Sẵn Sàng Rồi

TS THÍCH NHẤT HẠNH

 

Lời ṭa soạn

Tạp chí Mindfullness Bell:

 

Dù cho nhiều người trong chúng ta đă đi theo Thầy và phái đoàn tăng ni về Việt nam, ḿnh cũng thấy mọi chuyện xảy ra sờ sờ trước mắt đấy, nhưng quả ư thật là khó hiểu làm sao! Trong bài nầy chúng ta sẽ nghe chính lời của Thầy, nói lúc vừa về Pháp, về các biến cố quan trọng nhất trong chuyến đi và tầm ảnh hưởng có thể có trong tương lai vào chính quyền Việt nam, cũng như vào tầng lớp tăng ni và cư sĩ sở tại. Bằng phương cách thực tập giản dị và giọng nói mạch lạc, Thầy đă đề nghị lên chính phủ kế hoạch 6 điểm để chuyển hóa cách nhận thức quá ư nông cạn về đạo Phật và sử dụng sức mạnh của tiền nhân để giải đáp các khó khăn hiện tại. Chúng ta cũng chứng kiến nhiều móc xích ràng buộc vào nhau giữa ṭa nhà tâm linh và gốc rễ tây phương của chúng ta. Các bài thơ ở đây, các mẫu chuyện ở đây, và các báo cáo về chương tŕnh trợ giúp nhân đạo của Làng Mai sẽ đem chúng ta gần lại hơn với gia tài tâm linh của chúng ta, không phải với tư cách của một người Á hay Âu, mà với tư cách của một vị Bụt- sẽ- thành!

Việt dịch: Chân Hỷ Điền

 

 

Sẵn Sàng Rồi

 

Lúc phi cơ từ Việt nam về gần đến Pháp, sư chú Pháp Hữu nói: “Con sẵn sàng về(Làng Mai) rồi, thưa Thầy”, tôi liên tưởng đến cụm từ ’sẵn sàng chưa? Nếu tôi thực sự sẵn sàng th́ tôi phải thấy khỏe khoắn cho dù ở Việt nam hay về nhà bên Pháp. Nếu tôi không cảm thấy dễ chịu, tức là tôi chưa sẵn sàng! Ba tháng ở Việt nam rất lâu nhưng rất sâu sắc. Chúng ta cần một thời gian dài để tiêu hóa những ǵ mắt thấy tai nghe để chúng có thể nuôi dưỡng xương cốt và bắp thịt ta và sẽ trở thành một phần của cơ thể ta. Chúng ta cần ít nhất 6 tháng để tiêu hóa hết các kinh nghiệm của chuyến hành tŕnh đó.

Trước ngày đi, tôi cảm thấy tôi đă sẵn sàng trở lại Việt nam rồi. Tôi biết sẽ gặp nhiều khó khăn, và gặp nhiều sự việc ngoài dự liệu, nhưng tôi thấy tôi sẵn sàng đối đầu với chúng. Tôi đă chuẩn bị câu thần chú thứ 5. Một cư sĩ người Mỹ đă phát minh ra câu thần chú thứ 5 nầy. Có nhiều lần vợ anh có ư kiến trái ngược với ư kiến của anh, y như sắp sửa có giông băo lớn trong gia đ́nh! Cho nên anh đă sáng chế ra câu thần chú thứ 5 này:

“Vâng lệnh Bà!” Chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ phải đối đầu với nhiều chướng ngại ở Việt nam, bởi v́ có nhiều người trong guồng máy nhà nước không có cùng ư kiến với nhau! Về Việt nam giống như chèo thuyền trên biển để tránh sóng thần! Chúng tôi không để cho các trắc trở tạo thành bất măn hay tức giận! Cho nên chúng tôi học chấp nhận mọi chuyện xảy đến dù tốt dù xấu! Khi bạn đối đầu với chuyện rất ư khó chấp nhận, bạn nói: “Vâng lệnh Bà”.  Thế là xong!

Tôi cũng có niềm tin vào tổ tiên, vào các tổ sư. Họ đưa đường chỉ lối cho tôi đi. Tôi đi với một trái tim trong sáng, không dự án, không toan tính, không muốn sở đắc, không giành quyền uy! Nếu tim bạn trong sáng, các bậc tổ sư sẽ hướng dẫn bạn làm những ǵ cần làm và khuyên bạn không làm những ǵ không cần làm!

Tôi tin tưởng bạn cũng có niềm tin đó. Và nó sẽ giúp bạn khi bạn đầu với khó khăn. Khi gặp trắc trở, dù lớn dù nhỏ, bạn nên đặt hết niềm tin vào các tổ sư. Khi bạn có trái tim trong sáng, không ẩn ư, không mưu mẹo th́ mọi chuyện sẽ được suông sẻ. Điều đó có thật trong chuyến đi vừa qua.

 

Chấp nhận những trắc trở ngoài dự liệu

 

Nếu mọi sự việc đều tiến hành đúng kế hoạch th́ hay quá! Nhưng thực tế th́ khác! Thí dụ như khi chúng tôi đến Hà nội, chúng tôi yêu cầu chính quyền cho phép sử dụng những tiện nghi rộng lớn có thể chứa 6 ngàn người. Ḿnh nghĩ càng có nhiều người th́ sự chia sẻ thực tập càng có hiệu quả lớn hơn. Nhưng chính quyền không cho phép.

Lúc đầu họ chỉ muốn cho chúng tôi giảng pháp trong phạm vi nhà chùa! Nhưng v́ có nhiều thỉnh nguyện thư, nhiều yêu sách, nên họ cho phép chúng tôi nói chuyện trước cử tọa từ 300 đến 500 người, ít quá! Dù vậy, ít mà thành hay, bởi v́ thính giả đi nghe là những thành phần có ảnh hưởng lớn trong xă hội. Tỉ như các nhà khoa học, học giả và những thành phần nồng cốt trong chính quyền. Vài trăm người đi nghe như vậy có ảnh hưởng lớn hơn cả vạn người đi nghe. Mà có vạn người đi nghe chúng tôi cũng không thể tổ chức nỗi.

 

Phần đông cử tọa là những người lần đầu tiên trong đời được nghe pháp thoại! Những bài pháp thoại hữu ích và lành mạnh! Sau một buổi pháp thoại, có một học giả Việt nam được nhiều người ngưỡng mộ, cho rằng ông từng nghĩ đạo Phật là đạo tu khổ hạnh, là hành xác, là đè nén tâm thần! Nhưng quan niệm của ông thay đổi sau khi nghe tôi giảng làm cách nào đem hạnh phúc cho chính ḿnh, chính đời ḿnh.

Những ǵ chúng tôi chia sẻ đă đáp ứng tức khắc vào các nhu cầu sâu thẩm nhất của quần chúng. Mắt họ mở to! Tâm họ rạng rở! Lần đầu tiên trong lịch sử, bài pháp thoại tại Hà nội đă xé tan màn ảo tưởng, đă nói thẳng với giới lănh đạo cả nước và đă chỉ đường cho phương hướng mới. Bài pháp thoại đă thay đổi đời họ, và thay đổi hướng nh́n vào tương lai. Cho dù có vạn người nghe đi nữa, tầm lợi ích không thể lớn hơn thế ấy.

Trong chuyến đi, có nhiều hạt giống được vun trồng lần đầu tiên vào mảnh đất mầu mỡ.

Một khi được gieo, hạt sẽ nẩy nở thành cây vững khoẻ và sẽ tươi đẹp vô cùng. Các phật tử đi nghe pháp thoại cho biết là họ rất hạnh phúc v́ cái họ cần là một đạo Phật thực tiển, giúp họ giải quyết những khó khăn hàng ngày, những trăn trở thực tại. Ở Trung hoa và ở Việt nam ngày nay, theo đạo Phật đồng nghĩa với cầu nguyện, dâng hương, mộ đạo hết ḷng hết dạ. Chỉ một số ít hiểu được cái cốt lỏi quan trọng nhất của đạo Bụt, đó là giác ngộ và tuệ giác. Nhiều vị Hoà thượng, Thượng tọa, Sư bà đă từng 60,70 tuổi đạo, nay có cơ duyên được xúc chạm lần đầu tiên niềm hạnh phúc của Pháp. Họ thấy được tuệ giác thực sự. Chúng ta phải khen ngợi sự cố gắng của họ đă giữ ǵn đạo sống c̣n và truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Tuy nhiên, giáo lư họ dạy khô khan quá. Thế hệ thanh thiếu niên ngày nay không thực sự hài ḷng với cách dạy đạo bằng lư thuyết xưa cũ nữa. Nhưng sau khi nghe chúng ta giảng đạo Bụt theo phương pháp mới, họ bắt đầu phục hồi niềm hoan lạc và đầy ấp nhiệt t́nh trở lại.

 

Chính quyền gây nhiều khó khăn

 

Có một nhóm trong chính quyền, họ có đầu óc bức bách, sợ hải, kỳ thị. Họ tạo ra không ít căm giận và phân hóa. Họ không muốn Thầy về, nhưng họ chịu để Thầy về chỉ v́ có sức ép từ bên ngoài muốn thấy nhân quyền được cải thiện. Họ chỉ muốn Thầy giảng đạo cho các bô lăo mà thôi.

Nhiều công an, cảnh sát thuộc bè cánh đó. Đây là thí dụ. Khi Thầy giảng ở chùa Thiên Mụ, một trong những chùa đẹp nhất nước, có 9000 người tham dự, dù ngồi dưới mưa!

Nhưng công an và các chức sắc địa phương đă ra lệnh cho thầy cô các trường học phải tổ chức học sinh đi cắm trại ngày đó, như là một cách ngăn chận học sinh tham dự buổi giảng pháp! Xăo thuật tương tự như thế đă lập lại từ nam ra bắc, do nhóm ấy trong chính quyền. Nếu có quá nhiều người tham dự hơn số họ dự liệu, th́ họ t́m cách cắt giảm chỉ tiêu! Trong quá khứ, chính quyền đă từng bức bách tăng sĩ và cư sĩ, không cho phép hội họp, không được tự do đi lại. Lực lượng đặc nhiệm, gọi là “bảo vệ tôn giáo”, đă từng gây không biết bao là xúc phạm và phân hoá trong hàng ngủ cộng đồng Phật giáo.

Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều người muốn Thầy về, họ cho sự có mặt của Thầy sẽ đem lợi lạc cho đất nước. Họ hi vọng nhóm chống đối sẽ thấy Thầy không phải là một đe dọa, mà chỉ giúp cho Việt nam thôi. Sự hiện diện của Thầy sẽ làm giảm bớt sợ hăi và kỳ thị trong họ. Tôi biết rằng nếu tôi về với một trái tim trong sáng và đoan chính, chúng tôi có thể tiếp xúc thẳng với quần chúng và cho họ niềm tin. Nhưng tôi biết điều đó khó khăn lắm! Cũng có nhiều người trong chính quyền ủng hộ Thầy hết ḿnh, nhưng họ không muốn xuất đầu lộ diện, v́ sợ bị tác hại đến địa vị.

 

Ở Huế, B́nh định và ở Sài g̣n, chúng tôi cũng gặp khó khăn tương tự. Có cả thảy 8 buổi nói pháp cho nhân viên chính phủ, cho giới chính trị, và cho các nhân vật cao cấp mà chúng ta không hề được phép tiếp xúc với. Họ mở ḷng ra hết sức tốt đẹp. Sau cùng tôi gặp Thủ Tướng Phan văn Khải và tôi đề nghị 6 điểm cho chế độ công sản xem xét và thực tập. Tôi gợi ư rằng người cộng sản Việt nam cũng có gốc rễ bám chặt vào văn hoá Việt nam, và Phật giáo đóng một vai tṛ quan trọng trong văn hoá. Phật giáo đă h́nh thành con người Việt nam và đă đóng một vai tṛ quyết định trong các triều đại vua chúa ngày xưa khi đất nước thống nhất. Phật giáo đă du nhập vào Việt nam từ 2000 năm qua. Phật giáo không phải chỉ là một tôn giáo, nó c̣n là tinh anh thâm nhập vào huyết quản của người Việt chúng ta. Người Công giáo Việt và người Cộng sản Việt cũng có Phật chất bên trong theo tinh thần đó.

 

Thắp nhang dâng lên bàn thờ tổ tiên trong nhà, bạn là một phần của văn hoá Việt, đó không phải là mê tín. Đó là truyền thống của cái tuệ giác hiểu biết rằng anh có gốc rễ trong tổ tiên anh. Đạo Bụt không phải là một cái ǵ ngoài anh. Nó nằm ngay trong anh. Và mỗi người trong chúng ta ai cũng nên có chiều hướng tâm linh. Đạo Phật không nên bị khống chế, không nên bị theo dơi hay ḍ xét. Chúng ta phải để người dân có tự do tối thiểu.

 

Có nhiều văn hoá khác nhau đă từng du nhập vào nước ta, trong đó có đạo Khổng, đạo Lăo và đạo Phật. Rồi chúng hài ḥa vào nhau để trở thành những thành tố của một truyền thống văn hoá chung, một gia tài đạo đức chung của đất nước. Viên chức chính quyền xuất thân là Phật tử phải biết làm mới đạo Bụt và biết áp dụng tuệ giác đạo Bụt để giải quyết thỏa đáng các nhu yếu của quần chúng. C̣n những người lănh đạo xứ sở cần phải đi tiên phong và đáp ứng tức khắc các nhu cầu quần chúng thay v́ dùng giáo điều để cai trị. Nếu hai phía đều làm tốt được như vậy th́ mọi người chung lưng chung sức làm việc cho tương lai một Việt nam tươi sáng.

 

Nếu bạn la to chống đối họ, th́ đó chỉ là chiến tranh, sẽ không c̣n truyền thông nào hết. Chúng tôi có thể bàn thảo những khó khăn, những trở ngại với chính quyền v́ chúng tôi không muốn kết án hay phán xét họ. Thay vào đó chúng tôi mở cánh cửa của truyền thông và của phát triển.

Bởi vậy cho nên quần chúng trong nước cần nên suy gẫm, và cần chuyển hóa. Giới cư sĩ và tăng sĩ có thể cần 5 năm hay lâu hơn để canh tân đạo Bụt, t́m hiểu và thực tập các pháp môn mới. C̣n phía chính quyền có thể thời gian chuyển đổi sẽ lâu hơn nhiều, thử chờ xem!

 

Đi trong Tự do

 

Sau 39 năm lưu đày xa đất mẹ, niềm mong ước thực sự và duy nhất của tôi là đi bằng những bước đi thực sự cho tự do. Nhưng nếu tôi chưa sẵn sàng th́ các bước chân của tôi sẽ không có tự do. Nhiều năm qua, khi tôi đi khắp nơi trên thế giới, tôi tự huấn luyện ḿnh đi sao cho có an lạc. Bước đi trên đất mẹ cũng giống bước đi ở đây trên đất của nước Pháp. Và ở đây tôi cũng c̣n bước đi như tôi bước trên đất Việt nam. Tất cả đều tùy thuộc ở chỗ là tôi đă sẵn sàng chưa? Một bước tự do ở Việt nam cũng là một bước tự do ở Âu châu hay Mỹ châu. Bởi vậy đất mẹ của tôi cũng theo bước chân tôi về nhà. Không hề có sự phân biệt không gian. Với từng bước chân, bạn tiếp xúc với nhà bạn ở khắp chốn.

Ở Việt nam người ta than với tôi: “Thầy, Thầy vừa về sau 40 năm ly hương và Thầy chỉ ở lại có ba tháng. Sao Thầy không ở lại đây với chúng con lâu hơn?” Như vậy họ c̣n kỳ thị. Nếu tôi không ở Âu châu trong 40 năm th́ ba tháng có giá trị ǵ đáng kể đâu? Qua không gian và qua thời gian, chúng ta nh́n thấy và hiểu nhiều về con người và đất nước Việt. Bởi vậy khi trở về, ḿnh thực sự gần Việt nam hơn nữa và có cơ hội hiểu thấu đáo hơn nữa.    

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/01/06