DANH NHÂN VIỆT NAM:

TRẦN NHÂN TÔNG

(1247-1308)

Minh quân và đạo sĩ

Nguyễn Đức Hiệp

 

"Nhà ta vốn là dân hạ bạn,

  đời đời ưa chuộng việc hùng dũng..”

(Trần Nhân Tông)

 

Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lănh đạo nước trong những t́nh huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lănh đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ reo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.

Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đă cùng tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ư kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính và gần dân mà c̣n là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.

 

1- Con người và sự nghiệp

 

(a)    Bản chất con người

Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ư thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: "Nhà ta vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng... thích h́nh rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc." Tục xâm h́nh rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông th́ phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm h́nh rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này người ta chẵng những quan niệm xâm h́nh rồng để khi xuống nước không bị giao long làm hại mà c̣n ngầm nhắc nhở nhau về một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.

Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là "thái long" tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, th́ mỗi người dân Đại Việt c̣n thích chữ "Nghĩa di quyền phụ, h́nh vu báo quốc" (V́ việc nghĩa mà liều thân, v́ ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một ḷng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.

 

(b) Tư cách lănh đạo

Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước, ḷng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lăo, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.

Sự hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binh mă ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến B́nh Than có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nh́n ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy than theo ḍng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:

- Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?

Rồi lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy không chịu đến mà chỉ trả lời rằng:

- Lăo già này là người bán than, có việc ǵ mà vua gọi đến!

Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngạc nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:

- Thế th́ đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời ta như thế!

Rồi sai nội thị đi gọi: lần này "lăo ta" chịu đến. Vua quan nh́n ra th́ đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, v́ nóng tính và trót phạm lỗi với triều đ́nh nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông t́nh cờ lại hóa hay

- Thế nào, liệu khanh c̣n đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.

Nghe thấy hai chữ "đánh giặc", mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:

- Dạ, thần c̣n đủ sức. Mấy năm nay vung ŕu đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra c̣n rắng rỏi hơn xưa.

Nhân Tông cười vui vẽ và ngợi khen:

- Quả là gan Trần Khánh Dư c̣n bền hơn sắt đá. Được rồi c̣n phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?

Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước. Thế là triều đ́nh lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra pḥ vua giúp nước.

Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một người lănh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.

 

          (c) Cách cư xử người

Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao phong ba băo táp, ông lănh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ư đến t́nh trạng của quân dân.

Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quoc Tuấn v́ kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân ḿnh thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:

- Thế giặc to như vậy, mà chống nó th́ dân sự tàn hại, hay là trẫm hăy chịu hàng đi để cứu muôn dân?

Hưng Đạo Vương tâu rằng:

- Bệ hạ nói câu ấy th́ thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xă ­tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hăy chém đầu tôi đi đă, rồi sau sẽ hàng.

Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.

Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mă Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết ḷng với chúa, nên xúc động mới than rằng: "Làm bầy tôi nên như người này" rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.

Khi bóng quân Mông Cổ không c̣n trên đất Nam, triều đ́nh bắt được một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai ḷng, có giấy má đi lại với chúng. Đ́nh thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giăi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên ḷng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bị trị tội.

 

           (d) Trị nước

Trách nhiệm giữ nước đă xong, Nhân Tông c̣n phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua không c̣n cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đă phải viết: "đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ ...".

Hậu quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến, Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá th́ tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ khác th́ xét miễn giảm theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nh́n xa này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đă được kể lại trong quyển "Long thành dật sự" như sau:

Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành tŕ. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: "Việc sửa lại thành tŕ không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đ́nh phải làm ngay không thể chậm trễ được là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một ḷng hướng về triều đ́nh, xuất tài, xuết lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đ́nh chống nhau với giặc. Nay nhà vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ư ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ t́nh trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức ḷng càng quy hướng về triều đ́nh hơn nữa. Người xưa đă nói: "chúng chí thành thành" nghĩa là ư chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử lư."

Vua Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đă không nắm mà nguy hơn nữa là đă làm ngược lại.

Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm h́nh viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :

            " Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế! "

Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện

 

          (e) Trung hiếu và gia huấn

Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các bề trên ông đều hết ḷng đáp nghĩa. Ông thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn c̣n để lại trong sử sách.

 

Trượng vệ thiên môn túc

Y quan thất phẩm thông ..

(Qua ngh́n cửa chào nghiêm túc,

Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)

 

Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rượu và lẽn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. V́ thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.

Tháng năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoănh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?

Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học tṛ tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.

 

2- Xuất thế và thơ văn

Sau khi quân xâm lăng Mông Cổ không c̣n dám có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đă là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đ́nh đă xong giờ đến việc ḿnh và đời sống tinh thần của bản thân.

Ông cùng các đệ tử của ḿnh lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là vị "tổ" đă có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ v́ chỉ riêng ở Việt Nam mới có.

Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hình thái nữa có nữa không, nữa thực nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta, khi đốn ngộ th́ ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh b́nh của quê hương ḿnh. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền của ḿnh, ông đă xúc cảm làm một bài thơ tựa đề "Thiên Trường văn vọng"

 

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lư quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền

   (Xóm trước thôn sau tựa khói lồng

Bóng chiều dường có lại dường không

Mục đồng sáo vẵng trâu về hết

C̣ trắng từng đôi hạ xuống đồng)

 

Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đă có từ nghìn năm nay trong đời sống nhân dân, và đă tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.

Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua quan đến nhân dân một ḷng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giă tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu giữa con người. Ông đă nhìn xa và muốn thắt chặt t́nh thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đă hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đă cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đă tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dân tộc.

Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.

Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quư Đức, Phủ Long Hưng (Thái B́nh). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dăn, đă đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo rằng: "Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế này th́ làm thế nào ?". Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Tŕ gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giăn người, linh cửu mới rước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát văn, giọng bi ai, nghe rất cảm động ... Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái B́nh, Long Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ cuối cùng.

Một ngôi sao sáng đă vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không c̣n và đă tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng hồn ông vẫn c̣n trong ḷng dân tộc Việt.

 

Lời bạt:

Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị v́ vừa là một hiền triết. Văn minh La Mă có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1) không kém sâu sa. 

Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không c̣n, nhưng dư âm vẫn c̣n vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Th́ Nhậm mong tái lập lại ḍng thiền này với tác phẩm  “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục ḍng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đă được khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đăi yến, nơi linh cửu vua tạm quàn, h́nh dung cảnh quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đă có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng Nhân Tông.

 

(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông.

 

Nguyễn Đức Hiệp

 

Tham khảo

(1)   Đại Việt Sử Kư toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xă Hội Việt Nam, 1993

(2)   Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990

(3)   Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận,

 http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html

 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 10/20/07