa Kỳ, ta thấy đó là một lựa chọn hoàn toàn có cân nhắc kỹ càng và có sự thống nhất trong giới lănh đạo chứ không hề là ư muốn hay hành động riêng rẽ của nhóm nào, v́ rơ ràng lựa chọn đó là xuất phát từ chính lợi ích có tính sống c̣n của Việt Nam, không thể khác được nếu không muốn bị tiếp tục bỏ rơi trong biến động nhanh chóng của các lực lượng trên biển Đông.

Nếu thật sự có một lực lượng như vậy (một lực lượng giả th́ có thể có), khi Nhà trắng gặp gỡ các nhân vật dân chủ người Việt cuối tháng Năm, đó là cơ hội tốt nhất để ra đ̣n dứt điểm, sao họ không làm mà lại đi tự biện hộ cho Hoa Kỳ[2]? Đó là c̣n chưa kể liên tục sau đó Tổng thống Bush tấn công Việt Nam trên các diễn đàn có tính quốc tế như trong diễn văn tại Praha, trạm dừng chân trên đường đến Đức dự Hội nghị G8 2007, và tại Lễ khánh thành Tượng đài Nạn nhân Cộng sản.

38. Khi hai bên đang phản ứng với những h́nh thức rất căng vừa qua, Việt Nam bèn công khai hai chữ “chiến lược” với Hoa Kỳ, rồi một loạt những ư kiến về hoạt động không khớp nhau của các cơ quan cấp cao của chính quyền Việt Nam trong các vấn đề có liên quan… Khi chuyến đi của ông Triết bị đe doạ, có số ư kiến bâng quơ rằng ông có thể là Yelsin của Việt Nam (trước đó th́ tầm quan trọng của một nhân vật tương tự như vậy được dành cho ông Dũng), rồi lại ư kiến của Carl Thayer nhắc rằng Hoa Kỳ cần tăng cường quan hệ chiến lược với Việt Nam[3], hay như những cái tít kiểu “ông Triết muốn thân Mỹ hơn nữa”[4]… khiến hỏa mù càng trở nên dày đặc… Tất cả những điều đó đều góp phần ư biện hộ cho bộ máy toàn trị, đều vô t́nh hay cố ư để thuyết phục Hoa Kỳ duy tŕ chiến lược liên kết với Việt Nam cho dù có sự đàn áp nghiêm trọng đối với những người dân chủ.

39. Đă hoàn toàn lộ rơ rằng trong chiến lược của Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ được dùng vào thế cờ gài, phải bảo vệ cho Việt Nam nhưng lại ở vị thế cần đến Việt Nam. Điều này có lẽ phần nào cũng có phần của sự thổi phồng về vị thế chiến lược của Việt Nam và quan hệ với Hoa Kỳ. C̣n về đối nội, cũng đă lộ rơ rằng những cải cách chính trị cải lương và nhỏ giọt ít có cơ may tái tục với nhịp điệu như vừa qua, mà điển h́nh là vai tṛ của Quốc hội mới không những không được tăng cường mà c̣n bị đẩy lùi, qua những biểu hiện và kết quả của cuộc bầu cử vừa rồi…

Trong t́nh thế như vậy, nếu tiếp tục cái gọi là “tầm chiến lược” trong quan hệ Việt - Mỹ theo nghị tŕnh ban đầu nhưng thực chất và hiệu quả chỉ gói gọn trên nền tảng kinh tế và bảo đảm an ninh, th́ rốt lại cũng chỉ là giúp tăng cường thanh thế chính trị của Hà Nội và bảo toàn cho nền toàn trị mà thôi.

40. Thả Nguyễn Vũ B́nh, Lê Quốc Quân, và có thể sẽ thả Trần (Thị) Thuỳ Trang là chứng tỏ thật tâm của Hà Nội chăng? Hoàn toàn ngược lại.

Với Nguyễn Vũ B́nh, hành động của Hà Nội chỉ chứng tỏ sự coi thường Hoa Kỳ mà thôi, khi chỉ cùng con người này mà năm lần bảy lượt họ đem ra vờn và nhử, đúng với “tầm chiến lược” của giới cầm quyền. Với hai luật sư sau, họ chưa bị cả một chiến dịch truyền thông nhà nước “vạch mặt”, chưa thành án, việc trả tự do cũng không phải là khó khăn. Quăng thời gian hai người này bị bắt cũng không xê xích nhiều với Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân nhưng t́nh h́nh lại khác nhiều. Khi có tin về sự trắc trở có thể nào đó đối với chuyến đi của ông Triết, việc sẽ có thể thả Quân và Trang, cùng với B́nh, được tung ra lập tức. Những điều này phần nào chứng tỏ ngoài B́nh, đây có thể đă là hai con bài được chọn để dự pḥng từ xa cho t́nh huống phải chứng tỏ thiện chí.

41. Người ta đă chưa hiểu hết tư duy và hành động chính trị của Việt Nam nên có thể nói việc phản hồi chiến dịch đàn áp chưa nhắm trúng vào gót chân Achilles của họ. Một ghế trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ư? Có cũng tốt, không có th́ có nào hề hấn ǵ, quan trọng là cái ghế độc tôn của họ không bị t́nh trạng dân chủ làm cho lung lay. Các nghi lễ đón tiếp cấp nhà nước bị cắt bỏ đối với Nguyễn Minh Triết ư? Điều này có giá trị biểu tượng rất cao đối với các cộng đồng dân chủ, nơi có tự do ngôn luận và tự do thông tin, có sự phán xét của dân chúng dành cho chính quyền đối với h́nh ảnh bị tổn hại của đất nước. Nhưng với Việt Nam, không có điều ǵ họ lại không biến được thành thành công vang dội và người dân không hề phán xét được giới cầm quyền cho dù họ có gây ra những phá hại lớn đến đâu chăng nữa.

42. Chừng nào chưa nguy hại trực tiếp đến những tính toán chiến lược về kinh tế, và đặc biệt là chiến lược quân sự, an ninh lănh thổ của Việt Nam, họ sẽ không bao giờ nhân nhượng có thực chất trong vấn đề dân chủ và nhân quyền. Những sứt mẻ hay góc tối về ngoại giao chẳng là ǵ cả khi mà tiền cứ đổ vào để vỗ béo cho nền toàn trị, khi mà cứ “cầu cạnh” để được bảo đảm an ninh cho họ.

43. Cứ thách thức nhà cầm quyền Việt Nam nghiêng hẳn sang Trung Quốc mà xem, họ có dám không. Nếu họ dám, chẳng mấy chốc ta sẽ thấy Trung Quốc chớp lấy thời cơ như thế nào. Ta cũng sẽ nhanh chóng chứng kiến ngay trong Đảng họ phải “xử” nhau thôi…

44. Trên bàn cờ Đông Nam Á, Hoa Kỳ đă từng không có Việt Nam như một đồng minh, nay cũng không v́ thế mà thất thế. Trung Quốc đang lên ư? Đúng, nhưng nên nhớ Trung Quốc lên th́ không v́ thế mà các nước khác dừng lại, vấn đề là có sự chia sẻ trách nhiệm quốc tế.

45. Ở Đông Nam Á phần nhiều là những nhà nước dân chủ chưa hoàn thiện hoặc độc tài, họ chủ trương “không can thiệp vào công việc nội bộ” của nhau là phải. Họ cứ phản đối Hoa Kỳ trong việc phê phán t́nh h́nh dân chủ của khu vực nhưng lại mặc nhiên dựa dẫm vào quốc gia này trong chiến lược an ninh lănh thổ. Cả hai mặt này họ giống với Việt Nam nhưng họ lại không bức bách như Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc. Thái độ của họ là vô trách nhiệm trong bối cảnh địa-chính trị chung, để mặc cho Hoa Kỳ, Việt Nam, Trung Quốc giải quyết các quan hệ và họ hưởng lợi.

Vấn đề giờ đây là Hoa Kỳ phải có những bước đi đặt họ vào suy nghĩ và hành động địa-chính trị chung. Nếu họ không cùng hỗ trợ Hoa Kỳ trong việc xử lư các quan hệ có liên quan với Việt Nam để vừa tạo được hợp tác chiến lược vừa giữ vững các giá trị dân chủ và nhân quyền, th́ giả định khi Hoa Kỳ chọn lại giải pháp buông Việt Nam, pḥng tuyến Đông Nam Á dời về nam, khi đó chính họ sẽ là những người đầu tiên đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng thay v́ sự “thanh thản” đến độ vô lư như hiện nay.

46. Trung Quốc lớn mạnh th́ Nhật Bản và Nam Hàn cũng hùng cường, nên không v́ thế mà họ vẫn tiếp tục nhận sự bảo hộ an ninh một chiều từ phía Mỹ. Trách nhiệm chung về an ninh địa-chính trị của khu vực đang thật sự đặt ra đối với họ.

Nhật Bản và Nam Hàn đều chia sẻ tuyến hàng hải vào biển Nam Trung Hoa và qua Malacca, đặc biệt Nhật gần như sử dụng 100% nguồn cung cấp nhiên liệu từ bên ngoài và vận chuyển hàng hải có tầm quan trọng chiến lược. Sự lớn mạnh không ngừng của Trung Quốc trên vùng biển này là điều mà hai nước Đông Bắc Á này sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ. Hoa Kỳ - đồng minh của họ - đang phải giải quyết vấn đề, và họ cần hỗ trợ. Nếu họ cứ thản nhiên tăng cường hợp tác kinh tế với Hà Nội mà không có bất kỳ động thái nào thể hiện thái độ dân chủ của ḿnh nhằm gia tăng sức ép buộc nhà cầm quyền Việt Nam phải tôn trọng những cam kết dân chủ và nhân quyền, th́ khi Hoa Kỳ buộc phải chuyển hướng đối tác chiến lược trong tiểu vùng Đông Nam Á nhằm đối phó với Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn càng sẽ phải đau đầu hơn và bỏ ra nhiều chi phí hơn là nguồn lợi kinh tế có được từ Việt Nam, để bảo vệ các quyền lợi chiến lược của chính họ.

Ngoài ra, việc tính toán lại sự hiện diện và sức mạnh quân sự của hai quốc gia Đông Bắc Á này cũng là điều đến lúc nên làm để tạo đối trọng chia sẻ gánh nặng đang dồn xuống phía nam.

47. Cuộc gặp hôm 29.05 của Tổng thống George Bush, Phó tổng thống Dick Cheney và những nhân vật cao cấp nhất của chính quyền Hoa Kỳ, với đại diện bốn tổ chức chống chế độ toàn trị Hà Nội của người Việt tại Hoa Kỳ, phần nào cho thấy dân chủ không phải là giá trị mà người Mỹ có thể hy sinh. Dù đây có thể nói là một động thái vô tiền khoáng hậu, nhưng nó mang tính thực chất và hữu hiệu hay chỉ nhằm trấn an người Việt dân chủ và dằn mặt Việt Nam, đến đây vẫn chưa thể kết luận được.

Chúng ta hoan nghênh và rất biết ơn những nỗ lực thật tâm và rất hữu ích của lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ nhằm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh dân chủ trong nước, nhưng vẫn cần dành lại sự nghi ngờ nhất định.

48. Thực tế, chiến lược và sách lược của Hoa Kỳ dưới thời của Tổng thống Bush đem lại tác động xấu cho sự phát triển tinh thần dân chủ ở nhiều nơi. Iraq là điển h́nh, sự ham hố vặt vănh về tiếng tăm của một nội các quyết đoán và quyền uy tột đỉnh đă khiến họ chỉ c̣n thấy giải pháp quân sự - mà lại là một giải pháp quân sự què cụt khi không hề có những chiến thuật và đường lối đúng hướng cho thời kỳ chiếm đóng - trong khi có những tin tức cho hay Saddam Hussein thậm chí đă đánh tiếng nhượng bộ tất cả, luôn đến việc rời chức. T́nh h́nh Iraq “hậu chiến thắng” đă giúp các nền độc tài, trong đó có Việt Nam, khai thác tối đa để xuyên tạc trạng thái dân chủ và tôn vinh trạng thái chuyên chế.

Lần này trong tương quan giữa toàn trị và dân chủ Việt Nam th́ sao, đối với Hoa Kỳ sẽ là một chiến lược và những chiến thuật căn cơ và có hệ thống, hay lại là những ham hố vặt vănh về tiếng tăm?

Có thể nói nếu hợp tác chiến lược với Việt Nam trở thành hiện thực, Mỹ có thể lại hiện diện về chính trị và quân sự tại đây. Và đó sẽ là một thắng lợi vang dội của chính quyền Bush. Ngoài việc tạo thành công tiền đề trong tính toán tương quan lực lượng trên biển Nam Trung Hoa, nó vừa trả lại món nợ 32 năm trước, vừa lấy lại thanh danh của nội các và Đảng Cộng hoà trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ lại đang gần kề. Nếu không có những đường hướng chiến lược cụ thể tuỳ theo chuyển biến của t́nh h́nh, mà chỉ biết chạy theo tiếng thơm là đưa người Mỹ chính thức trở lại Việt Nam, th́ lần này việc Nhà trắng lại chỉ thấy có một giải pháp, tức nhượng bộ Việt Nam về dân chủ và nhân quyền để đạt đến “quan hệ chiến lược”, là một khả năng cũng không nhỏ.

49. Quan hệ chiến lược với Việt Nam là cần thiết, hữu ích và đáng hoan nghênh, nhưng đó không phải là chọn lựa tất yếu và duy nhất. Hơn nữa, trong quan hệ này Việt Nam mới chính là người có quyền lợi trực tiếp và sống c̣n.

Quả thật, chuyện các nhà đối lập ôn hoà tại Việt Nam và quan hệ chiến lược Việt Nam - Hoa Kỳ đang đặt siêu cường vào một sự lựa chọn địa-chính trị. Nếu dân chủ và nhân quyền không c̣n là giá trị tối thượng trong tương quan đó, th́ rồi đến một ngày các nhà toàn trị Việt Nam sẽ ghi vào “trang sử vàng của Đảng” về việc “phân hoá và sử dụng kẻ thù phục vụ cho những mục đích chiến lược và bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xă hội”.

50. Không tư duy kiểu cuộc sống hàng ngày để mà nóng vội quyết định ngay, nhưng cũng không thể không duyệt lại toàn bộ bối cảnh có liên quan để dự phóng những hướng chuyển khả dĩ.

Có lẽ diễn tiến dân chủ trong nước trong quăng thời gian sau chuyến đi của ông Triết đến trước chuyến đi của ông Dũng căn bản sẽ đủ để mọi thứ “chiến lược” cần được quyết định theo hướng thích hợp nhất…

© 2007 talawas
————————————————————
Chú thích:

[1] Dùng sản phẩm của Microsoft th́ không chỉ có Việt Nam, nhưng khắp nơi trên thế giới khi dùng người ta chỉ việc bỏ tiền ra mua, có cần thiết tiến hành đại lễ cấp quốc gia như Việt Nam làm không?

[2] Nên nhớ mọi người Việt chưa làm đơn chính thức xin bỏ quốc tịch Việt Nam và được Bộ Tư pháp đồng ư, th́ dù họ có ở đâu, Việt Nam vẫn xem là công dân của ḿnh. Đằng này, giới toàn trị lại chữa thẹn bằng cách nói Tổng thống Mỹ gặp công dân Mỹ là chuyện b́nh thường. Đó là c̣n chưa kể họ gặp nhau để trực tiếp bàn về chuyện đàn áp của Việt Nam, “can thiệp vào công việc nội bộ” quá rơ rồi c̣n ǵ.

[3] Tôi có cảm giác rằng mặc dù có những ư kiến rất giá trị, dường như các nhà nghiên cứu nước ngoài về chính trị Việt Nam đă không những không nắm hết mọi vấn đề về văn hoá chính trị, đạo đức chính trị, tâm lư chính trị… của nền toàn trị Việt Nam, cũng như những thay đổi t́nh huống trong diễn biến của nó; họ c̣n không đặt lợi ích của nhân dân và nền dân chủ Việt Nam lên trên, mà chỉ nhắm làm cho sao Hoa Kỳ và Việt Nam “ổn thoả” để siêu cường này gánh vác hết trách nhiệm trước vấn đề Trung Quốc, và như thế sẽ… nhẹ nhàng bớt cho trách nhiệm của đất nước họ chăng? Bài của Carl Thayer mà tôi nhắc đến ở trên và bài mới đây nhất, cách nhau chẳng bao xa và trong cùng một bối cảnh, đă có sự thay đổi trong thái độ xử lư của ông về quan hệ chiến lược Mỹ - Việt…

[4] Bài này của BBC, sau đó đổi tựa thành Đưa hợp tác Việt-Mỹ lên “tầm cao mới”.

Phạm Viết Duy -- Dec 11, 2007

15.  “Sau khi ảo tưởng và đi đến phá sản trong chiến lược dùng ASEAN để kiềm chế Trung Quốc, Việt Nam lại quá ảo tưởng về vai tṛ chiến lược độc nhất vô nhị của ḿnh trong vùng, từ đó quá ảo tưởng về việc mặc nhiên được Hoa Kỳ bảo vệ trong chiến lược địa-chính trị của siêu cường này.”

Người viết những ḍng này mới thực sứ quá ảo tưởng v́ nghĩ rằng ḿnh hiểu được các nhà lănh đạo Việt Nam! Theo hiểu biết của tôi th́ chưa bao giờ Việt Nam có ảo tưởng dùng ASEAN đề kiềm chế Trung Quốc. Việt Nam thậm chí ban đầu c̣n không tin ASEAN, vào ASEAN là giải pháp tức thời nhằm khai thông quan hệ với thế giới phương Tây và Mỹ. Tất nhiên nếu lợi dụng được vị thế của ASEAN để trợ giúp cho hành động của ḿnh th́ VN cũng sẵn sàng. C̣n lập luận cho rằng VN vào ASEAN, dùng ASEAN kiềm chế TQ nực cười thay lại chính là cách mà TQ gán cho hành động của Việt Nam.
Nói VN ảo tưởng về vị thế địa-chính trị để được Mỹ mặc nhiên bảo vệ chứng tỏ tác giả quá ngây thơ nên nghĩ rằng lănh đạo VN ngây thơ đến mức đó. Nếu lănh đạo VN thực sự nghĩ như vậy th́ chắc chắn quan hệ Việt - Mỹ đă khác giờ rất nhiều.
Nói cho cùng th́ đứng ngoài chỉ trích thường rất dễ. Và ai cũng nghĩ rằng ḿnh hiểu, nắm rơ mọi vấn đề và thường thích lên mặt dạy người khác. Không phủ nhận những phân tích của Hoằng Doanh có nhiều điểm thú vị nhưng cũng có những điểm không thực tế.

DongA -- Dec 12, 2007

Phần 3: Mối đe dọa mang tên Trung Quốc

Trần Vinh Dự -- 12 tháng 12, 2007 --

Năm 1994, Gallagher trong một nghiên cứu mang tên “Mối Đe Dọa Ảo của Trung Quốc ở Biển Đông” đăng trên tạp chí International Security[1] đă phân tích khả năng quân sự trên mặt biển của của nước này cùng các hạn chế về chính trị và quân sự của họ trong việc cưỡng đoạt Trường Sa bằng vũ lực. Dựa trên số liệu thu thập được tới thời điểm đó, ông cho rằng mặc dù về số lượng vũ khí - khí tài áp đảo các nước trong khu vực, khả năng quân sự của Trung Quốc không đủ mạnh để lấn át các loại vũ khí hiện đại được phương Tây bán cho các đồng minh ở ASEAN. Điều này khiến cho việc tấn công và cố thủ ở các đảo Trường Sa là một nhiệm vụ rất khó khăn. Tuy nhiên, kết luận của Gallagher có lẽ không c̣n chính xác nữa v́ trong hơn 10 năm qua, Trung Quốc đă không ngừng đầu tư vào mua vũ khí - khí tài quân sự của các nước thuộc Liên Xô cũ, đồng thời tự sản xuất được nhiều loại vũ khí hiện đại. Các số liệu cập nhật nhất về tương quan lực lượng quân sự của ASEAN so với Trung Quốc dẫn trong báo cáo “Sức Mạnh Quân Sự Truyền Thống của Châu Á, 2006” của CSIS[2] được tŕnh bày trong các bảng dữ liệu đính kèm trong phần phụ lục.

Thăng bằng quân sự ở Biển Đông có lẽ đă nghiêng nhiều hơn về phía Trung Quốc so với hồi 1994 không có nghĩa Trung Quốc sẽ dễ dàng sử dụng các chiến lược khiêu khích hoặc thôn tính. Có 3 lư do khiến cho các chiến lược này vẫn khó khăn

(1) Các khối lợi ích trong nước ưu tiên mục tiêu cải cách và phát triển không ủng hộ cho các quyết định khiêu khích cực đoan và chiến tranh. Wu và Bueno de Mesquita trong một nghiên cứu định lượng rất thú vị năm 1994[3] đă cho thấy các mâu thuẫn lợi ích ở Trung Quốc đă dẫn tới một t́nh trạng độc đáo về khả năng tiến hành chiến tranh ở Biển Đông. Trong nghiên cứu của ḿnh, hai ông đă khảo sát các khối lợi ích có ảnh hưởng nhất trong hệ thống quyền lực của Trung Quốc và đo mức độ sẵn sàng đánh đổi tăng trưởng kinh tế lấy việc mở rộng lănh thổ ở Biển Đông. Rơ ràng những người ủng hộ cải tổ kinh tế th́ muốn duy tŕ một môi trường ổn định và ḥa nhă, c̣n những người thuộc phái cứng rắn (hardliners) th́ sẵn sàng khiêu chiến hơn.

Tuy nhiên, nghiên cứu của các ông đă cho thấy xét về mặt quyền lực chính trị thực tế, mức độ sẵn sàng khiêu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông khá cao. Tuy nhiên, các nhóm bảo thủ (như quân đội và các nhóm thủ cựu trong Đảng) lại thường không sẵn sàng sử dụng quyền lực của họ trong khi các nhóm đổi mới lại rất năng động trong việc này. Kết quả là nếu dựa trên quyền lực chính trị được sử dụng, th́ khả năng chủ động khiêu chiến của Trung Quốc là thấp v́ những nhóm cấp tiến không muốn bất ổn định và luôn sẵn sàng lên tiếng nhằm bảo vệ ổn định. Nói nôm na là nếu các khối lợi ích của Trung Quốc đều lên tiếng như nhau th́ kết quả sẽ là nền chính trị Trung Quốc là một nền chính trị hiếu chiến. Tuy nhiên trên thực tế th́ các nhóm đổi mới lại thường lên tiếng nhiều hơn và v́ vậy đă giữ cho nền chính trị Trung Quốc ở tư thế một chính thể tương đối ḥa nhă.

Có vẻ như kết luận năm 1994 này của Wu và Bueno de Mesquita vẫn c̣n nguyên giá trị v́ các khối lợi ích của Trung Quốc không có chuyển dịch nhiều trong thời gian qua, hoặc nếu có th́ là sự mạnh lên của các nhóm ủng hộ tăng trưởng kinh tế chứ không phải các nhóm quân sự cứng rắn (hardliners) .

(2) Một điểm khác ràng buộc khả năng đơn phương khiêu chiến của Trung Quốc là các nước tranh chấp trong khối ASEAN đă trở nên cứng rắn hơn. Thí dụ trường hợp Philippines năm 1995 chỉ biết đứng nh́n hải quân Trung Quốc chiếm băi Mischief th́ vài năm sau họ đă sẵn sàng bắn trả hải quân Trung Quốc và không ngần ngại đánh ch́m các tàu đánh cá của Trung Quốc trong vùng biển mà họ khẳng định chủ quyền (xem Bảng Bốn). Một điều đặc biệt đối với Philippines là họ có hiệp định an ninh tay đôi với Mỹ, theo đó nếu an ninh quốc gia của Philippines bị xâm hại th́ Mỹ sẽ bảo vệ. Việc Philippines cần làm, và họ đă làm, là thể hiện cho Trung Quốc thấy việc khiêu chiến trên Biển Đông sẽ dễ dàng leo thang thành một cuộc xung đột vũ trang tổng thể với Phi và như thế Mỹ sẽ phải ra tay[4]. Có lẽ chính phản ứng mạnh mẽ từ các nước tranh chấp là sức ép lớn nhất buộc Trung Quốc phải xem xét lại các thiệt hại do một chiến lược khiêu khích gây ra và khiến cho họ nghiêng nhiều hơn theo hướng đàm phán – mua chuộc.

(3) Ngoài 2 lư do trực tiếp trên th́ như tôi đă phân tích ở phần 2, xu thế chung của quốc tế là duy tŕ ḥa b́nh để phát triển, v́ thế thiệt hại về ngoại giao, kinh tế và ḷng tin quốc tế sẽ lớn hơn rất nhiều so với vài thập kỷ trước. Điều này tạo ra một cản trở lớn cho việc thực hiện các chiến lược có mức độ khiêu khích cao trên Biển Đông.

Với các lư do trên, kịch bản xảy ra một cuộc chiến tranh trên Biển Đông là khó có thể xảy ra trong ngắn và trung hạn, nhất là giữa Trung Quốc và Philippines và giữa các nước ASEAN có tranh chấp. Riêng đối với Việt Nam – Trung Quốc, do không có lợi điểm về hợp tác quốc pḥng với nước lớn như Philippines, cũng không có năng lực quân sự đủ mạnh để ít ra cũng làm cho cuộc xâm lược trên biển không kết thúc quá chóng vánh, Việt Nam phải đi theo một con đường khác nếu muốn bảo đảm rằng Trung Quốc không dùng vũ lực cưỡng chiếm Trường Sa.

Phần 4: Chi phí và Lợi ích của chiến tranh Trường Sa đối với Trung Quốc

Trong Phần 2, tôi đă có đề cập sơ bộ đến một cách nh́n duy lư về quan hệ chính trị giữa hai nước nói chung và về quyết định có tiến hành chiến tranh hay không nói riêng. Có một thực tế là trong lịch sử đă xảy ra nhiều trường hợp mà quyết định tiến hành chiến tranh không dựa trên phân tích duy lư (tính đến chi phí – lợi ích), hay ít ra cũng không dựa trên cách tính chi phí – lợi ích thông thường[5]. Những quyết định này nhiều khi dựa trên vấn đề ư thức hệ hay thậm chí cả những tham vọng kỳ quái của một vài lănh tụ chính trị nào đó.

Điều đáng mừng là xu hướng chung của thế giới hiện nay không c̣n tạo điều kiện thuận lợi cho những quyết định không duy lư nữa, trừ một số quốc gia tự tách ḿnh khỏi ḍng chảy chung của nhân loại. Trung Quốc cũng là nước đang vận động theo xu hướng chung này. Nếu giờ đây có ai nh́n họ như là những kẻ đi theo chủ nghĩa bành trướng thời cổ xưa th́ có lẽ là đă khinh thường họ. Giới lănh đạo chính trị Trung Quốc hiện nay là một đội ngũ có bản lĩnh và trí tuệ[6]. Để lănh đạo đất nước Trung Quốc đi những bước dài trong khoảng 30 năm qua, giới lănh đạo Trung Quốc không thể là những kẻ ngông cuồng chỉ biết chạy theo mục tiêu bành trướng. Theo nhận định của tôi th́ cỗ máy chính trị của họ là một cỗ máy thực dụng và triệt để duy lư. V́ vậy, để phân tích mối đe dọa của họ đến đâu và đối sách của các bên th́ cách tiếp cận thích hợp dựa trên những suy luận duy lư.

Loại ra ngoài kịch bản Trung Quốc điên cuồng theo đuổi mục tiêu bành trướng bằng mọi giá, th́ vấn đề c̣n lại sẽ là bài toán chi phí – lợi ích của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông sẽ như thế nào. Có lẽ lợi ích trực tiếp nhất của họ sẽ là dầu khí. Tuy nhiên, tới giờ này th́ vẫn chưa có bất cứ một phát hiện nào về dầu mỏ hoặc khí đốt ở vùng Trường Sa. Có quan điểm cho rằng nếu chiếm được Trường Sa th́ Trung Quốc có thể mở rộng phạm vi đặc quyền kinh tế và lấy đi vùng biển có dầu mà Việt Nam đang khai thác. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đă thực hiện động thái này rồi chứ không chờ tới khi chiếm được Trường Sa. Trung Quốc từ lâu đă hợp tác với công ty Crestone của Mỹ để thực hiện việc thăm ḍ và khai thác dầu khí ngay tại khu Từ Chính của Việt Nam trên các lô 133, 134, và 135 (xem Bảng Bốn).

Như vậy, lợi ích gia tăng (increased benefit) của việc chiếm được Trường Sa tại thời điểm này là không rơ ràng, nếu không muốn nói là tương đối ảo. Đương nhiên có thể chính quyền Trung Quốc có nhiều thông tin tốt hơn là các nguồn thông tin mà tôi dựa vào[7]. Tuy nhiên, tôi nghi ngờ khả năng này.

Mặt chi phí của phương tŕnh là vấn đề cực kỳ thú vị. Chi phí của phía Trung Quốc phụ thuộc vào việc Việt Nam sẵn sàng đi xa tới đâu trước các động thái gây hấn của họ. V́ khả năng pḥng thủ của hải quân Việt Nam trên các đảo này không đáng kể so với năng lực tấn công hùng hậu của hải quân và không quân Trung Quốc, tôi cứ giả định một cách có lợi cho họ rằng chi phí quân sự trực tiếp liên quan đến cuộc chiến là bằng không. Vậy họ c̣n phải chịu các phí tổn ǵ các?

Nếu Việt Nam thể hiện ra là một quốc gia bạc nhược với một chính phủ bạc nhược và sẽ không có phản ứng ǵ đáng kể th́ quốc tế cũng sẽ không có phản ứng ǵ đáng kể. Cuộc xâm lược tiếp theo khi đó cũng chỉ như việc trao quyền kiểm soát từ tay nước này sang tay nước khác, và v́ thế, cộng đồng quốc tế không có lư do ǵ phải bận tâm. Do đó, các khoản chi phí khác cũng sẽ bằng không hoặc gần bằng không. Trong trường hợp này, quyết định duy lư của Trung Quốc sẽ là tấn công và chiếm giữ các đảo của Việt Nam. Kịch bản này có lẽ gần gũi với bi kịch xảy ra cho Việt Nam vào năm 1988 khi chúng ta đánh mất một loạt các đảo ở Trường Sa vào tay Trung Quốc.

Trong trường hợp Việt Nam sẵn sàng phản ứng, th́ chi phí của Trung Quốc sẽ tùy vào mức độ phản ứng của Việt Nam. Có nhiều mức độ phản ứng khác nhau, dưới đây tôi chỉ liệt kê ra 3 trong số đó:

Mức độ 1- phản đối về ngoại giao: Thí dụ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, quyết liệt phản đối họ trên mọi mặt trận ngoại giao có thể. T́m mọi cách cản đường Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế. Tóm lại là biến ḿnh thực sự trở thành một cái gai trong mắt Trung Quốc.

Mức độ 2- ngừng mọi hoạt động giao thương với Trung Quốc: Kim ngạch buôn bán giữa hai nước năm 2007 ước tính trên 10 tỉ USD, dự báo sẽ lên tới 15 tỉ vào năm 2010. Trong quan hệ này, Trung Quốc là nước xuất siêu. Năm 2006, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 2,486 tỷ USD, ngược lại Trung Quốc xuất sang Việt nam 7,465 tỷ USD[8]. Trung Quốc hàng năm nhập khoảng 5 triệu tấn dầu thô từ Việt Nam. Giả sử sau quyết định khiêu chiến của Trung Quốc, Việt Nam có thể tuyên bố ngừng giao thương (và v́ thế chấp nhận thiệt hại hết sức nặng nề về kinh tế) trong khoảng 10 năm, th́ phía Trung Quốc sẽ thiệt hại một khoản giao thương trị giá khoảng 150 tỉ USD[9].

Mức độ 3 – thường xuyên t́m cách quấy nhiễu các vùng khai thác dầu của Trung Quốc ở gần thềm lục địa Việt Nam: Giả sử sau cuộc thôn tính, Việt Nam liên tục gửi hải quân tuần tiễu và quấy nhiễu các vùng khai thác dầu của Trung Quốc, khả năng là các công ty khai thác dầu của nước ngoài sẽ bỏ đi (giống trường hợp BP bỏ Việt Nam ra đi năm vừa rồi). Để bảo vệ các cơ sở thăm ḍ và khai thác của ḿnh, Trung Quốc phải liên tục duy tŕ các tàu quân sự trong vùng biển khai thác. Điều này làm chi phí thăm ḍ – khai thác tăng lên rất nhiều. Tôi không có số liệu cụ thể để ước định khi đó liệu việc thăm ḍ khai thác dầu khí có c̣n là hoạt động có lợi nhuận đối với Trung Quốc nữa hay không.

Mức độ 4 – tiến hành cuộc chiến tranh ở biên giới trên đất liền: Chiến tranh biên giới giữa hai nước không phải là câu chuyện xa xưa và Trung Quốc hiểu điều này. Nếu phía Việt Nam quyết tâm gây tổn thất kinh tế cho Trung Quốc ở các thành phố gần biên giới th́ họ hoàn toàn có thể làm được. Để bảo vệ các thành phố và cơ sở kinh tế, Trung Quốc sẽ phải thực hiện cuộc chiến tranh biên giới và như thế sẽ có những thiệt hại tiếp theo mà quy mô là chưa lường trước được.

Chốt lại của phần này là nếu Việt Nam có thể cho Trung Quốc thấy ḿnh sẵn sàng thực hiện các hoạt động trả đũa đáng kể th́ khi đặt lên bàn cân các chi phí và lợi ích của thôn tính Trường Sa, họ sẽ không muốn làm. Đương nhiên, phía Việt Nam không thể thuyết phục được Trung Quốc tin rằng Việt Nam sẽ trả đũa ở mức độ ghê gớm như vậy nếu chỉ thông qua vài phản ứng yếu ớt có tính ngoại giao mỗi khi họ có động thái thử thách phản ứng của Việt Nam.

Phần V: Bảo vệ chủ quyền bằng Tự Vệ Chủ Động

Để ngăn chặn Trung Quốc không tiếp tục đi quá xa trong vấn đề Biển Đông và phải tính đi tính lại (think twice) mỗi khi họ có những động thái tương tự như việc thông qua luật thành lập thành phố Tam Sa vừa rồi, th́ không ǵ tốt hơn là thi hành chiến lược tự vệ chủ động. Nội dung chính của nó là chủ động làm cho người Trung Quốc thấy trước được các phí tổn mà họ sẽ phải đương đầu khi thực hiện một quyết định khiêu khích. Vế khác của chiến lược này là tự vệ - tức là không khiêu khích họ trước. Nhưng để thực thi chiến lược tự vệ chủ động th́ cần làm những ǵ?

A. Thể hiện rơ quyết tâm bảo vệ nguyên trạng và quan điểm giải quyết tranh chấp bằng luật quốc tế: Làm cho người Trung Quốc nhận thấy mức độ phản ứng của Việt Nam nếu họ thực thi các chiến lược khiêu khích. Việc này trên thực tế có thể triển khai ở cả hai cấp độ: (1) Chính phủ Việt Nam phản ứng cứng rắn hơn trước bất kỳ hành vi khiêu khích nào của Trung Quốc. Nguyễn An Nguyên gợi ư thêm rằng việc này có thể thực hiện thông qua các động thái như Quốc hội Việt Nam thông qua luật khẳng định phản ứng của chính quyền mỗi khi lănh thổ bị xâm hại. Thí dụ luật có thể quy định rằng mỗi khi lănh thổ bị xâm hại th́ chính quyền sẽ ngăn cấm mọi hoạt động giao thương với nước xâm lăng. (2) Công chúng Việt Nam tỏ rơ thái độ của họ trước các động thái của Trung Quốc. Thí dụ tổ chức các cuộc tuần hành ḥa b́nh cả ở trong nước và nước ngoài. Các cuộc tuần hành càng thu hút được đông đảo quần chúng th́ càng chuyển tải được tinh thần sẵn sàng hi sinh để bảo vệ lănh thổ của người Việt và v́ thế Trung Quốc sẽ càng phải tin về một phản ứng cứng rắn của Việt Nam nếu họ xâm lược Trường Sa.

Trong trường hợp chính phủ Việt Nam ngăn cấm người dân bày tỏ ư kiến th́ hậu quả sẽ là ḷng yêu nước không được bày tỏ sẽ trở thành ḷng oán hận nhà nước. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng rất tiêu cực đối với uy tín của chính quyền và sẽ dễ bị những thế lực chống đối khai thác để thổi bùng lên ngọn lửa chống đối nhà nước. Một giải pháp thích hợp là cho phép tuần hành nhưng có kiểm soát và không để bùng nổ thành các vụ bạo động chống người Tàu ở Việt Nam.

B. Làm xói ṃn tính chính đáng của Trung Quốc về tranh chấp trên Biển Đông trong con mắt quốc tế: Khẳng định chủ quyền của Trung Quốc không hề cơ sở thuyết phục hơn so với Việt Nam. Họ cũng là bên thường xuyên sử dụng vũ lực, giết người và gây hấn trên Biển Đông. Không có lư do ǵ Trung Quốc lại chính đáng hơn Việt Nam hay Philippines trong vấn đề Biển Đông, nếu không nói là tồi hơn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa thành công lắm trong việc phổ biến những sự thực này ra toàn cầu. Trên thực tế, rất nhiều tổ chức quốc tế nghiễm nhiên coi Biển Đông và các đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc. Thậm chí tệ hại như chính bản đồ Việt Nam do Việt Nam in cũng một thời gian dài không hề có hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Để thực hiện chủ trương này, việc Việt Nam có thể làm làm là: (1) Nghiên cứu và xuất bản các bài nghiên cứu về Trường Sa – Hoàng Sa trên các tạp chí nghiên cứu quốc tế. Việc này có lợi về lâu dài và cũng đáng tiếc là các nghiên cứu của người Việt rất ít ỏi trong khi các tác giả người Trung đă có nhiều các nghiên cứu về chủ đề này. (2) Tuyên truyền qua phim ảnh, ấn phẩm văn học nghệ thuật, sản phẩm thương mại để hướng tới người nước ngoài. Hiện nay mỗi năm có tới hàng triệu khách du lịch quốc tế tới thăm, không có lư do ǵ không thực hiện được việc tuyên truyền này. (3) Vũ Quang Việt[10] có gợi ư mang ra ṭa án quốc tế nhờ phân xử. Khả năng là Trung Quốc sẽ không chấp nhận để ṭa án quốc tế giải quyết, và như vậy họ sẽ tự bộc lộ trong con mắt quốc tế về thái độ không hợp tác, và ở một chừng mực nào đấy, thiếu tự tin về tính chính nghĩa của họ trong tranh chấp ở Biển Đông.

C. Hợp tác với các nước ASEAN có tranh chấp và cô lập Trung Quốc: Về mặt này, Việt Nam đă có những thất bại đau đớn trong vài năm gần đây. Cần nhớ rằng Trung Quốc mới có mặt ở Trường Sa từ năm 1988 sau khi chiếm được một số đảo của Việt Nam (trước đó Đài Loan vẫn chiếm Đảo Ba B́nh). Tuy nhiên, từ năm 2004, Philippines đă bị mua chuộc và kư kết hiệp định cùng thăm ḍ dầu khí với Trung Quốc ở Trường Sa, một động thái thừa nhận chính thức vị trí của Trung Quốc trong vùng quần đảo này[11]. Việt Nam phản đối yếu ớt và cuối cùng đành phải tham gia vào tháng Ba năm 2005[12]. Hồi đầu tháng Một năm 2007, Việt Nam đă chính thức đặt bút kư kết tiếp hiệp định khai thác dầu khí song phương với Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp ở Vịnh Bắc Bộ[13].

Một điều khá tệ hại là trong trường hợp các mỏ dầu được t́m thấy ngày một nhiều và với trữ lượng lớn th́ động cơ thôn tính của Trung Quốc sẽ ngày càng lớn v́ vế lợi ích của phương tŕnh tăng lên trong khi vế chi phí th́ vẫn vậy. Trong trường hợp giá dầu thô thế giới ngày một tăng cao và Trung Quốc th́ luôn trong t́nh trạng thiếu nhiên liệu để phục vụ tăng trưởng, việc t́m ra trữ lượng dầu lớn trên Trường Sa chắc chắn sẽ đẩy mạn tham vọng chiếm đóng và đơn phương kiểm soát khu vực này. V́ thế, hoạt động t́m kiếm, khai thác chung trong trước mắt th́ có vẻ như là một việc có lợi cho các bên, về lâu dài th́ nó có thể ảnh hưởng rất tiêu cực tới các nước nhỏ tham gia. Đúng ra, hoạt động t́m kiếm dầu ở Trường Sa không bao giờ nên xảy ra cho đến khi vấn đề chủ quyền đă được giải quyết xong. Đáng tiếc là việc này tới nay đă là chuyện đă rồi và không thể cứu văn được nữa.


http://www.dutran. net/documents/ tshs.pdf

THAM KHẢO CHÍNH

[1] Austin G., 2003: “Unwanted Entanglement: The Philippines’ Spratly Policy as a Case Study in Conflict Enhancement?” Security Dialogue, Vol. 34, p.p 41-54.

[2] Cordesman A.H and Kleiber M., 2006: “The Asian Conventional Military Balance in 2006,” Special Report, Center for Strategic and International Studies (CSIS).

[3] Cossa R.A., 1988: “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict” A Pacific Forum CSIS Special Report.

[4] Gallagher M.G., 1994: “China’s Illusory Threat to the South China Sea,” International Security, Vol. 19, No. 1., pp. 169-194.

[5] Katchen, M.H., 1977: “The Spartly Islands and the Law of the Sea: “Dangerous Ground” for Asian Peace,” Asian Survey, Vol. 17, No. 12., pp. 1167-1181.

[6] Rowan J.P., 2005: “The U.S-Japan Security Alliance, Asean, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. XLV, p.p. 414-436.

[7] Senese P.D., 2005” “Chinese Acquisition of the Spratly Archipelago and Its Implications for the Future,” Conflict Management and Peace Science, Vol. 22, pp. 79–94.

[8] Wu S.S.G. and Bueno de Mesquita B., 1994: “Assessing the Dispute in the South China Sea: A Model of China’s Security Decision Making,” International Studies Quarterly, Vol. 38, No. 3., pp. 379-403.


[1] Gallagher M.G., 1994: “China’s Illusory Threat to the South China Sea,” International Security, Vol. 19, No. 1., pp. 169-194.

[2] Cordesman A.H and Kleiber M., 2006: “The Asian Conventional Military Balance in 2006,” Special Report, Center for Strategic and International Studies (CSIS).

[3] Wu S.S.G. and Bueno de Mesquita B., 1994: “Assessing the Dispute in the South China Sea: A Model of China’s Security Decision Making,” International Studies Quarterly, Vol. 38, No. 3., pp. 379-403.

[4] Austin G., 2003: “Unwanted Entanglement: The Philippines’ Spratly Policy as a Case Study in Conflict Enhancement?” Security Dialogue, Vol. 34, p.p 41-54.

[5] Thí dụ không xa là cuộc chiến của Việt Nam ở Campuchia hồi những năm cuối thập kỷ 70.

[6] Tôi đă đề cập đến vấn đề này trong bài viết về trí thức tinh hoa và nhà nước kỹ trị: http://www.minhbien .org/?p=51

[7] Báo cáo của Bộ Năng Lượng Mỹ cùng một loạt các nghiên cứu đă được xuất bản khác, đă dẫn.

[8] http://vietnamnet. vn/kinhte/ 2005/07/470263/

[9] Giả sử kim ngạch năm 2007 là 10 tỉ và tốc độ tăng trưởng kim ngạch hàng năm là 10%.

[10] Vũ Quang Việt, đă dẫn.

[11] Theo Vũ Quang Việt, “kư kết này đạt được sau những hành động dụ dỗ của Trung Quốc, trong bối cảnh Mỹ sa lầy ở Iraq. Trung Quốc tăng cường đầu tư và thương mại với Phi, đưa thương mại hai bên từ $3.3 tỷ US năm 2000 lên $17,6 tỷ US năm 2005, với cán cân thương mại $8,1 tỷ US nghiêng về phía Phi. Sau kư kết, Hồ Cẩm Đào sang thăm Phi vào tháng 4 năm 2005, hứa đầu tư $1,1 tỷ US vào khai thác mơ kẽm và cho Phi mượn $542 triệu US với lăi suất ưu đăi. Hai bên hứa hẹn đưa ngoại thương hai bên lên $30 tỷ US vào năm 2010.”

[12] http://au.china- embassy.org/ eng/xw/t204203. htm

[13] http://uk.reuters. com/article/ oilRpt/idUKHAN29 069220070105

1.    22 lời b́nh cho bài “Xung Đột Trường Sa và Trạng Thái Ḥa B́nh Mong Manh Trên Biển (Bài 2 và Hết)”

2.       C̣n 1 lư do khiến ASEAN khó hợp tác với VN trong chuyện này là phần lớn những người giàu có hay chính trị gia của những nước ASEAN khác như Phi, Thái, Sing, Malay có gốc Tàu. Họ không sẵn sàng chống lại chính quốc của họ hoặc dễ dàng bị mua chuộc như kiểu Phi. Phần C th́ khả năng giới chức VN bị mua chuộc để kư vào bản hiệp ước là hoàn toàn có thế.

duongqua -- Dec 12, 2007

3.       Bác Dự viết rất rơ ràng và công phu. Tôi có thêm phần ngưỡng mộ game-theoretic analysis sau bài này của bác. Cảm ơn bác!

Phần “Tự vệ chủ động” có thể thêm nước cờ tương tự Phi (việc Keating thăm VN ngày hôm nay, 13 tháng 12, phải chăng là một thông điệp VN gửi TQ theo hướng này?). Cũng theo ḍng suy nghĩ này, VN có thể đẩy mạnh khuyến khích đầu tư từ các nước phát triển (Mỹ, Nhật, EU), làm cho quyền lợi của họ bị đụng chạm nếu xảy ra leo thang chiến tranh.

Ngô Quang Hưng -- Dec 12, 2007

4.       Đáng tiếc là những bài như thế này sẽ chẳng có mấy người đọc. Tôi viết mục đích chính có lẽ là để tự educate ḿnh chứ không có tham vọng đưa được cách nh́n này vào phổ biến sâu rộng. Âu cũng là một thứ lời nguyền gở (curse) của dân làm học thuật vậy.

Trần Vinh Dự -- Dec 13, 2007

5.       Ḿnh lại nghĩ khác: đă làm học thuật th́ cũng không nên câu nệ như thế. Hữu xạ tự nhiên hương! Hơn nữa không phải ai đọc cũng hiểu, không phải ai đọc hiểu mà hiểu hết và không phải ai đọc, hiểu, hiểu hết cũng đi nói lại với bạn rằng tôi đă đọc, đă hiểu và hiểu hết!

DongA -- Dec 13, 2007

6.       To bác Đông A: Đương nhiên là tôi không câu nệ, v́ thế tôi mới viết và bỏ lên blog. Nếu tôi câu nệ và chỉ muốn lợi cho ḿnh th́ tôi đă viết bằng tiếng Anh và t́m cách publish ở đâu đó để lấy danh tiếng. Viết trên blog có lẽ là một cách làm tổn hại nhất xét về mặt lợi ích cá nhân.

Trần Vinh Dự -- Dec 13, 2007

7.       Trong thời chiến vẫn phải ném trứng phát (không ném được Tàu th́ cũng phải ném Dự Trần) :). Tôi lại không cho rằng bài viết dựa trên game-theoretic approach mà chỉ là cost/benefit của đối phương. Xin copy bài tôi vừa reply Nguyên tiên sinh.

A. Về cơ bản, tôi đồng ư với kết luận (or giả định) rằng giới lănh đạo TQ không mù quáng. Tuy nhiên, nếu giới lănh đạo TQ fully rational th́ họ sẽ không chỉ analyze cost/benefit của một action mà họ c̣n analyze cost/benefit của đối phương. Nếu ta biết rằng họ không thể mạnh tay, họ cũng sẽ biết rằng ta cũng không dám đi quá đà. Cái quan trọng ở đây là negotiation power của cả 2 bên mà biến số này phụ thuộc vào bên nào sẽ thiệt hại/thu lợi nhiều hơn từ sự bất hợp tác.

Tổng doanh thu từ mậu dịch đối với VN có là 8-10 tỷ USD, so vởi của VN 2.5-3 tỷ USD, vẫn là rất bé so với tổng doanh thu từ xuất khẩu với các nước c̣n lại, nhất là Mỹ và Tây Âu. Nguồn thu của TQ từ mậu dịch giữa 2 nước cao gấp 3 lần của VN trong khi dân số của họ th́ gấp 15 lần dân số VN c̣n thu nhập b́nh quân đầu người của họ th́ cap gấp 3 lần của VN. Nếu tính toán naively th́ thiệt hại của VN khi bất hợp tác với TQ là gấp 15 lần thiệt hại của họ.

Con số 15 có thể chỉ là một xấp xỉ đơn giản nhưng ư của tôi là negotiation power của VN yếu hơn TQ khá nhiều và họ cũng sẽ cân nhắc điều này bên cạnh cost/benefit của họ.

Do đó, VN cần phải pretend rằng ḿnh sắp tức nước vỡ bờ và sẵn sàng trả đũa. Nhưng làm sao qua mặt được TQ chẳng dễ chút nào và cần khả năng ngoại giao tốt chứ không chỉ dựa trên những luận điểm cost/benefit trên.

Cái mà tôi đồng ư là VN cần phải để cho người dân được tự do biểu t́nh phản đối TQ và thể hiện ḷng yêu nước. Việc này không những support ư ở trên mà c̣n một phần nào (có thể rất nhỏ) thay đổi perception về cost của người VN khi giao thương với TQ.

B. Qua những tài liệu mà tôi đọc 2 hôm nay, VN thực ra đă đ̣i kiện TQ ra ṭa án quốc tế 2 lần nhưng TQ đều từ chối (ṭa án quốc có cái dở là họ chỉ làm trọng tài nếu cả 2 bên đồng ư). Những người làm chính trị th́ không bao giờ cho rằng TQ chính nghĩa hoặc yêu ḥa b́nh. C̣n những người có perception rằng TQ là một đất nước “trỗi dậy ḥa b́nh” th́ việc TQ từ chối ra ṭa án quốc tế cũng chẳng mấy ai để ư.

Khoa -- Dec 13, 2007

8.       Hôm qua trên VTV có phỏng vấn một bác h́nh như là HLV trưởng đội bóng bàn VN tại Seagames rất hay. Khi nói đến chuyện năm nay bóng bàn Sing thắng to v́ nhập khẩu nhiều vận động viên TQ, bác này cho rằng xu hướng các Trung Quốc hóa môn bóng bàn trên thế giới hiện nay rất phổ biến. Các vận động viên bóng bàn có số má của TQ muốn được thi đấu quốc tế, đặc biệt ở Olympic đă nhập quốc tịch các nước khác. Đây là xu hướng không cưỡng lại được.
Để có thể thắng, vấn đề không phải cưỡng lại xu thế mà là phải t́m cách hóa giải xu thế đó. Hoặc bó tay quy hàng, mặc chó TQ làm bá chủ, hoặc phải học TQ chống lại TQ. Kết luận lại bác này nói, phải học chính miếng đ̣n của TQ chống lại TQ th́ mới mong thắng TQ. Nếu không sẽ không c̣n bóng bàn thế giới, không c̣n bóng bàn Việt
Nam mà chỉ có bóng bàn Trung Quốc mà thôi.
Không biết bác này có nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung không mà nói ghê phết.

DongA -- Dec 13, 2007

9.       Hai bài của bác Dự về mặt học thuật th́ hay, nhưng về mặt thực hành, theo tôi, đối với Trung quốc không đơn giản chút nào. Tôi cũng có dịp sang Mỹ nhiều lần. Không phải mối đe dọa mang tên Trung quốc chỉ có mặt ở Việt Nam mà ngay cả nước Mỹ cũng đă xuất hiện điều này. Nhân bài này tôi nói các yếu tố của bác Dự trên khía cạnh khác.

Về kinh tế: Có một quan niệm nảy sinh về khả năng chiếm lĩnh thị trường gần đây là: giá rẻ. Các nhà kinh tế học nói rằng: Mỹ và châu Âu dành cho thượng lưu. Nhật dành cho trung lưu, nhưng Trung quốc th́ dành cho giới b́nh dân. Đời th́ giới nghèo đông hơn trung lưu và giàu có. Đó là điều mà Trung quốc đánh vào tử huyệt cả thế giới.

Về con người: Ai cũng biết vào khỏang thập niên 1980-90, một số nước Asean và Úc có những luật nhập cư cấm cửa người Hoa, v́ sợ lâm vào cảnh giống như Singapore. Nhưng sau khi luật này áp dụng nhiều năm sau th́ kinh tế của các nước này bị ảnh hưởng, v́ đa phần người Trung quốc làm kinh doanh, một khi đóng cửa nhập cư th́ làn sóng lo sợ của người Hoa về đầu tư và làm ăn ở các nước này bị rút đi.

Vấn đề này nh́n lại Việt Nam th́ ư kiến của bài 2 mà bác dự đưa lên ở bài trước từ tờ Newsweek, cũng đang là không chỉ đáng ngại cho Việt Nam mà ngay cả thế giới.

Hai vấn đề c̣n lại 4 và 5 (bác Dự sửa lại V thành 5 cho dễ theo dơi) theo tôi cũng nên quan tâm đến ư kiến của Lê Tuấn Huy về điểm này. Đó là, Việt Nam đang rất muốn Mỹ ủng hộ từ Mỹ về quốc pḥng và Việt Nam trong cái muốn này là ở trong thế cần Mỹ chứ không phải Mỹ cần Việt Nam, nhưng cái cách hành xử của Việt Nam trong việc này theo kiểu:”Ḷng th́ muốn mà mặt ng̣ai c̣n e”, đúng nghĩa là cái cách hành xử “rất văn hóa nông dân”.

Với Trung quốc theo hiểu biết của tôi th́ muôn đời với họ là cá lơn nuốt cá bé và họ sẽ không từ bỏ bất kỳ thủ đọan nào để thôn tính chúng ta.

Cũng như tôi đă nói ở bài trước, bây giờ tôi muốn nói rơ hơn nữa là cái mà Việt Nam cần làm trong hiện tại và tương lai phải như câu nói cuối đời của Tướng De Gaule:”Tất cả các chủ thuyết rồi sẽ qua đi, điều c̣n lại cuối cùng là dân tộc!”. Tôi không nghĩ rằng các lănh đạo VN hiện tại không biết điều này và cũng không phải không muốn thực hiện điều này, mà việc thực hiện có khả thi không mới là vấn đề đáng bàn.

Phạm Viết Duy -- Dec 13, 2007

10.   Bài viết của anh Dự hay thật, dùng game thoery phân tích thật tuyệt. Nhưng thật đúng như anh đă viết, mới chỉ là trên giấy bút, chưa nhiều người đọc, trong khi động thái trên cao rất im ắng, mà bộ phận này mang tính quyết định rất lớn. Không biết sẽ ra sao!!!

Minh Phi -- Dec 13, 2007

11.   Con không có nhận xét ǵ về bài viết trên bởi con không có đủ kiến thức để bàn đến.Nhưng con xin có ư kiến ,ta nên dịch tất cả những tài liệu, luận cứ,luận điểm ra thành nhiều thứ tiếng để cho bạn bè thế giới cùng biết.không chỉ tóm gọn trong diễn đàn Việt.Mong các bác tham gia dịch thuật ,làm cho TQ trở nên đuối lư trước thế giới
Con nghĩ Chính quyền Việt Nam cũng có cái lư của riêng ḿnh.Có lẽ họ đang đợi chuyến viến thăm của tư lệnh các lực lượng Mĩ ở TBD đến thăm ,xem Mĩ có sẵng sàng giúp đỡ VN hay không,nếu Mĩ giúp th́ CQVN mới chính thức lên tiếng phản đối. c̣n nếu không th́ t́nh trạng “im thin thít” la dĩ nhiên .Nhưng con nghĩ nếu VN mở lời th́ Mĩ sẵng sàng hợp tác .Mong rằng Cp ta có quyết định hợp lí nhất để bảo vệ toàn vẹn lănh thổ!!!Mong hương hồn của mọi người VN phù hộ cho đất nước VN,dân tộc Việt
Nam!!Mọi người ơi !!hăy gạt sang 1 bên những bất đồng bất kể là lănh vực nào để cùng chung tay hợp sức chống ngoại xâm !!! :’(

Lam -- Dec 13, 2007

12.   Bác Dự có thể xem xét vấn đề lạm phát do chiến tranh gây ra ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế asean và TQ.
Nền kinh tế Asean trừ VN hiện 70% nằm trong tay cộng đồng người Hoa.
Thái lan, Malai, indo, philippin, singapore Hoa kiều âm thầm liên kết chặt chẽ nắm giữ vị trí số 1 từng mặt hàng từ cái đinh đến các khu du lịch casino 5 stars cho đến chai nước tương, máy móc , nguyên phụ liệu, hoá chất … hệ thống phân phối lan toả chằng chit khắp nơi.

Giống dân Do Thái thời xưa ở châu Âu.Hoa Kiều kinh doanh nhờ chiến tranh . Họ bắt cá hai tay cung cấp cả hai phiá. Và họ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội đầu cơ trục lợi đẩy giá sản phẩm bóp cổ người dân nước sở tại.

Xung đột trên biển đông là cơ hội làm giàu của những con buôn chiến tranh nếu họ nắm được thông tin.
VN hiện đang nằm trong chiến lược đồng hoá của Bắc kinh.

AC- ARIZONA COWBOY -- Dec 13, 2007

13.   @Lam: Vieät Nam ḿnh ḷng th́ muốn, hành động th́ muốn, nhưng giáo dục và truyền thông th́ đă có đảng dẫn đường là chữi Mỹ ra ră. Cháu nên đọc bài 1, phần trích dẫn 2 bài viết của chú mượn của TS Lê Tuấn Huy th́ sẽ thấy rơ tại sao tới giờ này vẫn bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ. Cũng không lọai trừ giả thiết có Mỹ bật đèn xanh cho Trung quốc trong vụ HS & TS lần này.

Đồng ư với bác AC- ARIZONA COWBOY. Ra đường cứ gặp 5 người th́ có 1 người Hoa. Thảm họa “vết dầu loang Hoa kiều” về con người và về kinh tế bây giờ là vấn nạn ṭan cầu.

Phạm Viết Duy -- Dec 13, 2007

14.   Có bài viết này trên talawas.org cũng có quan điểm về “ḷng th́ muốn mà mặt ngoài c̣n e”

http://www.talawas. org/talaDB/ showFile. php?res=10255&rb=0401

duongqua -- Dec 13, 2007

15.   Bài viết mới nhất của nhà văn Sầu riêng - Nguyễn Ngọc Tư

Hôm nay có film TRUNG QUỐC

Điểm phim : Hôm nay, có rất nhiều Đài truyền h́nh có phim Trung Quốc, bạn hăy mở kênh A xem cuộc chiến sống c̣n giữa hai cao thủ vơ lâm của phái Hoa Sơn và Tuyết Sơn để giành một bí kíp giang hồ. Ở kênh K, nàng công chúa xinh đẹp nước Sở đang lên kế hoạch trả thù cho người yêu. Kênh B dành cho người yêu phim quan tâm đến đời sống chính trị xă hội khi theo dơi cuộc chiến chống tham nhũng của Bí Thư Trần đang vào giai đoạn gay cấn, hôm qua bạn đă thấy vợ bí thư nhận món tiền hối lộ lớn như thế nào. Kênh C và kênh H giới thiệu cuộc đời của những kỳ nhân Trung Quốc, họ là những quân sư giỏi cho những ông vua… dở giành lấy ngai vàng hoặc thôn tính nước khác. Và nếu bạn là người lăng mạn, hăy bật kênh D, U, S, Z, X… để xem những bộ phim t́nh cảm lănh mạn của những đôi lứa yêu nhau nhưng luôn gặp trắc trở, lỡ làng, cái kết bất ngờ của những mối t́nh đang chờ bạn khám phá. Tất nhiên, với hàng loạt diễn viên trẻ đẹp, bối cảnh sang trọng, hoành tráng, những bộ phim Trung Quốc trên tất cả các đài truyền h́nh trong nước Việt sẽ lôi cuốn các bạn từ đầu đến cuối, giới thiệu đất nước, con người Trung Quốc một cách chân thực và gần gủi nhất, bạn sẽ cảm thấy đầy ắp thông tin về đất nước láng giềng.

Và cũng tất nhiên, trên tất cả các Đài truyền h́nh tỉnh lẻ và khu vực và Trung ương bạn sẽ không t́m thấy thông tin Trường Sa và Hoàng Sa bị Trung Quốc cướp trắng, một cuộc xâm lược không cần ngụy biện và che giấu, rất phách lồi, ừ, tao lớn, tao mạnh, tao thích lấy th́ lấy, làm ǵ tao ?

V́ những nguồn quảng cáo vô tận, v́ phim Trung Quốc bán rẻ như cho, v́ đài tỉnh bên tăng thời lượng mà ḿnh không tăng cũng kỳ… ?????

Nên hôm nay, bạn hăy bật tất cả các kênh để xem phim Trung Quốc. Ngay khi chưa mất đất th́ cuộc xâm lược đă diễn ra rồi, và chúng ta ngồi trước màn h́nh ti vi sung sướng chấp nhận điều đó.

Có một đứa đă lỡ hơi khùng rồi, nên khùng luôn cũng không sao, muốn cướp đài truyền h́nh tỉnh vài giờ, đúng chương tŕnh phim truyện, buộc nhân viên kỷ thuật chạy ḍng chữ trắng “Tổ Quốc bị cướp một phần rồi, bà con ơi”. Hay lịch sự hơn, thay bằng “V́ bạn Trung Quốc chơi xấu, nên bữa nay tạm ngưng phim Trung Quốc” trên cái nền đen vô tận của bóng đêm. Ít nhất, sẽ có một phần mười người xem sẽ tắt ti vi trong một nỗi bàng hoàng của một người nhận ra ḿnh dù hèn nhưng vẫn c̣n yêu nước. Chín phần mười c̣n lại, cũng biết bàng hoàng v́ lỗi Trung Quốc tráo trở mà họ bỏ lỡ một tập phim Trung Quốc hay.

Tuấn Khanh và Nguyễn Ngọc Tư hai người trẻ có nhân cách và ḷng dũng cảm khiến AC phải KÍNH TRỌNG ( viết hoa)xinh tặng 2 bạn huy chương LION HEART

LINHK: http://ngngtu. blogspot. com/

AC- ARIZONA COWBOY -- Dec 13, 2007

16.   chuyên gia Ấn Độ bàn chuyện TQ và Biển Đông:

Chinese Assertion along the South Vietnamese Coast

Pankaj Kumar Jha
Security Analyst,
New Delhi
e-mail:pankajha_ kum@yahoo. com

China fired a salvo recently by pronouncing the exploration rights to blocks 127 and 128 given to ONGC by Vietnam in 2006 as illegal. A diplomatic demarche was issued by the Chinese Embassy in Delhi. The rights allow for exploration of gas which could be used for electricity generation in southern Vietnam.

This Chinese declaration has come as a frontal attack against India’s pursuit of energy security. Till recently China’s approach has been soft power diplomacy through engagement in the South China Sea Cooperation Declaration and asking for a peaceful resolution of the conflict. With the construction plans of an airstrip by Taiwan in Itu Aba, one of the Spratlys Islands under its occupation, there are fears that Vietnam might follow suit. Vietnam controls more than twenty islands or islets and has been active in tourism and also seismic data and oil potential analysis. The strategic centrality of South China Sea as well as enhanced relations between Vietnam and India and between Vietnam and US has led to the stance adopted by China. Already the US has started making temporary bases for its soldiers supporting Philippines armed forces against their fight in highly restive Mindanao. Therefore, China wants to assert its claim on the South China Sea after the 1996 Taiwan Straits Crisis and the Mischief reef incident. But, if oil has been the major issue of concern then it has been asserted by many explorers and energy analysts that there is not much oil in these waters and if the exploration costs are high, it would not make it a feasible venture.

China’s soft power diplomacy was initiated in the early 1990s and led to mending fences with countries like Malaysia, Vietnam and Indonesia. China is offering economic incentives to both Philippines and Vietnam, by first persuading them to undertake joint exploration in the South China Sea and next through enhancing trade with both countries. The thumb rule is that China wants to have leverage with these countries by allowing them access to their market and link them to Chinese economic growth. The activity of China should also be seen as a check and balance mechanism to see the repercussion with regard to small steps like the claiming sovereignty over the two disputed archipelagos through the establishment of symbolic administrative region called Sansha. A status quo power wants to assert its hegemony in the South China Sea and is testing the waters along its southern coast.

Can one then claim that the calm waters in the strategic sphere have been disturbed? To a large extent the answer would be negative. But China may be also turning its attention towards Southeast Asia when the Iran fixation of US has been resolved to a certain extent and Washington might then look to assert its hegemonic role in Southeast Asia. The issue of Chinese sovereignty in South China Sea has been disputed by the other claimant countries but the important strategic move made by China is to claim the Exclusive Economic Zone which might be extended to more than 200 nautical miles in future. In that case if China’s sovereignty through de facto occupation is accepted then it would control major energy supply sea lanes to Japan and South Korea. This move would marginalise US presence in the Philippines and also would safeguard China’s strategic interests in the region.

One realist hypothesis is that China would not face much of a confrontation in case it asserts its sovereignty and even the US might not interfere as was the case during the Chinese occupation of Paracels in 1974.Of late, China has been conducting a number of naval exercises in the region which showcase its naval might to possible adversaries like Vietnam and Taiwan. The Chinese assertion on ONGC drilling and exploration activities in South China Sea means that China wants that either the other claimant countries should work in tandem with Chinese interests or they leave the exploration to China only. China is sharpening its teeth for resource security especially in terms of energy security. One can say that China is bullying countries like India which have been too complacent on protecting their interests when China gets involved.

In case of China asserting its sovereignty over the islands within its control, as well as beyond, it would have a major strategic leverage vis-à-vis major powers in the region as well as beyond it. India has been hit hard by such a claim but China is hitting India’s soft belly at will and India should do something serious about it. China is a growing economy and there is no denying this fact but the time has come for India to assert itself in verbal terms about its own strategic interests. India has grown and should lodge a protest on this even if it means making strong remarks on this issue.

DongA -- Dec 14, 2007

17.   Có một điều đáng buồn là vụ con bé hư hỏng Vàng Anh, Vàng em ǵ đó th́ đài truyền h́nh bỏ ra cả một khỏang thời gian dài để nỗi đ́nh đám và trước đó có tất cả báo chí đưa tin. Trong khi đó chuyện vận mệnh một quốc gia th́ đă cả tháng nay thông tin đại chúng đều yên ắng một cách đáng sợ, ngọai trừ ông Lê Dũng lên phát biểu cái điệp khúc cũ mà bà Nguyễn Thúy Thanh, người tiền nhiệm của ông cũng làm đúng trách nhiệm trước đây.

Qua đây, các bạn cũng biết bàn tay lông lá của Trung cộng không đơn giản và thật đáng sợ. Có lẽ mọi lư luận, mọi hành động yêu nước của người Việt yêu chuộng trên ṭan thế giới trong những ngày qua như đánh vào khỏang không vô tận. Mọi người nghĩ sao về sự so sánh có tính khập khiểng của tôi?

Phạm Viết Duy -- Dec 14, 2007

18.   Theo tôi có một điều mà chính phủ lo ngại nữa là nếu tuyên truyền mạnh quá th́ sẽ kích động bà con, có thể gây biểu t́nh hỗn loạn, như vậy cũng mất công sức và tốn tiền mà hiệu quả giải quyết vấn đề cũng không đáng kể.

Hungary, bây giờ thanh niên được t́nh tự do thế nên mấy năm gần đây năm nào vào dịp tổ chức tưởng niệm các thanh niên hi sinh v́ chống lại chế độ cũ cũng có một nhóm theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan cũng đi biểu t́nh, đập phá và tấn công người nước ngoài. Anh em sinh viên Việt Nam ngày đấy tôt nhất là ngồi nhà xem TV. Dân chủ cũng có mặt trái.

Thành Nguyễn -- Dec 14, 2007

19.   Nực cười hơn nữa là vụ Vàng Anh báo chí c̣n đưa tin đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo và họp với Ban Tuyên giáo, Đài TH kiểm điểm này nọ kia… Chắc hết việc để lo rồi mới phải làm việc đó…?

DongA -- Dec 14, 2007


  1. Web site GDVBDL http://www.vobiviet nam.com/
    GDVBDL chu? tru+o+ng KHO^NG QUE^N
    ANH EM - KHO^NG BO? BA.N BE`

 

 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/27/07