Đức Đạt Lai Lạt Ma là công dân danh dự của Canada

 

Đức Dạt Lai lạt Ma

Đức Dạt Lai lạt Ma

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Ngài vinh hạnh được trao tặng danh hiệu công dân danh dự Canada. Ngài đă được Quốc Hội trao tặng danh hiệu này đầu mùa hè năm nay, việc này đă đưa đến sự chỉ trích từ phía Trung Quốc. "Bất cứ nơi nào tôi đến, họ đều gây trở ngại cho tôi", ngài đă nói trong một cuộc họp báo tại ṭa thị trưởng Van couver. "Tôi xin lỗi. Tôi mong rằng không phải lỗi của tôi".

 

Chỉ có hai nhân vật khác được trao tặng danh hiệu công dân danh dự Canada là: vị lănh tụ Nam Phi Nelson Mandela và nhà ngoại giao Thuỵ Điển Raoul Wallenberg, người đă cứu dân Do Thái khỏi bị tiêu diệt trong Đệ Nhị Thế Chiến.
 

Vị lănh đạo Phật giáo Tây Tạng trên toàn thế giới đă đến Vancouver vào ngày Thứ Năm để khánh thành Trung Tâm Ḥa B́nh và Giáo Dục Dalai Lama. Ngài nói rằng Vancouver được chọn làm nơi để thành lập trung tâm đầu tiên trên toàn thế giới mang tên của ngài, do v́ dân chúng thuộc nhiều chủng tộc và màu da khác nhau của vùng đất này đă sống hài ḥa với nhau. “Đây là thuần túy về giáo dục chứ không phải chính trị”, ngài đă nói về trung tâm như thế.
 

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng những cơ sở tôn giáo đă mất đi chức năng và ngày nay sự hướng dẫn về đạo đức và chủng tộc phải được truyền đạt qua giáo dục. Ngài nói “Chúng ta phải sống với nhau. Chúng ta phải giáo dục theo chiều hướng này”.
 

Ngài nói rằng loài người phải được thái b́nh hơn qua sự khơi sáng những giá trị của con người và sự hài ḥa trong tôn giáo. “Đây là nền tảng cho tương lai”, ngài nói. “Nó đem lại lợi ích cho mọi người”.
 

Đức Đạt Lai Lạt Ma đă được ông Thị Trưởng Sam Sullivan chào đón tại Vancouver. “Xin cám ơn ngài đă ban phúc cho chúng tôi qua sự hiện diện của ngài” , ông Sullivan nói. “Vancouver rất vinh hạnh v́ ngài đă xem đây là thành phố duy nhất để thành lập một cơ sở được mang tên của ngài”.
 

Trong số những vị trong ban cố vấn của trung tâm có cựu tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, cựu tổng thống Cộng Ḥa Czech Vaclav Havel và Tổng Giám Mục của Nam Phi Desmond Tutu.
 

Trong chuyến viếng thăm Vancouver, Đức Đạt Lai Lạt Ma hẹn gặp gỡ học sinh và giáo chức trường trung học vào ngày Thứ Sáu, trên chủ đề giáo dục và trưởng dưỡng tâm từ. Ông Tim Shriver, giám đốc kiêm chủ tịch của Special Olympics, là một trong những người tham dự các buổi họp vào ngày Thứ Sáu. Ông Shriver là anh của bà Maria Shriver, phu nhân của Thống Đốc California Arnold Schwarzenegger.
 

Ngày Thứ Bảy, Đức Đạt Lai Lạt Ma có buổi hội thảo trước công chúng với một số đông các nhà học thuật, các nhà văn, kể cả vị tác giả nổi tiếng Deepak Chopra, trên chủ đề gia tăng sức khoẻ và hạnh phúc chân thật.
 

Sau đó ngài có một buổi nói chuyện khác tại GM Place với 21,000 chỗ ngồi trên chủ đề vun bồi hạnh phúc. Giá vé cho những buổi nói chuyện này là 175 USD.
 

Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng sẽ có những cuộc hội nghị chỉ riêng với những người được mời trong giới lănh đạo thương mại và xă hội có tên tuổi. Nghi sĩ Calgary ông Jason Kenney, từng là người chỉ trích chính sách về nhân quyền của Trung Quốc, hiện là thư kư nghị viện cho Thủ Tướng Stephen Harper, đă gặp riêng Đức Đạt Lai Lạt Ma vào ngày Thứ Bảy. Bộ Trưởng bộ Công Dân và Di Trú, ông Monte Solberg sẽ tham dự buổi nói chuyện tại GM Place.
 

Việc Canada đón nhận đức Đạt Lai Lạt Ma đă gây nên sự chỉ trích từ Trung Quốc, hiện đang tiếp tục thống trị đất nước Tây Tạng, nơi mà ngài đă trốn khỏi vào năm 1959.
 

Bắc Kinh đă khiếu nại chính phủ Canada về quyết định trao tặng tước hiệu công dân danh dự cho vị lănh tụ lưu vong Tây Tạng 71 tuổi này, nói rằng hành động này có thể làm tổn hại sự bang giao của hai quốc gia.
 

Bộ Ngoại Giao Canada nói rằng Canada nh́n nhận Trung Quốc là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc và Tây Tạng, nhưng cũng hết sức tôn kính đức Đạt Lai Lạt Ma.
 

Năm 2004, đức Đạt Lai Lạt Ma có mặt ở Vancouver cho buổi hội thảo đầu tiên của Vancouver với những vị được giải Nobel Ḥa B́nh, gồm cả Tổng Giám Mục Tutu và người bênh vực nhân quyền Iran ông Shirin Ebadi. Cả ba vị đă được trao tặng văn bằng thạc sĩ danh dự tại trường Đại Học British Columbia.
 

Đức Đạt Lai Lạt Ma đă đoạt giải Nobel ḥa b́nh do quá tŕnh đấu tranh lâu dài của ngài cho quyền tự trị của dân tộc Tây Tạng và việc theo đuổi ḥa b́nh của ngài.
 

Ngài đă trốn thoát và lưu vong ỡ miền Bắc Ấn Độ vào năm 1959, sau khi cuộc nổi dậy chống lại sự thống trị của Trung Quốc bị thất bại, và ngài hiện vẫn được tôn kính trên toàn lănh thổ Tây Tạng mà ngài đă trốn đi năm 1959.
 

Mặc dù ngài luôn được xem là một vị lănh tụ lưu vong của Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma tự xem là một người đă về hưu bán phần. Ngài nói "Tôi thật sự giống như một cố vấn lăo thành. Ngài nói rằng ngài thường xuyên nghe được về t́nh trạng ở Tây Tạng, mà ngài diễn tả rằng"thoái chuyển về vật chất (nhưng)...tinh thần rất phong phú.
 

Ngài nói tất cả đều biểu lộ nỗi buồn, lời than trách, sự phẫn uất. Nhưng ngài nhấn mạnh rằng ngài không mưu cầu nền độc lập từ Trung Quốc cho đất nước Tây Tạng. Ngài nói “Tôi đang cố gắng t́m một giải pháp dựa trên hiến pháp của Trung Quốc”.
 

Trong cuộc họp báo, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đă nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự do ngôn luận.

Um A Hum (roomdieuphap)

 

 

Bản kinh bí ẩn t́m thấy trong phế tích Phật giáo

 

Xem h́nh

 

Một bản kinh Phật vừa t́m thấy bên trong của một trong hai pho tượng Phật khổng lồ ở Bamiyan – Afghanishtan, đă hé lộ điều bí ẩn lâu nay về việc pho tượng được h́nh thành, hăng tin thông tấn Nhật Bản vừa phát bản tin này.

 

“Những đoạn rời của bản kinh t́m thấy khiến người ta tin tưởng rằng quyển kinh này được viết bằng ngôn ngữ Sanscrit nguyên thuỷ, với văn phong phổ biến thời thế kỷ 6 và 7”, bản tin Kyodo phát đi từ Kabul cho biết.

 

Một đoàn các nhà nghiên cứu người Đức thuộc Hội đồng Quốc tế đă t́m thấy bản kinh này vào tháng bảy vừa qua trong đống đổ nát của phế tích Phật giáo, bản báo cáo đă thuật lại như vậy, sau đó nó được đăng trên 1 tờ báo chuyên ngành của Nhật Bản. Những nhà nghiên cứu tin tưởng rằng bản kinh được đặt vào mặt trong phía đông của bức tượng Phật cao nhất thế giới. Tượng này đă bị quân Hồi giáo cực đoan Taliban phá huỷ năm 2001.

 

Bản tin Kyodo nhận định: "Mặc dù những bản chữ cổ đă từng được t́m thấy bên trong các pho tượng Phật ở Nhật Bản, đây là lần đầu tiên có bản kinh t́m thấy bên trong pho tượng Phật ở Afghanistan. Những kư tự của hệ thống chữ trên bản kinh được viết theo lối Gilgit/Bamiyan – kiểu viết được sử dụng ở vùng dân cư rộng lớn mà ngày nay thuộc phía bắc Ấn Độ, Pakistan và Afghanistan”.

 

Tài liệu t́m thấy là bắt đầu của một chương Kinh Phật giải thích tín ngưỡng căn bản của Phật giáo và cho rằng mọi sự vật đều là vô thường, bản tin Kyodo viết tiếp. Bản kinh được viết trên một mảnh vỏ cây và được gói trong một mảnh vải lấm bùn.

 

Nhóm những nhà nghiên cứu t́m thấy một mảnh kim loại nhỏ, được trang trí hoa văn. Họ cũng t́m thấy một hiện vật bằng đất sét với một con rắn và một loài động vật h́nh chim. Các chuyên gia tin rằng kiểu hoa văn trang trí và những dấu hiệu trên hiện vật t́m thấy là những đặc trưng riêng áp dụng khi xây dựng những pho tượng Phật khổng lồ ở đây.

 

Hiện bản kinh được cất giữ tại một nơi thuận tiện ở Afghanistan, bản tin Kyodo cho hay.

 

Um A Hum (Theo Budhist Chanel)

 

Nam Bắc Triều Tiên cùng nhau tái thiết ngôi chùa cổ

 

 

Xem h́nh

Phật tử Nam Hàn tu tập (h́nh minh họa)

Khoảng 700 nhà đại diện tôn giáo và giới chức sắc từ Seoul và B́nh Nhưỡng, hôm 19 tháng 11 vừa qua, đă cùng nhau tham dự buổi lễ Lạc thành ngôi cổ tự trên đất Bắc Triều.

 

Khoảng 700 nhà đại diện tôn giáo và giới chức sắc từ Seoul và B́nh Nhưỡng, hôm 19 tháng 11 vừa qua, đă cùng nhau tham dự buổi lễ Lạc thành ngôi cổ tự trên đất Bắc Triều.

Ngôi chùa Shingye tọa lạc ở vùng biển duyên hải phía Đông của Bắc Hàn, trong không gian dăy núi Geumgang. Đó là một khu vực có 10m ngôi chùa liên tiếp nhau.

 

Sau hai năm tiến hành xây dựng, dưới sự đảm trách của môn phái Jogye, một môn phái lớn của Phật giáo Nam Hàn hiện nay và Hiệp hội Phật giáo Bắc Triều.

 

Chung So-jung, chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Bắc Triều cho biết: “Chúng  tôi tổ chức buổi lễ hôm nay để ghi nhận lời tuyên bố chung 15 tháng 4. Hy vọng việc tái thống nhất hai miền Triều Tiên sẽ được nối lại nhờ sức cầu nguyện của Phật tử hai miền.

 

Tuyên bố chung được kư năm 2000 giữa hai vị lănh tụ, tổng thống Kim Dae-jung và chủ tịch Kim Jong-il, được xem là “dự án chung đầu tiên” để phục hồi di sản văn hóa của người Hàn kể từ khi bán đảo này bị chia cắt năm 1948.

 

Được xây dựng năm 519 dưới triều đại Silla, chùa Singye là một trong những thánh địa linh thiêng của Phật giáo Triều Tiên. Năm 2004, B́nh Nhưỡng đă đánh tiếng mời Thượng tọa Jejeong giám sát công tŕnh. Ngài không được truyền bá Phật Pháp ở Bắc Triều, nhưng được quyền kể cho du khách tham quan ngọn núi này nghe về giá trị lịch sử của ngôi chùa.
 

Quảng Tuấn (theo AsiaNews)

 

Con đường Huyền Trang

 

 

Xem h́nh

 

TTPG - Ngày 15-10 vừa qua, một đội khảo sát của Trung Quốc mang tên "Con đường Huyền Trang" bắt đầu khởi hành từ Tây An sẽ đi lại con đường mà năm xưa ngài Huyền Trang từng đi qua.

 

"Con đường Huyền Trang" là một hoạt động giao lưu văn hóa có quy mô lớn, nằm trong một loạt hoạt động "Năm hữu nghị Trung Ấn" do quốc gia phát động.


 

Đội khảo sát "Con đường Huyền Trang" này do một số chuyên gia nổi tiếng cùng các giới nhân sĩ và kí giả gồm 40 người. Điểm xuất phát bắt đầu từ Tây An sau đó sẽ lần lượt đi qua Thiểm Tây, Cam Túc, Tân Cương và các nước Afghanistan, Pakistan... dự tính sẽ đến Ấn Độ vào trung tuần tháng 11 và kết thúc cuộc hoạt động trở về nước vào cuối tháng 11.

Lộ tŕnh của cuộc khảo sát này khoảng 12000 km đi qua 6 quốc gia, 26 thành phố và cuối cùng đến New Dehli. Trong khoảng thời gian này đoàn khảo sát sẽ  giao lưu văn hóa tại một số trung tâm, thành phố Na Lan Đà, Bồ Đề Đạo Tràng v.v...

13000 năm trước, Ngài Huyền Trang thành phố cổ Tây An bắt đầu cuộc hành tŕnh đi đến Ấn Độ cổ nghiên cứu Kinh Phật, đă làm nên một cuộc giao lưu văn hóa cổ đầu tiên của Trung Ấn.

 

Từ weblog NTL

 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/01/06