Tam Pháp Ấn (tt)

THÍCH ĐỨC THẮNG

 

2/ Các pháp vô ngă (skt: nirātmāna sarva-dharmā), c̣n gọi là các pháp vô ngă ấn, hay gọi tắt là vô ngă ấn, nói chung là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi cùng vô vi đều không có ngă, v́ chúng sinh không hiểu rơ chúng là không có ngă nên đối với tất cả các pháp cưỡng lập có chủ thể, có bản ngă, có cá thể, rồi chấp vào chúng cho là thật hữu, thường trụ nên càng ngày chúng ta càng nuôi lớn bản ngă vô minh tà kiến này; cho nên đức Đạo sư mới nói là không có ngă, với mục đích là phá chấp ngă của chúng ta. Nói tóm lại, chư pháp ở đây chỉ cho các pháp hữu vi và vô vi. Chúng không có bất cứ một thực thể cá biệt nào hết, chúng hiện hữu được là nhờ nhân duyên mà sinh ra, hỗ tương nhau mà hiện hữu tồn tại. Chúng thật không có tự thể hay thể tánh nào ngoài một sự hiện hữu giả hợp khi duyên hội đủ. Cho dù pháp hữu vi có tác dụng, nhưng chúng không tồn tại măi măi; riêng pháp vô vi tuy là thường hằng vĩnh viễn, song chúng lại không có tác dụng.

Do đó, trên mặt tướng th́ sự hiện hữu của chúng là pháp giả hợp, nhưng về mặt tánh chúng là không tánh, rốt cùng tất cả đều là pháp vô ngă. Các pháp vô ngă là một trong ba pháp ấn, hay c̣n gọi là chư pháp vô ngă ấn. Mục đích trọng yếu của giáo nghĩa này là nhằm thẩm định những kinh điển hiện tồn có đúng với giáo nghĩa của đức Phật hay không? Và cuối cùng dùng nó để ấn chứng. Như kinh Trường A-hàm quyển 1, Đ. 1, trang. 0009b, đức Phật dạy:

 

“Nhược học quyết định pháp

Tri chư pháp vô ngă,

Thử vi pháp trung thượng,

Trí tuệ chuyển pháp luân…”

(Nếu muốn học pháp quyết định, Phải biết các pháp vô ngă.

Ở đây là pháp trung, thượng, Trí tuệ quay bánh xe pháp…)

 

Hành giả khi học Phật là phải học pháp quyết định, nghĩa là phải biết một cách chân thật và chắc chắn rằng tất cả các pháp là vô ngă. Và cũng trong kinh Tạp A-hàm 11, Đ. 2, trang 0072c, đức Đạo sư dạy:

“Tỳ-kheo, đối với tất cả hành không, tâm không phải quán sát chúng một cách hoan hỷ.

Đối với hành pháp không (mà cho là) pháp thường c̣n, vĩnh viễn, tồn tại, không biến dịch th́ chúng không có ngă, và sở hữu của ngă. Như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư (kết hợp với lục trần) các pháp nhân duyên sinh ra ư thức. Ba điều kiện này ḥa hợp nhau sinh xúc; xúc câu sinh ra thọ, tưởng, tư. Các pháp vô ngă này là vô thường, cho đến không có ngă và sở hữu của ngă.” Ở đây, hành giả chúng ta luôn luôn phải hiện quán về tâm và hành Không này. Sự hiện hữu của chúng là một giả hợp do nhân duyên mà có được nên tướng của chúng là giả hợp, tánh của chúng là không. Nói chung đối với tâm và vật, chúng đều là vô ngă, không trường tồn, luôn luôn biến đổi không thật có.

Theo luận Đại Trí Độ 20, Đ. 25, trang. 0206b th́: “Quán các pháp vô ngă, ngă sở không, các pháp từ nhân duyên ḥa hợp phát sinh, không có tác giả, không có thọ giả cho nên gọi là Không môn.” Không môn này chính là một khoa, một phạm trù dùng để phán quyết bộ mặt thật của các pháp hiện hữu được là nhờ vào nhân duyên ḥa hợp giữa các pháp mà sinh ra và diệt đi tùy thuộc vào duyên đủ điều kiện này; do đó không có người tạo ra nó, và cũng không có người nào đứng ra nhận lănh (chịu trách nhiệm) về sự hiện hữu do nhân duyên đó, cho nên tạm gọi chúng là cửa không. Cũng cùng với phương pháp hiện quán này, kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát-nhă sớ 2, Đ. 33, trang.

0259c dạy: “Quán các pháp vô ngă, sở hữu của ngă, các pháp này từ nhân duyên ḥa hợp mà hiện hữu, chúng không phải là người tạo tác, cũng không phải là người nhận lănh.” C̣n theo Nhiếp Đại Thừa luận thích th́ không những tất cả các pháp chỉ là vô ngă không thôi, mà nếu hành giả nào thông đạt các pháp là vô ngă th́ trí b́nh đẳng phát sinh và thấy rơ các pháp đều không có tự tánh.

V́ trí b́nh đẳng phát sinh nên giữa các hữu sinh tử và Niết bàn được coi như là một, không phải hai, không phải khác về mặt trí (tánh). Cho nên giữa sinh-tử và Niết-bàn không có bất cứ một sai biệt nào. Nhiếp Đại Thừa luận thích 9, Đ.31, trang. 0370b th́: “Khi Bồ-tát thông đạt các pháp vô ngă th́ trí b́nh đẳng phát sinh, thấy rơ các pháp kia đều không có tự tánh, các hữu sinh tử là Niếtbàn.”

Qua những bản kinh luận mà chúng tôi vừa trích dẫn ở trên cho hành giả chúng ta nhận thức rằng, phạm trù nghĩa lư của pháp ấn thứ hai là các pháp vô ngă. Sự hiện hữu của tất cả các pháp đều từ nhân duyên ḥa hợp, nương tựa vào nhau mà hiện hữu. Sự hiện hữu của các pháp trên mặt hiện tượng của tướng là một sự hiện hữu giả hợp do duyên, và mặt khác tánh của chúng là không cũng do duyên mang lại. Ở đây, các pháp là chỉ chung cho cả tâm lẫn sắc như trường hợp của năm thủ uẩn là vô ngă vậy.  3/ Niết-bàn tịch tĩnh (Skt:

śanta nirvāam), c̣n gọi là Niết-bàn tịch diệt ấn, gọi tắt là Niết-bàn ấn. Đây là phạm trù thứ ba trong ba pháp ấn. Phạm trù thứ ba này bàn về nỗi khổ của chúng sanh đă và đang gánh chịu ở thế gian này, phát xuất từ vô minh mê mờ không biết cái khổ của sinh tử luân hồi, nên khởi hoặc tạo ra mọi thứ nghiệp lực, từ đây phải lưu chuyển trong ba cơi sáu đường, cho nên đức Đạo sư v́ chúng sanh mê mờ không biết cách nào để thoát khỏi sự khổ đau của vô minh mà Ngài nói về pháp Niết-bàn vắng lặng, với mục đích là khiến cho chúng sanh thoát ly khỏi khổ đau của sinh tử mà chứng đắc Niết-bàn tịch tĩnh. Theo Căn Bản Nhứt Thiết Hữu Bộ 4, Đ. 24, trang. 0119a của Luật tạng, đức Đạo sư dạy: “Ta biết dục là tội lỗi muốn thấy Niết-bàn tịch tĩnh nay ta phải nên xả bỏ để đạt đến vui thanh tịnh.” Phạm trù Niết-bàn tịch tĩnh là phạm trù sau khi hành giả ĺa bỏ khổ đau, giải thoát tất cả mọi trói buộc của phiền năo mà dục là một h́nh thức phiền năo căn bản của khổ đau sinh tử luân hồi phát sinh trực tiếp qua sự tạo tác của thân, khẩu, ư. Ở đây, muốn đạt được Niếtbàn tịch tĩnh là chỉ cần xả bỏ tất cả dục ái (tanhā) căn bản để đạt được Niết-bàn hiện hữu ngay trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

Luận Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm 29. Đ. 11, trang. 0741b th́ cho rằng “Nếu ĺa dục, ái hết sẽ đạt Niết-bàn tịch tĩnh thắng diệu”. V́ dục ái là pháp căn bản của phiền năo, nguồn gốc đưa chúng sanh đến các hữu sinh tử luân hồi trong ba cơi sáu đường, nên nếu muốn giải thoát sinh tử trong ba cơi sáu đường và đạt được mọi an vui Niết-bàn tịch tĩnh giải thoát trong cuộc sống th́ chúng ta phải ĺa bỏ dục ái.  Do đó, chúng ta nên giải thoát ái dục th́ Niết-bàn an vui sẽ hiện hữu.

Theo kinh Đại Bát Niết-bàn nghĩa kư 10, Đ. 37, trang. 0850b, đức Đạo sư bảo: “Ĺa giác quán gọi là Niết-bàn, có nghĩa là diệt trừ trí chướng ngại; trừ bỏ trí vọng th́ được gọi là xa ĺa giác quán. Nhờ xa ĺa giác quán được nghĩa Niết-bàn tịch tĩnh, cho nên gọi là Niết-bàn”. Đó là cách định nghĩa Niết-bàn tịch tĩnh theo nghĩa phủ định.

Thông thường đức Đạo sư, khi đề cập đến Niết-bàn, thường dùng những từ phủ định, để tránh những ngộ nhận nếu có về Niết-bàn, mà một phạm trù như vậy chỉ có những ai thực chứng chân lư mới nhận ra một cách chính xác; ngoài ra chúng ta không thể nhận ra được bản thể cùng các hiện tượng một cách như thật trong đó có Niết-bàn.  Chúng ta có thể ngộ nhận về cơi Niết-bàn có được nào đó từ những xác định của ngôn ngữ, sẽ khiến cho chúng ta nhận lầm về chúng; v́ ngôn ngữ chúng ta chỉ có giá trị tương đối về mặt diễn tả chân lư một cách tương đối trong khi Niết-bàn là một phạm trù thuộc chân lư tuyệt đối và bị hạn chế trong những nhận thức của thế trí như kinh trên đức Đạo sư đă dạy. Muốn giải thoát những trói buộc hạn chế mê lầm đó, chúng ta phải trừ bỏ hay tiêu diệt chúng mới đạt được chúng qua ngôn ngữ phủ định tương đối nhằm thể nhập vào tự tánh không của thế sống. Cho nên, Niết-bàn được đức Đạo sư nhắc đến qua nhiều kinh luật luận, Ngài thường dùng những danh từ phủ định như: Tanhakkhaya (diệt ái) có nghĩa là dục vọng bị tiêu diệt;

Asamkhata (vô vi), có nghĩa là không bị liên kết, không bị giới hạn; Virāga (vô tham), có nghĩa là không tham lam; Nirodha có nghĩa là sự chấm dứt (dục ái); Nibbāna, là tịch diệt, có nghĩa là sự thổi tắt, hay sự tắt hẳn. Những từ này, đức Đạo sư dùng với mục đích nhằm để phủ định những khẳng định bị giới hạn lệ thuộc vào trong trói buộc, chúng đi nghịch lại với con đường giải thoát của Ngài.  Phần này hành giả nếu muốn t́m hiểu rộng hơn xin xem lại Tập san Pháp luân số 10.

Tóm lại, mục đích của Ba pháp ấn này theo như trong Câu-xá luận kư 1, Đ. 41, trang. 0001b đă giải thích th́: “Các hành vô thường chỉ dùng để giải thích rơ các pháp hữu vi, Niết-bàn tịch tĩnh dùng để giải thích rơ các pháp vô vi, c̣n các pháp vô ngă là dùng chung để giải thích rơ cả pháp hữu vi và vô vi”. Như vậy, ba phạm trù này dùng để ấn chứng và khẳng định rằng nếu trong những lời dạy của kinh điển mà không liên hệ đến ba phạm trù này, th́ những loại kinh điển đó không phải do đức Đạo sư nói ra mà có thể là do ma nói. Vậy, ba pháp ấn rất quan trọng đối với việc nhận chân và đánh giá về những ǵ Ngài đă dạy, nếu những kinh điển nào không phù hợp, không có sự hiện hữu của ba phạm trù: Vô thường, vô ngă, Niết-bàn th́ không phải là kinh điển do Phật nói ra. Hơn nữa, ba phạm trù này cũng được đức Đạo sư cho chúng ta nh́n ra được phạm trù nghĩa lư nào dùng cho các pháp hữu vi có sinh, có diệt theo sự hiện hữu và biến dịch của chúng qua nhân duyên mà mắt phàm chúng ta nhận thấy, rờ mó được. Những pháp này mang h́nh thức chướng ngại, c̣n những pháp vô vi không h́nh tướng, không thể hiện hữu và có chất ngại mà mắt chúng ta không thể nhận thấy, nhận biết trong xúc chạm của các pháp thuộc về sự, chúng thuộc về tư tưởng, lư, khiến hành giả chúng ta phải kinh qua chứng nghiệm bằng vào những sở đắc có được mà thôi. C̣n các pháp vô ngă chỉ chung cho tâm và vật của một chúng sinh hữu t́nh nói riêng và muôn vật nói chung. Tâm, thuộc h́nh thức vô vi không thấy, không nắm bắt được của thọ, tưởng, hành, thức và của vật tức chỉ cho sắc pháp mà đại diện là đất, nước, gió, lửa. Những vật chất này mắt chúng ta có thể thấy, có thể tiếp xúc trong xúc chạm nắm giữ được. Ba pháp ấn này không ngoài ấn định chứng nhận để cho hành giả phân biệt được cái nào là chân lư, cái nào thuộc ma vương nói ra. Ba pháp ấn này c̣n giúp cho các hành giả chúng ta phân biệt, lựa chọn đúng giáo nghĩa trên bước đường t́m về giải thoát mà không sợ nhầm lẫn. Đây là ba pháp ấn mà cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều chấp nhận. Ngoài ba pháp ấn này ra nếu cộng thêm Nhất thiết hành khổ th́ gọi là bốn pháp ấn; từ bốn pháp ấn thêm vào Nhất thiết pháp không th́ gọi là năm pháp ấn.  Đó là những phạm trù thường thấy trong kinh điển của đức Phật c̣n để lại, cho dù là bốn hay là năm, chúng vẫn không ra ngoài ba pháp ấn này.

THÍCH ĐỨC THẮNG   

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 10/28/06