Thời Sự Y Học

BS Nguyễn Văn Thịnh

         

1/ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH VÀ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG : MỘT MỐI LIÊN HỆ CHẶT CHẼ :

           Tỷ lệ mắc phải ung thư đại tràng hai lần nhiều hơn nơi các bệnh nhân bị bệnh động mạch vành. Sự liên kết này càng rơ nét hơn nơi những người có hợp chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) và nơi những người nghiện thuốc lá.

        « Dây liên hệ giữa bệnh động mạch vành và ung thư đại tràng có lẽ là một t́nh trạng viêm măn tính.Thật vậy sự viêm nhiễm này đóng một vài tṛ trung tâm trong sự phát sinh bệnh xơ vữa động mạch ( athérosclérose) cũng như trong sự phát sinh bệnh ung thư đại tràng ». Annie On On Chan thuộc đại học Hồng Kông đă viết như vậy trong báo Jama.

        Annie On On đă tuyển mộ 400 bệnh nhân đến để chụp động mạch vành (angiographie des coronaires) vừa đồng thời hỏi xem những người này có bị bệnh ung thư đại trực tràng hay không. Các bệnh nhân đă được chia thành hai nhóm : nhóm những người được chụp động mạch vành cho thấy một trong các động mạch vành quan trọng bị co khít lại ít nhất 50% (206 bệnh nhân) và nhóm những người khác (208 bệnh nhân). Sau đó những bệnh nhân này được so sánh với một nhóm kiểm chứng gồm 207 người.

       Trong số những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, 34 % dường như mắc bệnh ung thư đại trực tràng và 18% ung thư ở giai đoạn tiến triển.Trong nhóm không bị bệnh động mạch vành, những tỷ lệ này là 18,8% và 8,7% trong khi đó trong nhóm kiểm chứng những tỷ lệ này là 20,8% và 5,8%.

       Từ những con số này, những tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại tràng là 4,4% nơi những người bị bệnh động mạch vành, 0,5% nơi những người không bị bệnh này và 1,4% nơi những người chứng. Ở những bệnh nhân bị bệnh tim có một hợp chứng chuyển hóa và/hoặc nghiện thuốc, tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại tràng lại càng cao hơn.( LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2007)

 

2/ NHỮNG HIỆU LỰC CỦA TỎI TRONG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

        Một duyệt xét có hệ thống tài liệu y học có khuynh hướng chứng tỏ mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ tỏi và ung thư đại trực tràng.

         Những yếu tố môi trường đóng một vai tṛ quan trọng trong sự tiến triển của ung thư đại trực tràng và cách ăn uống được xác định như là một trong yếu tố chủ yếu để pḥng ngừa ung thư này. Một nhóm nghiên cứu người Úc đă thực hiện một duyệt xét có hệ thống các tài liệu từ mười năm qua để đánh giá hiệu quả của tỏi trên loại ung thư này. Các nhà nghiên cứu báo cáo trên Journal of Nutrition rằng một thử nghiệm có kiểm tra đă chứng tỏ rằng ở những bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng dùng những trích chất của tỏi hóa già (ail vieilli) có sự thu giảm 29% (đáng kể về mặt thống kê) đồng thời về kích thước và số lượng u tuyến (adénome) của đại tràng. 5 trong số 8 công tŕnh nghiên cứu gợi ư một tác dụng bảo vệ của việc tiêu thụ nhiều tỏi sống hoặc nấu chín và 2 trong 8 công tŕnh nghiên cứu gợi ư một tác dụng bảo vệ phần dưới của đại tràng (colon distal). Một phân tích méta 7 trong các nghiên cứu này xác nhận mối liên kết nghịch này với nguy cơ mắc phải ung thưgiảm 30% . 11 công tŕnh nghiên cứu trên động vật đă chứng tỏ một hiệu quả chống ung thư đáng kể của tỏi và (hoặc) các hợp chất hoạt tính.Vậy có những bằng cớ khoa học đồng nhất phát xuất từ những thử nghiệm nghiên cứu trên động vật, ghi nhận những hiệu quả bảo vệ của tỏi trên ung thư đại trực tràng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2007)

 

3/ RƯỢU LÀM DỄ UNG THƯ VÚ

       Một công tŕnh nghiên cứu vừa được tŕnh bày mới đây ở Barcelone đă chứng tỏ rằng, so sánh với những phụ nữ uống dưới một ly đồ uống có chất rượu (boisson alcoolisée) mỗi ngày, th́ các bà uống một đến hai ly mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư vú gia tăng 10%. Nếu uống trên 3 ly mỗi ngày th́ nguy cơ gia tăng 30%, bất kể đó là loại rượu nào. 

        Dù loại ruợu uống thuộc loại nào đi nữa (rượu vang, bia hay rượu mùi ), chính lượng tuyệt đối rượu được tiêu thụ xác định nguy cơ bị ung thư vú. Uống 3 lần hoặc hơn đồ uống có chất rượu mỗi ngày tương ứng với một nguy cơ gây nên do tiêu thụ một gói thuốc lá mỗi ngày.

       Những nghiên cứu dịch tễ học đă phát hiện vai tṛ của rượu trong sự phát sinh ung thư vú.Tuy nhiên măi đến ngày nay, chúng ta chỉ có ít dữ kiện về tác dụng của bản chất của đồ uống được tiêu thụ.
      Công tŕnh nghiên cứu đă chứng tỏ rằng bản chất của đồ uống có chất rượu không làm thay đổi nguy cơ phát triển ung thư vú.Trái lại các phụ nữ uống một hoặc hai ly rượu mỗi ngày sẽ làm gia tăng nguy cơ bị ung thư vú lên 10% so sánh với các phụ nữ uống dưới một ly mỗi ngày. Nguy cơ sẽ gia tăng 30% nơi những phụ nữ uống 3 ly rượu mỗi ngày.Việc gia tăng nguy cơ bị ung thư vú này có thể được so sánh với sự gia tăng nguy cơ gây nên bởi tiêu thụ một gói thuốc lá mỗi ngày hoặc hơn.Từ đó các tác giả kết luận rằng đó là một lư do nữa để khuyến khích các phụ nữ giảm hoặc ngừng tiêu thụ các đồ uống có chất ruợu.( LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2007)

 

4/ BỆNH TĂNG NHĂN ÁP VÀ ALZHEIMER

         Sự gia tăng áp suất trong nhăn cầu không phải là nguyên nhân duy nhất trong sự xuất hiện bệnh tăng nhăn áp (glaucome).Trong lúc nghiên cứu trên chuột , các nhà nghiên cứu châu Âu đă chứng tỏ rằng protéine beta-amyloide ( tạo thành những mảng (plaques) trong năo bộ của những người bị bệnh Alzheimer) cũng có can dự trong việc phá hủy các tế bào có nhiệm vụ chuyển thông tin thị giác từ mắt đến năo bộ. Điều tốt hơn nữa là những điều trị nhằm làm chậm lại sự tích tụ của protéine này trong các tổ chức năo bộ dường như làm giảm áp suất nhăn cầu nơi các chuột bị bệnh. Đó là trường hợp của thuốc Bapineuzumab, được phát triển bởi các pḥng bào chế dược phẩm Elan và Wyeth.Thuốc này sẽ là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III trong những tháng sắp đến.(LA RECHERCHE 10/2007)

 

5/ TỶ LỆ SỐNG SÓT CỦA  BỆNH UNG THƯ TĂNG CAO Ở CHÂU ÂU.

            Theo công tŕnh nghiên cứu Eurocare-4, được tiến hành trong 23 nước châu Âu, tỷ lệ sống sót (taux de survie) trung b́nh sau 5 năm bị bệnh ung thư được cải thiện.Trong khi tỷ lệ này vẫn thấp đối với các ung thư tụy tạng và gan (10%) hay phổi (dưới 13%), th́ từ nay tỷ lệ sống sót đạt được 54% đối với ung thư đại trực tràng (cancer colorectal), 76% đối với ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) và 79% đối với ung thư vú.Tỷ lệ này vượt quá 90% đối với ung thư tinh hoàn (cancer des testicules). Na Uy,Thụy Điển và Phần Lan có những tỷ lệ sống sót cao nhất ( 57% so với tỷ lệ trung b́nh 52% của châu Âu). Anh, Đan Mạch và các nước Đông Âu có tỷ lệ thấp nhất.( LA RECHERCHE 10/20007)

 

6/ ALZHEIMER : MỘT BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 3 ?

           Việc mất trí nhớ được quan sát trong bệnh Alzheimer có thể là do sự đề kháng đối với insuline (insulinorésistance) của các tế bào thần kinh.

          Cách nay vài năm, các nhà nghiên cứu của Northwestern University’s Feinberg School of Medicine ở Chicago đă tự hỏi phải chăng chúng ta đă lầm lẩn về thủ phạm của bệnh Alzheimer.Thay v́ các mảng amyloides, phải chăng các thủ phạm là những phân tử cực kỳ nhỏ gọi là ADDL(amyloid beta-derived diffusible ligands). Các nhà nghiên cứu đă khám phá rằng năo bộ của những người bị Alzheimer chứa các protéine độc này đến 70 lần nhiều hơn so với năo bộ của những người lành mạnh.
          Mặc dầu thuộc cùng họ với các sợi nhỏ amyloide, ADDL có những tính chất rất khác. Dễ hoà tan và bé nhỏ hơn nhiều, ADDL có thể phân tán qua các mô của năo bộ đến tận các khớp thần kinh (synapses) được biệt hoá trong việc cấu tạo trí nhớ. Các khớp thần kinh này một khi bị tắc nghẽn sẽ không có thể hoạt động đúng đắn được nữa. Nhóm nghiên cứu đă khám phá rằng hệ thống tín hiệu (signalisation) của insuline nơi năo bộ, thiết yếu trong việc ghi nhớ (mémorisation) đă không c̣n hoạt động nữa trong bệnh Alzheimer. Các nghiên cứu khác đă chứng tỏ rằng những nồng độ của insuline và các thụ thể (récepteurs) của chúng thấp hơn trong năo bộ của những bệnh nhân bị Alzheimer.

CÁC DỮ KIỆN MỚI

        Một công tŕnh nghiên cứu mới của nhóm nghiên cứu của Northwestern University đă nhấn mạnh khái niệm mới nảy sinh, quan niệm bệnh Alzheimer như là bệnh đái đường loại 3.

        Các kết quả được công bố trong FASEB, một tài liệu xuất bản của Federation of American Societies for Experimental Biology, « có thể giúp các nhà nghiên cứu xác định những khía cạnh nào của những thuốc đă có trong điều trị những bệnh nhân bị bệnh đái đường có thể bảo vệ các neurones chống lại ADDL và cải thiện hệ thống tín hiệu của insuline nơi những bệnh nhân Alzheimer.

         Insuline quan trọng đối với trí tuệ cũng như đối với thân thể. Ở năo bộ, insuline và các thụ thể ở khớp thần kinh (récepteurs synaptiques) của chúng là trọng yếu cho việc học tập và trí nhớ. Các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng bệnh Alzheimer ít nhất có thể một phần gây nên bởi sự đề kháng đối với insuline năo bộ nhưng họ không biết quá tŕnh này được khởi xướng như thế nào.

ADDL CHỐNG LẠI CÁC THỤ THỂ CỦA INSULINE
       « Chúng tôi đă t́m thấy rằng sự nối kết của các ADDL ở các khớp thần kinh (synapses) ngăn cản sự tích tụ của các thụ thể của insuline ở nơi chúng cần phải tích tụ trong những khớp thần kinh được biệt hoá trong việc cấu tạo trí nhớ. ». Giáo Sư William Klein, người lănh đạo nhóm đă nói như vậy. « Trái lại, chúng lại tích tụ nơi chúng được sản xuất ra, trong thân tế bào, gần nhân , nơi mà insuline không thể đến được. Khám phá này là bằng chứng về mặt phân tử đầu tiên về sự đề kháng đối với insuline của những tế bào thần kinh trong bệnh Alzheimer »

        Trong giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer, ADDL tích tụ và ngăn cản trí nhớ, trong một quá tŕnh có lẽ c̣n có thể hồi phục được. Trong một nghiên cứu trước đây, GS Klein và các cộng sự viên đă nhận thấy rằng các ADDL liên kết rất đặc hiệu với các khớp thần kinh, dẫn đến sự hư hại chức năng của khớp thần kinh và những biến đổi về thành phần và h́nh thái của khớp thần kinh.( LE GENERALISTE   11/10/2007)

 

7/ GIROLAMO FRACASTORO

           Girolamo Fracastoro, người đă đặt tên bệnh giang mai là syphilis mà chúng ta biết ngày nay, sinh năm 1478 ở Vérone ( Ư) trong một gia đ́nh gồm các thầy thuốc nổi tiếng. Ông học và tốt nghiệp y khoa ở đại học Padoue ; tại đây ông được giảng dạy bởi nhà cơ thể học nổi tiếng Pietro Pomponazzi..

         Fracastoro là một tấm gương về những vĩ nhân có học thức vạn năng uyên bác, sản phẩm của thời Phục Hưng (Renaissance). Không những là người thầy thuốc được công nhận, ông c̣n là một nhà thơ có tài năng và là một nhạc sĩ điêu luyện. Ông cũng quan tâm không những địa lư học mà c̣n cả toán học hoặc thiên văn học và ngoài ra ông kết bạn và chia sẻ những tư tưởng cách mạng với Nicolas Copernic.Trên b́nh diện y học, ông nổi bậc bởi kiến thức về các bệnh lây nhiễm (maladies contagieuses). Chính Girolamo Fracastoro là người đầu tiên dùng thuật ngữ syphilis trong tác phẩm của ông nhan đề là Syphilis sive morbus gallicus (La Syphilis ou mal français). Trong bản văn này, người chăn cừu Syphilis, nhân vật có lẽ phỏng theo Sypilus, một trong những nhân vật của tác phẩm Métamorphoses của Ovide, đă bị mắc phải chứng bệnh này v́ đă lăng mạ thần Apollon. Năm 1546, ông công bố De contagione et contagiosis morbis. Đây là tác phẩm được các thầy thuốc đương thời dùng làm sách để tham khảo về các bệnh lây nhiễm trong nhiều thế kỷ.Trong tác phẩm này ông đă mô tả một cách hết sức chính xác khoa học những trận dịch bệnh lớn vào thời đại của ông : bệnh sốt chấy rận (typhus), dịch hạch và giang mai. Ông là người đầu tiên phân biệt được 3 phương thức truyền bệnh : lây nhiễm trực tiếp do tiếp xúc, lây nhiễm gián tiếp qua trung gian các tác nhân như quần áo và lây nhiễm từ xa.  ( SEMPER 10/2007)

 

8/ TỪ CHRISTOPHE COLOMB ĐẾN LENINE

          Suốt trong quá tŕnh lịch sử, bệnh giang mai (syphilis) đă chẳng nể nang ǵ đến các danh nhân.Trong khi căn bệnh được xác nhận đối với vài nhân vật nổi tiếng trong số này th́ đối với những nhân vật khác đó chỉ là tin đồn, mặc dầu thường dựa trên cơ sở khoa học.

          Christophe Colomb mất ngày 20 tháng 5 năm 1506.Từ lâu người ta tin rằng Kha Luân Bố chết là do một sự kết hợp của bệnh sốt chấy rận (typhus), bệnh tim và hợp chứng Reiter.Vào đầu thế kỷ qua,Thomas Parran, một trong những người gây dựng nên  Tuskegee Syphilis Study và là bí thư của bộ y tế trong chính phủ của tổng thống Roosevelt, đă đưa ra giả thuyết rằng sự việc nhà thám hiểm vĩ đại Christophe Colomb thật ra đă chết v́ hậu quả của bệnh giang mai là điều không phải là không thể xảy ra. Dầu sao Colomb đă có vài dấu hiệu đặc trưng của mal napolitain. Bệnh giang mai đă thật sự gây nhiều tàn phá trong giới nghệ sĩ. Các văn sĩ Charles Baudelaire (1821-1867), Karen Bixen (1885-1962), Heinrich Heine (1797-1856) và  Guy de Maupassant (1850-1893), các họa sĩ Paul Gauguin (1848-1903), Edouard Manet (1832-1883) và Henri de Toulouse-Lautrec (1864-1901), các nhà soạn nhạc Franz Schubert (1797-1828), Robert Schumann (1810-1856) và Bedrich Smetana (1824-1884) tất cả đều nằm trên danh sách của những người bị lây nhiễm bởi bệnh này.Từ tsar hoàng nước Nga Ivan le Terrible (1530-1584) đến nhà độc tài Ouganda Idi Amin Dada (1928-2003) hay Benito Mussolini (1883-1945) và Lénine (1870-1924), tai ương  cũng đă không nể nang ǵ các nhà lănh đạo lớn của thế giới này. Một tin đồn dai dẳng vẫn cho rằng Adolf Hitler có thể đă bị lây nhiễm bởi bệnh giang mai lúc chung chạ với một cô gái điếm người Do thái ở Vienne. ( SEMPER 10/2007)

 

9/ TÀI-CHI CHỐNG TÉ NGĂ

       Tài Chi làm giảm đáng kể nguy cơ té ngă nơi người già. Đó là kết luận của một công tŕnh nghiên cứu được tiến hành trên hơn 700 người già với tuổi trung b́nh 70. Sau 4 tháng luyện tập tài chi một giờ mỗi tuần, nguy cơ bị té ngă 30% đến 40% thấp hơn so với những người chứng ở cùng lứa tuổi ( SCIENCES ET AVENIR 10/2007)

 

10/ KHỎE MẠNH MẬP MẠP

        Một phụ nữ người Sibérie 43 tuổi đă sinh ra đời một bé gái nặng 7,750 kg. Nadia, tên của đứa con thứ 12, được sinh bằng mổ dạ con ( césarienne) trong một nhà hộ sinh ở vùng Altai. « Tôi đă ăn tất cả. V́ chúng tôi không có đủ tiền để mua những đồ ăn đặc biệt, nên tôi đành phải ăn khoai lang, ḿ dẹt ( nouilles) và cà chua ». Tatiana Barabanova, bà mẹ của Nadia đă tuyên bố như vậy.Theo Guinness về các kỷ  lục, một bé trai nặng 10,2kg đă được sinh ra ở Italie năm 1955 và một bé trai khác nặng 10,8 kg đă chào đời ở Hoa Kỳ năm 1879 nhưng đă không sống lâu hơn 11 giờ sau đó. ( GENERALISTE 4/10/2007)

 
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
9/9/2007

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 10/18/07