...... ... .  . .  .  .

LUẬN GIẢI  SẤM GIẢNG

KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM

CỦA

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

 

63.-"Quan trường miệng nói vang rân - Mà tâm dính chặt hồng trần bụi nhơ - Buồn đời nên mới làm thơ -Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ- Người đời lòng dạ bất tri - Trông cho làm bịnh dị kỳ nó coi ". (dòng 27 tới 32, trang 32)

 

Luận giải:

 

Phần đông các người làm quan miệng lúc nào cũng hô hào những lời hay lẽ đẹp, nhưng lòng họ thường nghĩ trái lại, nuôi dưỡng nhiều ham muốn tầm thường, lắm khi còn tồi tệ, xấu xa. Buồn lòng trước cảnh đau khổ của dân chúng, Người mới dùng thơ văn chỉ rõ đường tội phước để thế nhân biết mà sửa tánh răn lòng, nhứt là với lời thơ êm ái, dịu dàng dễ hiểu nên nhanh chóng rung cảm và thấm nhập lòng người. Vậy mà vẫn còn lắm kẻ chưa sáng mắt trước bao cảnh khổ, chẳng những không chịu nghe lời khuyên dạy lại còn muốn sao có nhiều thứ bịnh lạ kỳ coi chơi !

 

Nghĩa chữ khó:

 

Quan trường: chỉ chung những người làm việc cho nhà cầm quyền.

Tai lấp mắt ngơ: cố ý không muốn nghe, làm như mắt không thấy.

Bất tri: không hiểu biết.

Dị kỳ: lạ thường, chưa từng thấy.

 

64.-"Dương gian chậu úp được soi - Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi - Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi - Việc tu bá tánh bắn lùi như tôm - Tưởng Phật được lúc đầu hôm - Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người".

 

Luận giải:  (dòng 33 tới 38, trang 32) 

 

Bất cứ chuyện xấu nào ở đời trước sau cũng bị phơi bày ra ánh sáng, nên đừng bao giờ làm điều gì trái với lương tâm, lòng Người vẫn canh cánh nỗi xót xa, bởi thấy việc tu của người đời ngày càng lỏng lẻo, cứ đi thụt lùi; thậm chí có kẻ đầu hôm ngồi niệm Phật mà lòng toan tính chờ khuya đi giựt nồi cơm của người !

 

Nghĩa chữ khó:

 

Dương gian - Dương trần - Dương thế - Thế gian - Trần thế - Trần hạ: đều chỉ nơi con người đang sống và cũng chỉ con người.

Chậu úp được soi: chuyện giấu kín bị đưa ra ánh sáng người người đều hay biết. Câu này bắt nguồn từ thành ngữ :"Lấy thúng úp voi", hay :"Giấy không gói đuợc lửa". Muốn ngưới không hay biết thì đừng làm điều xấu, ác.

Dạ chẳng nguôi: lòng không bớt lo buồn.

Bắn lùi như tôm: cách đi thụt lui của con tôm.

 

Phụ giải:                

 

Canh cánh: nặng trong lòng, áy náy, chưa cởi mở.

Thậm chí: đến đổi, đến nỗi.

-- *** --

 

65.-"Thế gian nhiều việc nực cười - Tu hành chẳng chịu, lo cười lo khinh - Người già ham muốn gái xinh - Đến sau chẳng biết thân mình ra sao ? - Xác thân cọp xé beo quào - Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi".

Luận giải(dòng 1 tới 6, trang 33)

 

Thế gian lắm việc tức cười, nhiều kẻ chẳng chịu yên phận lo tu, cứ kiếm tìm chuyện người để bình phẩm, khen chê; cũng có lắm lão già gần đất xa trời vẫn chưa an phận còn ham muốn gái tơ, gái đẹp. Mấy hạng người này không chịu hiểu, vạn vật ở đời hễ có sanh tất phải bị diệt, thì con người cũng vậy, hết thời son trẻ lần đến lúc lực kiệt tinh khô, vậy mà cứ vô tình rút gắn ngày tàn, buông thả kiếp sống ngắn ngủi mặc tình cho con ma Si dẫn dắt đi, khác nào kẻ đui mù đưa đầu cho cọp xé beo quào ? Đó là chưa kể những kẻ không có tình người, lòng dạ độc ác chắc chắn không sao tránh khỏi máu đổ thịt rơi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tàn bạo: hung dữ và độc ác đến mất hết tánh người.

Máu đào tuôn rơi là đổ máu, chết chóc nhiều.

Máu đào: xin xem số 20.

-- *** --

 

 

66.-"Tu hành hiền đức thảnh thơi - Ngay cha thảo Chúa Phật, Trời cứu cho - Bá gia hãy rán mà lo - Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền cơ". (dòng 7 tới 10, trang 33)

 

Luận giải:

 

Người tu hành ngay thật, hiền đức, sống trong sạch, giữ tròn đạo hiếu với Mẹ Cha, thảo ngay với Chúa, chắc chắn được Phật Trời thương cứu độ nạn khỏi tai qua còn ban ơn phước cho sống yên vui, thong thả; vì vậy, Người mới đi khắp nơi khuyên dạy việc tu. Ai còn điều nào chưa hiểu rõ, kiếm Lão Đưa Đò sẽ được chỉ dẫn thêm. 

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hiền đức: ngay thẳng, hiền lành, tha thứ và giúp đỡ người, thương sanh vật.

Thảnh thơi: rảnh rang, thong thả, không bận lo nghĩ.

Lão Đưa Đò: một hoá thân của Đức Thầy.

Ngay cha: ngay thẳng, thành thật, giữ tròn đạo hiếu với Cha Mẹ.

Thảo với Chúa: hết lòng với cấp chỉ huy, với chủ tướng; ngày xưa là với vua chúa.

 

Phụ giải:

 

Hoá thân: sự thay hình đổi dạng.

 

-- *** --

 

67.-"Bấy lâu chẳng biết làm thơ - Nay viết ít tờ trần hạ tỉnh tâm - Đến sau khổ hạnh khỏi lâm - Nhờ công tu niệm âm thầm quá hay - Chừng nào chim nọ biếng bay - Cá kia biếng lội khổ này mới yên". (dòng 11 tới 16, trang 33)

 

Luận giải:

 

Vốn không biết làm thơ, nhưng vì lòng thương dân, Người viết Quyển Sấm Giảng này, nhằm khuyên người đời nên lắng lòng yên tịnh suy nghĩ lời Phật dạy, xét kỹ lại những việc đã làm rồi từ bỏ đường mê tối, sửa tánh, rèn tâm, âm thầm siêng năng làm việc thiện và khép mình theo Phật đạo, nếu được nhiều người tin đạo, biết gìn giới cấm thì cuộc sống thế gian chắc chắn giảm bớt hận thù, ít có chia ly . Khi nào máy bay thôi chở bom đạn, (chim biếng bay ?) tàu không còn dùng cho chiến tranh (hết xăng dầu - cá biếng lội) con người trên mặt đất này mới hết đau thương, chết chóc.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tỉnh tâm: xin xem số 53.

Khổ hạnh: thật khổ cực, vất vả; một nghĩa khác chỉ cách sống khắc khổ của nhà tu.

Khỏi lâm:  nghĩa ở đây là không bị vướng mắc.

Âm thầm: kín đáo, không khoe khoang cho nhiều người hay biết

.                                                                           

-- *** --

 

68.-"Nhắc ra quá thảm quá phiền - Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu - Ngọn đèn chơn lý hết lu - Khắp trong lê thứ ao tù từ đây".

 

Luận giải:  (dòng 17 tới 20, trang 33)

 

Người nói ra mà lòng quá buồn, chúng sanh đang bên bờ biển khổ nhưng ít ai tỉnh được giấc mê biết mình đang sống trong ao tù để rán tìm lối thoát. Người đời thấy được Phật lý chỉ khi nào hết mê tối và giữ được tâm thanh tịnh, bấy giờ mới có đầy đủ niềm tin để trọn lòng theo Đạo tu hành.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bể khổ: chỉ những đau khổ của đời người, nhà Phật xem đời là biển khổ, là nhà tù lớn.

Gần miền: nghĩa bóng là gần chết, sắp bị tiêu diệt.

Chơn lý: lẽ thiệt, lẽ đúng đắn, lý chánh đáng của sự việc.

Ao tù: nơi nước đọng lại không chảy thoát ra được, chỉ nước dơ. Nghĩa bóng là mất tự do, bị giam cầm, sống trong cảnh khó khăn khổ sở không lối thoát.

 

Phụ giải:

 

Thanh tịnh: trong trẻo, sạch sẽ; hoàn toàn yên lặng, theo nghĩa nhà Phật là rời khỏi các việc làm ác, vìệc lỗi lầm; không dính dáng những chuyện buồn phiền của tình đời.

69.-"Thấy trong thời cuộc đổi xây - Đời nay trở lại khác nào đời Thương - Nhắc ra thêm ghét Trụ Vương - Ham mê Đắc Kỷ là phường bội cha". (dòng 21 tới 24, trang 33)

 

Luận giải:  

 

Nhìn thời cuộc ngày nay giống hồi nhà Thương bên Tàu; nhắc tới thêm ghét vua Trụ, kẻ phá tan sự nghiệp của tổ tiên chỉ vì say mê Tô Đắc Kỷ, một đứa con gái phản cha.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Trụ Vương: tên Ân Thọ, vị vua thứ 28, vua chót của nhà Thương, (Tàu 1135 -1103 trước tây lịch), giỏi võ, có sức mạnh nhưng tánh hung ác. Vì say mê mà nghe lời Đắc Kỷ, bày ra nhiều trò chơi độc ác và dâm loạn, nên bị các nước nhỏ hiệp binh vây đánh, phải thua mất nước, tự đốt mình. Tô Hộ, cha Đắc Kỷ, một người ngay thẳng, không chịu được tánh độc ác của con gái, nên từ bỏ Đắc Kỷ. Về phần Đắc Kỷ, là cô gái đẹp, nhưng bị chồn tinh bắt hồn rồi nhập vào xác. Có nghĩa xác thân của Đắc Kỷ nhưng hồn của chồn tinh, vào phá tan sự nghiệp nhà Thương để trị tội vua Trụ theo lịnh phạt của bà tiên Nữ Oa.

Thời cuộc: tình hình chung, các sự việc quan trọng xảy ra trong và ngoài nước.

Phường hay phồn chỉ một bè một lũ; một phe, bọn xấu.

Bội: quay lưng lại, quên ơn, quên lời hứa.

 

Phụ giải:

 

Dâm loạn: thân mật thể xác với người không phải vợ hay chồng mình mà là vợ hay chồng người khác. Quan hệ xác thịt với người trong dòng họ . 

Sự nghiệp: công việc to lớn có ích lợi cho người đời. Nghĩa hẹp: tài sản tạo được trong đời người.

 

-- *** --

70.-"Hết gần Điên lại nói xa - Nói cho bá tánh biết mà người chi - Lời lành khuyên hãy gắn ghi - Dương trần phải rán tu trì sớm khuya - Đừng ham làm chức nắc nia - Ngày sau như khoá không chìa dân ôi -Tu hành như thể thả trôi - Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm".  

 

Luận giải:  (dòng 25 tới 32, trang 33)

 

Hết nói gần rồi nói xa là ý muốn cho người đời hiểu Người được lịnh chư Phật xuống trần dạy Đạo cứu dân, có biết vậy mới vững lòng tin mà nghe lời khuyên dạy của Người hầu sớm khuya niệm Phật, lo tu. Việc tu hành không nên lười biếng buông trôi, khi nhớ khi quên, phải siêng năng và có lòng thành mới được. Trong cuộc sống rán giữ lòng ngay thẳng, sáng trong, đừng ham mê các thứ chức quyền của thực dân Pháp ban cho, ngày sau sẽ ăn năn không kịp

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lời lành: lời khuyên tốt.

Gắn ghi: ghi nhớ, khắc sâu vào lòng đừng quên.                                     

Chức nắc nia: xuất xứ từ tiếng Neak Nghia của Miên, có nghĩa tôi mọi, chỉ thứ chức tước không giá trị của thực dân Pháp đặt ra bán hoặc cho kẻ ham danh, hay thưởng công cho đám tay sai - hạng người bị gọi là Việt gian.

Khoá không chìa không xài được. Nghĩa bóng chỉ hạng người làm tay sai cho kẻ cướp nước, bị đời khinh ghét, đến chừng thực dân về Pháp, những người này sẽ như khoá không có chìa, chỉ còn cách liệng bỏ.

Nay lở mai bồi: con sông dài thường bị nước xoi lở đất ở bờ doi bên này mang qua bồi đắp bờ vịnh bên kia, hay ngược lại. Câu này chỉ việc tu khi siêng khi làm biếng.

Thiềng tâm hay Thành tâm: lòng thành. Xin xem số 10.                                                               

 

71.-"Mưu sâu thì họa cũng thâm - Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê - Hùm beo tây tượng bộn bề - Lại thêm ác thú mãng xà, rít to".

 

Luận giải:  (dòng 33 tới 36, trang 33)

 

Dùng mưu kế sâu độc hại người rồi mình cũng bị tai họa nặng nề bằng chừng đó trả lại. Ngày sau người đời sẽ gặp các loại thú dữ ghê ghớm như rít lớn, rắn to, tây, tượng, hùm, beo. Phải chăng ngầm chỉ bọn người trong rừng ra, tham tàn ác độc như thú dữ ?!

 

Nghĩa chữ khó:

 

Mưu: mưu kế, tính toán kỹ lưỡng, sắp đặt sự việc có thứ tự gài cho người lầm, thua mình.

Họa thâm: tai hoạ ghê ghớm; điều rủi ro thật nguy hiểm.  

Bộn bề: nhiều lắm, bày ra ở khắp nơi.

Ác thú: thú dữ

Mãng xà: loại rắn độc thật lớn con.                                            

Rít: loại côn trùng bò sát nhiều chân, hai càng có nọc độc.  

 

-- *** --

 

72.-"Bá gia ai biết thì lo - Gác tai gièm siểm đôi co ích gì ! Hết đây rồi đến dị kỳ - Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha". (dòng 1 tới 4, trang 34)

 

Luận giải:

 

Ai biết suy nghĩ thì nên lo liệu lấy phận mình, đừng để ý đến lời chê khen của hạng người quen nói sau lưng kẻ khác, thói xấu này dễ gây hiểu lầm làm chòm xóm mất lòng nhau, không tốt. Cuộc đời từ đây sẽ có nhiều chuyện lạ kỳ cùng với sưu cao thuế nặng khiến đời sống của người dân càng ngày càng thêm cực khổ khó khăn !

 

Nghĩa chữ khó:

Gác tai: bỏ ngoài tai, không nghe lời gièm siểm.

Gièm siểm: đặt điều nói xấu, chê mà không chỉ rõ ai. Lời nói quanh co của kẻ ưa nói ra nói vô, nói thêm nói bớt, kiếm chuyên chọc cho người gây sự.

Đôi co: cự nự, cãi với nhau.

Dị kỳ: chuyện lạ, chưa hề xảy ra, chưa từng nghe thấy. 

Sưu hay xâu: miền Bắc gọi là sưu, trong Nam nói xâu, là công việc nặng nhọc mà người đàn ông - dân thường - từ 18 đến 60 tuổi phải làm cho nhà cầm quyền, không có tiền công, như: đắp đường, đào kinh, xây thành, đắp bờ ngăn nước … Thuế: khoản tiền phải nạp cho nhà cầm quyền theo luật định và bị theo đòi rất gắt, như thuế đất, thuế nhà, thuế mua bán...

Thiết tha hay tha thiết: có tình cảm sâu đậm; luôn lo nghĩ đến, nhưng thiết tha ở câu này, là Người xót thương dân bị bóc lột, bị bức hiếp quá khổ.    

 

-- *** --

 

73.-"Dân nay như thể không cha - Chẳng ai dạy dỗ thiệt là thảm thương - Thứ này đến thứ Minh Vương - Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ ê". (dòng 5 tới 8, trang 34)

 

Luận giải: 

 

Cạnh bên chư Phật, Đức Minh Vương nhìn xuống trần thấy cảnh dân chúng ngày nay đau khổ như trẻ mồ côi không Cha Mẹ chăm nom, dạy dỗ, nên sắc mặt Người rất buồn. Nghĩa bóng: đất nước mất chủ quyền, không người lãnh đạo tốt để bảo vệ, chăm lo đời sống dân chúng. Dân Việt Nam đang bị người nước ngoài cai trị, hiếp đáp, bóc lột vô cùng đau khổ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thảm thương: cảnh buồn khổ ai nhìn cũng xót thương.

Minh Vươngxin xem lại số 6.

Ủ ê: xót xa, buồn rầu.

 

Phụ giải:

 

Lãnh đạo: người đứng đầu bộ máy cai trị đất nước như Vua, Tổng thống, Quốc Trưởng.                                                             

 

-- *** --

 

74.-"Cảm thương trần hạ nhiều bề - Bởi chưng tàn bạo khó kề Phật Tiên - Chúng ham danh lợi điền viên - Ngày sau đến việc lụy phiền suốt canh". (dòng 9 tới 12, trang 34)

 

Luận giải:

 

Thương người đời phải chịu lắm bề đau khổ bởi vì lòng dạ độc ác còn mang thêm túi tham không đáy, suốt tháng năm chỉ lo kiếm thật nhiều tiền của mua sắm ruộng vườn, mua chức mua danh; ngày sau gặp việc không may, như giặc cướp, thiên tai, động đất, tài sản tiêu tan, rồi thương tiền tiếc của, buồn rầu than khóc suốt đêm, hạng người này lòng dạ không lúc nào yên tịnh thì sao gần được Phật Tiên.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Điền viên: ruộng đất và vườn trồng cây ăn trái.

Ngày sau đến việc: ngầm chỉ giặc cướp, động đất, giông bảo… làm tiêu tan hết tiền của, cả mạng sống còn khó giữ.

  

-- *** --

 

75.-"Kệ kinh tụng niệm đêm thanh - Ấy là châu ngọc để dành ngày sau - Bây giờ chưa biết vàng thau - Đời sau kính trọng người cao tu hành". 

 

Luận giải:  (dòng 13 tới 16, trang 34)

 

Giáo lý nhà Phật là ánh đuốc soi đường trong đêm tối, vừa phát triển tinh thần, vừa tăng trưởng trí huệ, có trí huệ mới thấu hiểu giáo lý, nhờ đó niềm tin vững chắc tu hành, đó là của quý để dành. Bây giờ chưa ai biết thiệt giả thế nào, nhưng chắc chắn những bực dày công tu hành sau này sẽ được người đời kính trọng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Kệ kinh: xin xem số 60.

Tụng niệm: đọc kinh và niệm Phật. Xin xem số 8 và 12.

Đêm thanh: đêm vắng vẻ, yên lặng.

Vàng thau: hai thứ cùng màu vàng, gần giống nhau, dễ nhìn lầm. Vàng qúy giá còn thau rẻ tiền.  

Châu ngọc: loại đá quý mà nhiều người ưa thích.

 

Phụ giải:

 

Phát triển - tăng trưởng: mở rộng thêm, lớn mạnh thêm.

 

-- *** --

 

76.-"Nam mô miệng niệm lòng lành - Bá gia phải rán biết rành đường tu - Thương ai ham võng ham dù - Cũng như những kẻ đui mù đi đêm". (dòng 17 tới 20, trang 34)

 

Luận giải: 

 

Đời là một giấc mộng dài, sống là mộng trong mộng, thân ta là giả, vì duyên nghiệp những cái giả kết hợp lại rồi cũng vì duyên nghiệp những cái giả ấy rã tan, đó là lý sanh diệt - hợp là sanh, tan là diệt. Nếu biết vậy mà quyết chí tu tìm giải thoát thì rán luyện rèn tâm ý, gìn lòng thanh tịnh mới thấu hiểu chơn lý. Niệm tưởng Phật lòng phải thành kính. Tu là giữ đời sống thẳng ngay, hiền lành, rộng lòng tha thứ, thương và giúp đỡ người. Còn những ai dùng kiếp sống ngắn ngủi này kiếm lợi mua danh, giành nhau những thứ giả tạm, thì khác gì người đui đi trong đêm tối !

Nghĩa chữ khó:

 

Võng: vật dùng khiêng kẻ có chức quyền hay giàu tiền, có người cầm theo che nắng.

Võng dù chỉ người ham thích danh lợi.                                                                         

 

Phụ giải:

 

Lợi: có được tiền của dễ dàng nhờ ở quy ền thế.

Danh: tên tuổi được nhiều người biết.

 

-- *** --

 

77.-"Khuyên đời như vá múc thêm - Mảng lo tranh đoạt thù hềm với nhau - Đến chừng có ốm có đau - Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho".  (dòng 21 tới 24, trang 34)

 

Luận giải:

 

Vì thương đời, Người không ngừng khuyên nhắc dân chúng trong đời sống hằng ngày chẳng nên tranh giành, tìm cách hơn nhau mà sanh ra giận oán, hận thù. Lắm kẻ lúc bình thường chẳng chịu tu, thả lỏng lòng ham muốn nên gây lắm điều hung ác, dĩ nhiên, gieo gió phải gặt bão, không sao tránh khỏi bị oán thù, bấy giờ gặp nguy hiểm hoặc đau ốm mới sợ chết mà lớn tiếng niệm Phật, như vậy đâu được Phật chứng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

: vật làm bằng nửa gáo dừa, có cán, để múc canh. Ý câu này: Người thương đời nên lúc nào cũng chịu khó nhắc nhở khuyên dạy, giống như múc canh bằng cái vá, múc nhiều lần canh phải đầy tô. Việc dạy Đạo cũng vậy, khuyên nhắc nhiều lần, mỗi lần nói một ít, nhiều ngày rồi cũng phải có người hiểu và nghe mà lo tu.

Tranh đoạt: ra sức giành giựt về mình. 

Thù hềm: không vừa lòng nhau mới sanh ra giận, ghét rồi tới oán thù.

78.-"Dương trần tiếng nhỏ tiếng to - Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh -Tưởng rằng thân nó là vinh - Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Điên".

 

Luận giải:  (dòng 25 tới 28, trang 34)

 

Biết dân chúng xầm xì bàn tán, nhưng Người vẫn giữ im lặng để mặc tình ai muốn nghĩ sao cũng được. Có lắm kẻ dư tiền nhiều của, chức lớn quyền cao, tưởng mình hay, giỏi, đã không chịu tu còn kiếm chuyện chống đối Người.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tiếng nhỏ tiếng to: lời bàn tán xầm xì.

Ghình: rình, lựa dịp để hạ nhau, tìm cách chống nhau.

Nói ngỗng nói cò: chỉ một sự việc, mà mỗi người hiểu theo ý riêng, như con vật lông trắng, ở xa nhìn, người này nói con ngỗng kẻ nọ bảo con cò. Nghĩa bóng câu này là tùy ý người đời khen hay chê, Người không bận lòng tới.

Tu niệm: xin xem số 12.

Vinh: được người nể trọng.                                             

-- *** --

 

79.-"Nói ra trong dạ chẳng yên - Bây giờ nói chuyện cỡi thuyền khuyên dân - Đêm ngày chẳng nại tấm thân - Nắng mưa chẳng quản tảo tần ai hay". (dòng 29 tới 32, trang 34)

 

Luận giải:

 

Người thương đời dốc hết lòng chỉ dạy, tiếp tục chèo thuyền đi khắp xóm làng, thành thị, không nài cực khổ, thức khuya dậy sớm, phơi nắng dầm mưa, kiên trì khuyên nhắc người đời bỏ dữ làm hiền, nhưng lòng vẫn chưa yên, mấy ai hay biết mà hiểu cho Người.

 

Nghĩa chữ khó:

Chẳng nại tấm thân: cực khổ  không hề than.

Nắng mưa chẳng quản: phơi nắng dầm mưa không than.

Tảo tần: dậy sớm thức khuya làm việc hết lòng. Theo điển tích: Tảo hoặc Táo, giống như loại rong. Tần, tên một thứ rau mọc dưới nước. Kinh thi: thái tần thái tảo (hái rau tần hái rau tảo) ý nói về người xoay xở làm nhiều công việc nhọc nhằn. Nghĩa bóng chỉ vì tình thương, lo cho chúng sanh mà Người thức khuya dậy sớm chịu cực nhọc.                   

 

-- *** --

 

80.-"Chừng sau đến hội Rồng Mây - Người đời mới biết Điên này là ai - Lui thuyền chèo quế tay gay -Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao".

 

Luận giải:  (dòng 33 tới 36, trang 34)

 

Người lui thuyền chèo ngược nước thẳng đường đến cù lao Long Khánh tiếp tục dạy Đạo. Bây giờ thì ai nghĩ thế nào cũng được, ngày sau, chừng đến Hội Rồng Mây thế nhân mới biết Người là ai.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hội Rồng Mây: xin xem lại số 15.

Nước ngược: miền Nam gọi thuyền là ghe, ghe lướt tới khi nước chảy từ mũi hướng ra phía sau, đó là đi nước ngược.

Chèo quế tay gay: xin xem số 41.

Cù lao: gò đất lớn nổi lên giữa sông, có nhà ngườ iở làm ruộng, rẩy. Cù lao thuộc xã Long Khánh, nên mang tên Long Khánh, quận Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ngày nay.

Rày: nay, hiện nay, ngày nay.

 

-- *** --

 

81.-"Xa xa chẳng biết làng nào - Thiệt làng Long Khánh ít người nào tu - Tớ Thầy liền giả đui mù - Bèn đi ca hát kiếm xu dương trần".

 

Luận giải:  (dòng 1 tới 4, trang 35)

 

Xa xa phía trước là làng Long Khánh, xem ra nơi đó rất ít người tu. Thầy trò Người giả mù đui đi ca hát như kiếm tiền, nhưng thật sự là dùng lời ca tiếng hát dạy Đạo, chỉ cho đời biết thế nào là tội phước, lẽ phải điều sai để sớm tìm về Phật đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bèn: liền đó, ví dụ: "tôi vừa ra cửa, ông ta bèn bước theo; hoặc: vừa thấy ông ta té, tôi bèn chạy lại đỡ ông ta dậy ".

Ca - Hát: xin xem số 43.

Kiếm xu: Xu: tiền lúc bấy giờ, 10 xu = một cắc, 10 cắc = 1 đồng bạc. 25 xu mua 20 kilô lúa hoặc một thước (mét) vải khá tốt.                          

-- *** --

 

82.-"Bá gia tựu lại rần rần - Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi - Nực cười trần hạ một khi - Ở một đêm thì sáng lại qua sông".

 

Luận giải:  (dòng 5 tới 8, trang 35)

 

Nghe thấy ca hát dân chúng xúm lại rất đông, nhưng suốt nửa ngày không có ai cho đồng nào. Buồn cười trong lòng, ở một đêm, sáng hôm sau Người qua bên kia sông.

-- *** --

 

83.-"Bình minh vừa buổi chợ đông - Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay - Cho thiên hạ tựu đông vầy - Rồi mới ra bài hát việc Thiên cơ".

 

Luận giải:  (dòng 9 tới 12, trang 35)

 

Sáng sớm qua sông đúng lúc chợ đông người mua bán, Người bày ra bán thuốc, chờ dân tựu lại đông mới mời mua thuốc, lời lẽ Người dùng nghe rất mới như từng ở thành thị lâu năm, tiếp theo là các bài hát ngầm cho biết thế gian gần ngày tiêu diệt theo sự sắp xếp của Phật, Trời, rồi khuyên người đời sớm lo tu để được sống còn. 

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bình minh: hết đêm, trời vừa sáng.

Buổi chợ đông: nơi nhiều người đến thật sớm mua bán.

Hát ròng đời nay: hát toàn những tiếng mới của người thành thị đang xài.

Thiên cơ: xin xem số 10.

-- *** --

 

84.-"Tới đây bá tánh làm ngơ - Buồn cho lê thứ kịp giờ ra đi - Lìa xa Hồng Ngự một khi - Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân Thành".

 

Luận giải:  (dòng 13 tới 16, trang 35)

 

Khi nói tới việc tu là không ai muốn nghe, rủ nhau bỏ đi. Lòng xót xa buồn, Người rời Hồng Ngự, thẳng đường đi Tân Thành.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Làm ngơ: không muốn nghe, không thèm để ý tới.

Trực chỉ: đi thẳng không quanh quẹo.

Tân thành: tên một xã thuộc Quận Hồng Ngự, dọc theo rạch Cả Cái, tỉnh Đồng Tháp ngày nay.

   

-- *** --

 

85.-"Tới đây ra mặt người rành - Nói chuyện thiệt sành thông lảu Đạo nho - Nhiều người xúm lại đôi co - Chê lão đưa đò mà biết việc chi". (dòng 17 tới 20, trang 35)

 

Luận giải:

 

Tới Tân Thành, giả Người đưa đò mà nói chuyện thật rành về đạo Nho, nhiều người xúm lại nghe rồi cãi với nhau, có người khen kẻ chê: "Lão đưa đò mà biết việc chi”.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Rành: rõ ràng, hiểu biết rành rẽ.

Thông lảu hay lảu thông: hiểu biết tường tận.

Đạo Nho: một trong ba đạo lớn: Phật - Nho -Lão.

Xúm lại: nhiều người bu lại, tựu lại.

Đôi co: xin xem số 72.

-- *** --

 

86.-"Thấy đời động tánh từ bi - Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa - Khoan khoan chơn nọ bước ra - Giáp rạch Cả Cái rồi ra ngoài vàm - Đoái nhìn mây nọ trắng lam - Điên ra sức lực chèo chơi một giờ "(dòng 21 tới 24, trang 35)

 

Luận giải: 

 

Mặc tình ai cười chê, khi dể, Người vẫn một lòng thương hết chúng sanh, đã không phiền trách còn chỉ dạy những việc về sau. Người thong thả chèo thuyền tới rạch Cả Cái rồi thẳng ra vàm, quay nhìn lại mấy cụm mây trắng lẫn xanh lợt trên nền trời rồi ra sức cho thuyền đi thật mau trong một giờ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

: thẹo, tì vít.

Mách: chỉ bảo. 

Vàm: ngã ba, nơi con rạch giáp với sông, hay con sông nhỏ gặp sông lớn.

Rạch: đường nước nhỏ chảy từ ruộng ra sông. Rạch Cả Cái thuộc xã Tân Thành, Quận Hồng Ngự, nằm sâu trong Đồng Tháp Mười giáp Mộc Hóa, nay là Tỉnh Đồng Tháp.

Đoái nhìn: quay mặt nhìn lại. Nhìn lại phía sau.

Lam: xanh lợt, xanh da trời.

 

           

87.-"Xa nhìn sương bạc mờ mờ - Tân An làng nọ dân nhờ bắp khoai - Giả người bán cá bằng nay - Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông".

 

Luận giải: (dòng 25 tới 28, trang 35)

 

Xa xa trong màng sương trắng đục là làng Tân An, dân ở đây sống nghề rẩy: bắp, khoai. Tới nơi, Người giả bán cá, dân trong xóm xúm lại mua rất đông.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Sương bạc mờ mờ: sương mù trắng đục trông thấy lờ mờ.

Tân An: một xã thuộc Quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc.

Bằng nay: như hiện nay, như bây giờ

Ngày rày: ngày xảy ra chuyện đang kể; lúc đó.

 

-- *** --

 

88.-"Tới lui giá cả vừa xong - Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân - Có người chẳng chịu ngang cân - Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi - Nực cười trần hạ lắm ôi ! Giảng cho bá tánh một hồi quá lâu".  (dòng 29 tới 34, trang 35)

 

Luận giải:

 

Khách trả giá, vừa ý mua, Người cân đúng với số tiền, nhưng khách cứ lấy thêm cá, không chịu bỏ ra, làm như vậy mấy lần. Buồn cười cho lòng tham của người đời, Người mới giải nghĩa về sự hiền lành và ngay thật trong cách ăn ở, đối xử với nhau.                            

 

-- *** --

 

89.-"Thân già thức suốt canh thâu - Nói cho lê thứ quày đầu mới thôi - Nhiều người nghe hết phủi rồi". (dòng 1 tới 3, trang 36)

Luận giải:

 

Nghĩ đến nỗi khổ của dân, Người thức suốt canh này sang canh khác, nghĩ cách giảng dạy thế nào cho người đời nghe dễ hiểu mà chịu sửa tánh răn lòng, sớm tối lo tu, nhưng tiếc vì nhiều người nghe rồi bỏ qua, không thèm để ý tới nữa.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thức suốt canh thâu: đêm có 5 canh, nghe tiếng trống điểm canh, thấy thời giờ sao quá ngắn trong khi lòng còn điều suy nghĩ chưa xong.

Nghe hết phủi rồi: nghe rồi bỏ luôn, không thèm để ý tới.   

 

-- *** --

 

90.-"Quày thuyền trở lại bồi hồi sầu bi - Giả người tàn tật một khi - Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui - Một người nhà lá hẩm hiu - Mà biết đạo lý mời Cùi lên chơi".

 

Luận giải: (dòng 4 tới 8, trang 36)

 

Người quay thuyền trở lại mà lòng xao xuyến buồn, đi mãi tới vàm kinh Xáng mới thấy được chút vui, nơi đây Người giả mang bịnh cùi, gặp một người tuy nghèo song tốt bụng, sống lẻ loi mà hiểu biết đạo lý, đã không có ý khinh khi người cùi, còn vui vẻ mời Người lên nhà chơi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bồi hồi sầu bi: bồn chồn xao xuyến và buồn trong lòng.

Tàn tật: một hay vài bộ phận trên người hư, mất.

Kinh Xáng: kinh do máy đào (xáng múc đất) không phải sức nguời.

Hẩm hiu: cuộc sống âm thầm lẻ loi, không ai để ý  tới.

Đạo lý: xin xem số 36.

Cùi: bịnh lở da, chảy máu, mủ, thịt mất lần, rụng từ lóng tay, đau nhức. Một bịnh chưa có thuốc trị thời bấy giờ.

 

Phụ giải: 

 

Xao xuyến: sự rung động mạnh trong lòng.

 

-- *** --

 

91.-"Bàn qua kim cổ một hồi - Cùi xuống giữa vời Châu Đốc thẳng xông -Đến nơi thiên hạ còn đông - Giả gái không chồng đi bán cau tươi".

 

Luận giải:  (dòng 9 tới 12, trang 36)

 

Bàn hết chuyện đời xưa qua chuyện đời nay một hồi rồi từ giả chủ nhà, Người xuống thuyền chèo ra giữa sông nhằm hướng Châu Đốc đi thẳng. Tới nơi, chợ còn đông người, Người giả cô gái trẻ chưa chồng, bán cau tươi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bàn: trao đổi, góp ý quanh một câu chuyên.

Kim: hiện tại, mới. Cổ: xưa, cũ.

Giữa vời: ra giữa dòng sông, cách xa bờ.

Thẳng xông: đi thẳng hướng không quanh quẹo.

Cau tươi: thứ trái lớn hơn ngón chơn cái, ruột chát để ăn với trầu và vôi. Cây cau thân giống như cây dừa nhưng ốm và cao hơn. Ngày xưa, trầu và cau là hai vật phải có trong các lễ hỏi, lễ cưới vợ. Các bà ở vùng quê ngày xưa rất thích nhai trầu. 

-- *** --

 

92.-"Thấy dân ở chợ nực cười - Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ - Buồn đời lăng mạ ngẩn ngơ - Biến mất lên bờ liền giả cùi đui".

 

Luận giải:  (dòng 13 tói 16, trang 36)

 

Nhìn dân ở chợ mà bắt tức cười, thấy gái trẻ đẹp thì bu lại chọc ghẹo rồi cười giỡn với nhau. Buồn và ngao ngán cho người đời không biết giữ gìn lễ phép, Người biến dạng lên bờ giả ra người vừa cùi vừa đui.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Trêu ghẹo: dùng lời nói hay điệu bộ chọc để vui cười.

Lăng mạ: nói nặng lời; mắng nhiếc. Nghĩa ở đây là không có đạo đức, thiếu giáo dục.

Ngẩn ngơ: đứng đờ mặt ra vì việc xảy ra ngoài ý tưởng.

 

Phụ giải:

 

Ngao ngán: chán nản, không còn ưa thích hay ham muốn.

Lễ phép: phép lịch sự; đối xử kính trọng người trên, người cao tuổi.

Biến mất: đi khỏi nơi đó mà không ai hay biết.                                           

 

-- *** --

 

93.-"Phố phường nhiều kẻ tới lui - Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang - Đời này quý trọng người sang - Giả ra gây lộn  nói toàn tiếng Tây".

 

Luận giải: (dòng 17 tới 20, trang 36)

 

Ở thành thị lúc nào cũng đông người tới lui mua bán, nhưng hễ thấy kẻ Đui, Cùi thì ai cũng tránh xa ra, không muốn ngó. Biết dân đời này xem trọng người giàu sang, Người giả gây lộn nói toàn tiếng Tây.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Phố phường: khu nhiều nhà cửa to đẹp. Phố: dãy nhà cất liền vách nhau ở chợ cho mướn.

Sang: ăn mặc lịch sự, có vẻ cao quý.

Toàn: nguyên một thứ không pha trộn.

Gây lộn: người nói kẻ đáp không ai nhịn ai, dùng lời lẽ nặng nề nhằm hạ nhục nhau.

Tiếng Tây: tiếng dân gian chỉ nước Pháp. Vì nước Pháp ở về phía tây Việt Nam.   

-- *** --

 

94.-"Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy - Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi - Xuống thuyền quày quả một khi - Chèo lên Vĩnh Tế vô thì núi Sam - Đi ngang chẳng ghé chùa am - Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu". 

 

Luận giải: (dòng 21 tới 26, trang 36)

 

Người mặc quần áo sang đẹp, nói tiếng nước ngoài để kẻ xấu bụng như bọn người lấy tin cho Tây ít để ý nghi ngờ. Người đi mau xuống thuyền, giả như ngu dại chèo về kinh Vĩnh Tế rồi theo dòng sông núi Sập thẳng vô núi Sam không ghé chùa am nào.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tây: Pháp; Nam: Việt Nam; Chà: người da đen ở Java Nam Dương (Java – nói trại ra Chà và) tiếng chỉ chung người da đen gốc Ấn độ, Mã Lai, Nam Dương sanh sống ở Việt Nam; Chệt: người Tàu. Chú, Thầy: chỉ người có học hoặc làm việc cho Tây.

Chẳng bắt ngại nghi: không nghi ngờ.      

Quày quả: quay lưng đi gấp.

Am: xin xem số 22.

Xuôi dòng: thuyền đi theo dòng nước chảy; nước xuôi theo thuyền.

Ngu: ít hiểu biết, kém trí khôn.

Vĩnh tế: con kinh do Thoại Ngọc Hầu Nguyễn văn (hữu) Thoại chỉ huy đào từ sông Giang Thành (Hà Tiên) chạy dọc biên giới Việt Miên qua sông Hậu tới Tỉnh lỵ Châu Đốc.

Núi Sam: thuộc dãy Thất Sơn, làng Vĩnh Tế quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc, trên núi có mộ Đức Phật Thầy Tây An, mộ phu nhơn của Thoại Ngọc Hầu,  miểu Bà chúa xứ.                                                                    

 

-- *** --

 

95.-"Xem qua đầu tóc u xù - Cũng như người tội ở tù mới ra - Chèo ghe rao việc gần xa - Bồng Lai Tiên cảnh ai mà đi không ? - Nhiều người tâm đạo ước mong - Nếu tôi gặp được như rồng lên mây".

 

Luận giải: (dòng 27 tới 32, trang 36)

 

Người để tóc rối u xù không chải gở, quần áo thì lôi thôi như ở tù mới ra. Tay chèo, miệng nói về những đau thương, máu đổ, chết chóc mà người đời sẽ phải gánh chịu, rồi kêu mời ai là người tu thì đi cảnh Tiên ở núi Bồng Lai với Người. Người cho biết đó là nơi mà kẻ tu hành nào cũng ao ước được tới như rồng muốn lên mây vậy.

 

Nghĩa chữ khó:  

 

Bồng Lai: xin xem số 44.

Tâm đạo: người thật lòng mến đạo, tin Phật, giữ gìn không để phạm luật lệ của đạo.

Rao: nói, truyền tin tức rộng ra cho mọi người hay biết.

Như rồng lên mây: rồng được lên mây là có không gian rộng rãi, mặc tình bay lượn.

 

-- *** --

 

96.-"Ấy là tại lịnh Phương Tây - Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên - Có người nói xéo nói xiên - Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia".

 

Luận giải:  (dòng 33 tới 36, trang 36)

Người vâng lịnh chư Phật xuống trần dạy cho kẻ hung ác biết có Phật, có Thần Tiên để họ sợ mà sửa tánh răn lòng lo tu, nhưng trong số người nghe giảng, có kẻ xầm xì bảo nhau đừng nên tin, vì họ cho rằng Người đặt điều nói gạt để kiếm tiền.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Phương Tây: theo kinh giảng, cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà ở phương tây.

Bạo tàn: hung dữ độc ác đến mất tánh người.

Kiến: trông thấy.

Nói xéo nói xiên: chê cười mà không nói thẳng với người bị chê.                                                  

-- *** --

 

97.-"Thoáng nghe lời nói thiết tha - Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc Dưng - Tay chèo miệng cũng rao chừng - Đường đi tiên cảnh ai từng biết chưa ?". (dòng 1 tới 4, trang 37)

 

Luận giải

 

Nghe mấy lời xầm xì bàn tán đó Người thêm buồn lòng, tay chèo mà nước mắt rưng rưng. Dầu vậy, trên đường về Mặc Dưng, Người vẫn không ngớt kêu mời và hỏi người ở hai bờ sông: "Có ai biết đường đi cảnh tiên chưa "?  

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thoáng nghe: tiếng nói lướt qua mau như chớp nhoáng.

Lời nói thiết tha: lời nói có tình nghĩa. Nhưng nghĩa ở đây, Người xót xa buồn, vì xuống trần dạy đạo cứu đời, đã hết lòng khuyên nhủ lại bị nghi ngờ là dối gạt, mà sự nghi ngờ đó chỉ vì họ muốn che chở cho nhau khỏi bị mắt lừa. 

Rưng rưng nước mắt: nước mắt từ từ chảy.

Mặc Dưng, đủ tên là Mặc cần Dưng, địa phương mang tên tiếng Miên, thuộc xã Bình Hòa, quận Châu Thành Long Xuyên ngày nay.

Tiên cảnh: cảnh hoàn toàn trong sạch, yên vui, không hận thù, không đau khổ chia ly ?. 

 

-- *** --

 

98.-"Khúc thời nhắc lại đời xưa - Lúc chàng Lý Phủ đổ thừa Trọng Ngư - Nhà anh có của tiền dư - Sao chẳng hiền từ thương xót bá gia?"

 

Luận giải:  (dòng 5 tới 8, trang 37)

 

Người nhắc chuyện ngày xưa: "Lý Phủ và Trọng Ngư là đôi bạn thân, nhà ở gần nhau, cuộc sống của hai gia đình khá đầy đủ; nhưng tánh không giống nhau. Lý Phủ lòng dạ rộng rãi thường hay giúp người nghèo khó, hoạn nạn; còn Trọng Ngư, chỉ sống cho mình, không bao giờ chịu bỏ ra, dầu một ít tiền giúp đỡ bất cứ ai. Chẳng may gặp giặc cướp, hai người đều tiêu tan sự nghiệp, phải trôi giạt xứ xa, Lý Phủ được các người chịu ơn ngày xưa hết lòng giúp đỡ, nên cuộc sống khá đầy đủ, trong khi đó Trọng Ngư đói rách khổ sở. Tình cờ găp lại nhau, Trọng Ngư than trách sao mình vô phước, không được sự giúp đỡ nào. Lý Phủ nói: "Phải chăng đây kết qủa của cuộc sống khép kín, ích kỷ ngày xưa của Anh ?". Mẫu chuyện này dạy chúng ta không nên nghĩ cho riêng mình, mà phải mở lòng ra thương và giúp đỡ những người thiếu may mắn, đói khổ hoạn nạn.

 

Phụ giải:

 

Ích kỷ: chỉ biết lo riêng mình, ai sao mặc kệ.

Hiền từ: hiền lành, giàu lòng thương và giúp đỡ người.

99.-"Bấy giờ gặp việc thiết tha - Bạc vàng có cứu anh mà hay không ? -  Hết tây Điên lại nói đông - Có ai thức tỉnh để lòng làm chi !".

 

Luận giải:  (dòng 9 tới 12, trang 37)

 

Người nói hết chuyện bên đông sang chuyện bên tây, ý chánh là khuyên dân nên lắng lòng suy nghĩ để hiểu rằng khi xuôi tay nhắm mắt thì ai cũng chỉ tay trắng ra đi, nào có ai mang theo được gì ! Hoặc chẳng may gặp giông bảo, động đất, giặc cướp, số vàng bạc cất giấu đó còn giữ được không? Sao bằng dành một phần tiền của giúp đỡ người nghèo khổ hầu gây chút duyên lành. Vậy mà có mấy ai chịu hiểu, chịu ghi nhớ vào lòng để dọn mình đi vào Phật đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Việc thiết tha: nghĩa ở đây chỉ việc cần thiết, khó khăn.

Thức tỉnh: xin xem số 53.

-- *** --

 

100.-"Mặc Dưng mất dạng Từ Bi - Thuyền đi trở ngược về thì Vàm Nao -Dòm xem thiên hạ lao xao - Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu".

 

Luận giải: (dòng 13 tới 16,  trang 37)

 

Người rời Mặc Cần Dưng mà không ai hay biết, xuống thuyền chèo về Vàm Nao, dầu thấy trên đường nhiều người lui tới nhưng Người không ghé nhà nào, miệng vẫn kêu nói và giảng đạo vài câu.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Từ Bi: ở đây chỉ Người; cũng chỉ lòng thương người, cứu giúp đời của Người..

Vàm Nao: con sông ăn thông từ Tiền Giang qua Hậu Giang làn ranh hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc. Vàm Nao nằm về phần Châu Đốc, dọc theo làng Hòa Hảo.

Thiên hạ lao xao: nhiều người lui tới lăng xăng và nói to nói nhỏ không dứt tiếng.                                                                   

-- *** --

 

101.-"Con sông nước chảy vòng cầu - Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha - Chừng ấy nổi dậy phong ba - Có con nghiệt thú nuốt mà người hung". (dòng 17 tới 20, trang 37)

 

Luận giải:  

 

Người báo trước: "Con sông này, chỗ nước chảy vòng cầu đây, ngày sau có việc thật thảm sầu, mỗi khi sóng gió lớn, một con thú dữ nổi lên nuốt người hung ác".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nước chảy vòng cầu: nước cuốn xoáy.

Thảm sầu: chuyện thật đau đớn buồn rầu.

Nổi dậy phong ba: sóng gió nổi lên dữ dội.

Nghiệt thú: thú dữ.

-- *** --

 

102.-"Đến chừng thú ấy phục tùng - Bá gia mới biết người Khùng là ai - Bây giờ phải chịu tiếng tai - Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe".

 

Luận giải:  (dòng 21 tới 24, trang 37)

 

Khi bắt con thú dữ đó phục, chịu nghe lời, chừng ấy thế gian mới biết Người là ai. Bây giờ phải chịu chê bai, lời nặng tiếng nhẹ trong khi Người hết lòng thương yêu chỉ dẫn đường tu, chỉ mong người đời ngày sau được hưởng ơn phước của Phật Trời, vậy mà chẳng ai chịu để ý tìm hiểu và nghe lời !

 

Nghĩa chữ khó:

Phục tùng: chịu nghe lời sai khiến.

Giảng Đạo: chỉ dẫn và giải nghĩa rõ ràng lý lẽ, luật lệ của nền Đạo.

-- *** --

 

103.-"Đời như màn nọ bằng the - Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên - Khỏi vàm Điên mới quày thuyền - Xuống miền Cao Lãnh lại phiền lòng thêm". (dòng 25 tới 28, trang 37)

 

Luận giải:

 

Thấy cuộc đời gần ngày tiêu diệt, Người hết lòng nhắc nhở và khuyên dân chúng rán đọc những lời chỉ dẫn về cách tu hành trong các bài thơ, bài vè của Người mà sửa tánh, răn lòng tìm về với giáo lý nhà Phật. Ra khỏi vàm, chèo thuyền đi Cao Lãnh, tới đây Người lại thêm buồn lòng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

The: loại hàng mỏng và thưa, nghĩa bóng: đời gần tới ngày bị tiêu diệt.

: xin xem số 34.

Vàm: xin xem số 86.                                        

Cao lãnh: tên quận trước 1975 đặt tỉnh lỵ Kiến Phong, bây giờ là tỉnh Đồng Tháp.

 

-- *** --

 

104.-"Tới đây ca hát ban đêm - Ai có thù hềm chưởi mắng cũng cam - Cho tiền cho bạc chẳng ham - Quyết lòng dạy dỗ dương trần mà thôi"

 

Luận giải: (dòng 29 tới 32, trang 37)

 

Tới Cao Lãnh lúc về đêm Người dùng lời ca tiếng hát để giảng Đạo. Mặc tình ai giận ghét, chưởi mắng Người vẫn vui cười, dầu có ai cho tiền bạc cũng không làm Người thay đổi quyết tâm dẫn dắt người đời làm hiền, lánh dữ, đi vào Phật đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hát - Ca: xin xem số 43.

Cũng cam: cũng đành lòng, cũng phải vui lòng chịu.

Dạy dỗ: chỉ bảo với lời dịu ngọt, êm ái.  

Thù hềm: xin xem số 77.              

-- *** --

 

105.-"Nghe rồi thì cũng phủi rồi - Nào ai có biết đây là người chi - Trở về Phong Mỹ một khi - Thuyền đi một mạch tới thì Rạch Chanh".

 

Luận giải:  (dòng 33 tới 36, trang 37)   

 

Dứt lời giảng thì người nghe cũng quên luôn, không ai còn để ý tới mà cũng chẳng cần tìm hiểu xem Người là ai ? Buồn lòng, Người quay thuyền về Phong Mỹ và thẳng đường tới Rạch Chanh.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nghe rồi thì cũng phủi rồi: nghe rồi không để ý tới nữa.

Phong Mỹ: tên xã thuộc Quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đi một mạch: đi thẳng, không ngừng nghỉ.

Rạch Chanh: con rạch gần xã Trà Yến, Kiến Vàng, Quận Thủ Thừa, tỉnh Long An.                            

-- *** --

 

106.-"Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh - Ở đây có một người lành mà thôi - Nhắc ra tâm trí bồi hồi - Khó đứng không ngồi thương xót bá gia".

 

Luận giải:  (dòng 1 tới 4, trang 38) 

 

Người chèo ghe đi khi quanh lúc quẹo, hai bờ sông dân chúng tuy đông nhưng xem ra chỉ có một người hiền, nhắc lại lòng Người vẫn không yên, thêm buồn vì thương người đời sao quá tối tăm.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tâm trí: lòng dạ và đầu óc, tức tình cảm cùng sự suy nghĩ của con người.

Bồi hồi: lòng rối rắm không yên.

 

-- *** --

 

107.-"Kiến Vàng làng nọ chẳng xa - Kíp mau tới đó vậy mà thử coi -  Xứ này nhà cửa ít oi - Mà trong dân sự nhiều người chơn tu - Thấy người đói rách xin xu - Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê". (dòng 5 tới 10, trang 38)

 

Luận giải

 

Làng Kiến Vàng cách không xa, Người đi mau tới đó, nơi đây tuy ít nhà nhưng có nhiều bực chơn tu, không khi dể người nghèo đói, đui mù còn vui vẻ giúp đỡ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Kiến Vàng: tên một xã của Quận Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Kíp mau: mau mau, gấp, lẹ lẹ lên.

Chơn tu: tu hành thành thật, thật lòng sửa mình theo đạo.      

            

-- *** --

 

108.-"Khỏi đây đến chỗ bộn bề - Rõ ràng Bến Lức đã kề bên ghe -Giả Người Tàn Tật đón xe - Rồi lại nói vè ròng việc Thiên cơ".

 

Luận giải: (dòng 11 tới 14, trang 38)

 

Ghe tới một nơi có nhiều nhà nhưng cất không trật tự, rõ ra là chợ Bến Lức. Người mới giả tàn tật, đón xe xin đi nhờ, trên xe Người nói toàn những chuyện Thiên cơ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nhà cửa bộn bề: nhà nhiều mà cất ngổn ngang, lộn xộn.

Kề bên: gần, sát một bên.

Bến Lức: tên một Quận thuộc tỉnh Long An, nằm trên Quốc lộ 1 lục tỉnh về SaiGon.

: xin xem lời giải số 34. Người dùng vè dạy đạo.

Ròng việc Thiên cơ: không nói gì khác ngoài chuyện sắp xếp của Trời.                                                                       

-- *** --

 

109.-"Hết vè rồi lại nói thơ - Làm cho bá tánh ngẩn ngơ trong lòng -Thơ vè Điên đã nói xong - Đi luôn Ba Cụm kẻo lòng ước mơ".

Luận giải: (dòng 15 tới 18, trang 38)

 

Người nói vè rồi tới nói thơ, dân chúng nghe rất mê, thích. Nói thơ vè xong, đi luôn Ba Cụm, nơi mà từ lâu Người rất muốn tới.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thơ: bài văn nhiều câu có vần có điệu và đúng luật.

Nói thơ: giọng nói thơ khi cao lúc thấp …

Bá tánh: trăm họ, chỉ chung người trong nước.

Ngẩn ngơ: xin xem số 92.

Ba Cụm: một địa danh khi xưa có ba chòm cây đa già, thuộc Quận Thủ Thừa, Long An,                      

 

-- *** --

 

110.-"Tới đây dẹp hết vè thơ - Giả Người Bán Mắm quá khờ quá quê - Chợ này thiên hạ bộn bề - Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon".

 

Luận giải: (dòng 19 tới 22, trang 38)

 

Tới Ba Cụm Người không nói thơ vè nữa mà giả Người Bán Mắm vừa quê, vừa khờ. Chợ này đông người mua bán, họ xúm nhau lại coi rồi nhún vai, trề môi chê mắm không ngon.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Khờ: ngờ nghệch, kém trí khôn, chậm chạp trong suy xét.

Quê: ở xa thành thị; người thật thà ít hiểu biết.

Bộn bề: câu này, theo nghĩa ở đây chỉ đông người.

Nhún trề: nhún vai trề môi, là tỏ ý khi dể, chê.                                                                

 

-- *** --

 

111.-"Bạn hàng tiếng nói quá dòn: Giá này chẳng bán còn chờ chuyện chi? Bưng thời kẻ níu người trì:Ở đây không bán chị thì đi đâu?".

 

Luận giải:  (dòng 23 tới 26, trang 38)

 

Mấy người sống nghề mua bán miệng lưỡi quá lanh: "Giá này mà không chịu bán còn chờ cái gì ?". Nhưng Người bưng mắm đi thì kẻ níu người kéo: "Ở đây không chịu bán, vậy chớ Chị muốn bưng đi đâu ?".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bạn hàng: người sống với nghề mua vô bán ra kiếm lời.

Tiếng nói quá dòn: nói quá lanh, khi ngọt dịu khi gay gắt.

Bưng: hai tay mang vật gì để ngang từ bụng tới chơn mày.

Níu: nắm và kéo về phía mình.

Trì: giằng lại, lôi lại, giựt mạnh về phía mình.                                           

 

-- *** --

 

112.-"Dứt lời rồi lại câu mâu - Mắng: con đĩ chó khéo hầu làm khôn! - Muốn làm cho có người đồn - Biến mất xác hồn cho chúng chỉn ghê"(dòng 27 tới 30, trang 38)

 

Luận giải:

 

Dứt lời, liền mắng chưởi nặng lời: "Con đĩ chó đó đừng có hòng làm tài khôn ". Muốn người đời hoảng sợ rồi đồn đãi rộng ra, Người biến mất trước mắt mọi người.                                                            

 

Nghĩa chữ khó:

 

Câu mâu: lời nói chọc tức để gây sự (lưỡi câu và mũi mâu đều có móc).

Mắng: dùng lời nói nặng với người nào.

Con đĩ chó: tiếng mắng thật nặng đối với phụ nữ.

Hầu: hòng, mong muốn làm chuyện gì. Hầu (hòng) làm khôn, có nghĩa muốn làm khôn.

Đồn đãi: nói chuyền cho nhiều người nghe một chuyện gì.

Chỉn ghê: xin xem số 31.

 

Phụ giải:

 

Hoảng sợ: sợ tới không còn giữ được bình thường.

                                                                             

-- *** --

 

113.-"Nói ra thêm thảm thêm thê - Ông Lãnh dựa kề giả Bán Trầu Cau - Bạn hàng xúm lại lao xao: Ông bán giá nào nói thử nghe coi?"

 

Luận giải: (dòng 31 tới 34, trang 38)

 

Nói ra thêm buồn, Người tới chợ Ông Lãnh gần đó, giả Ông lão Bán Trầu Cau. Bạn hàng xúm lại hỏi lăng xăng: "Ông bán trầu cau giá bao nhiêu, nói thử nghe coi ?"

 

Nghĩa chữ khó:

 

Dựa kề: kế bên, gần sát một bên.

Ông Lãnh: chợ trên bờ sông Chợ Lớn – Saigon, gần chợ Bến Thành tức chợ Saigon

Trầu: trầu là loại dây leo, lá to bằng bàn tay mùi vị cay cay nồng nồng.

Xúm lại: xin xem số 85. Cau: xin xem số 91. Bạn hàng: xin xem số 111. Lao xao: xin xem 100.       

 

-- *** --

 

114.-"Trầu thời kẻ móc người moi - Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham - Thấy già bán rẻ nó ham - Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay - Ghe người biến mất bằng nay - Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên".

 

Luận giải: (dòng 35-36, trang 38 - dòng 1- 4, trang 39)

 

Trầu thì bị bươi, bị xốc, lôi từ lớp dưới lên trên lựa lá lớn, có người tham lén bẻ mấy trái cau giấu, còn bạn hàng thấy bán rẻ thì ham, hơn nữa, mấy khi gặp Ông Già vừa quê vừa dốt nên họ thẳng tay chụp giựt, không chút lòng thương. Người liền biến mất cho mọi người hoảng sợ, biết là gặp phải Thần Tiên.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Kẻ móc người moi: lôi từ dưới lên, bươi xốc lựa lá lớn.

Tánh tham: muốn có mà khỏi trả tiền, hoặc trả ít tiền.                                               

Làm thẳng tay: làm hết tay, không ái ngại, không thương.

 

-- *** --

 

115.-"Bến Thành đến đó đậu liền - Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân - Tớ Thầy nói chuyện cân phân: Mới lỡ một lần xin cậu thứ tha - Hai người tôi ở phương xa - Bởi chưng khổ não mới là nổi trôi".

 

Luận giải:  (dòng 5 tới 10, trang 39)

 

Ghe tới chợ Bến Thành, mới vừa đậu liền bị hai người lính đến xét hỏi giấy thuế thân. Rất tự nhiên, Các Vị nói: "Chúng tôi người ở phương xa, vì nghèo khổ nên trôi nổi tới đây, mới lỡ lần thứ nhứt, chưa có tiền đóng thuế, xin hai cậu tha".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bến Thành: chợ Sai Gon.

Tra: xét hỏi gắt gao. Thời thực dân Pháp cai trị, đàn ông và trai tráng từ 18 đến 60 tuổi, bắt buộc phải đóng thuế thân, tức thuế con người. Mỗi năm, người dân không có ruộng đất, phải đóng 4 đồng; 5 hay 6 đồng cho người có ruộng đất. Thời giá lúc bấy giờ một giạ lúa (40 lít hay 20 kilô, giá 25 xu, một đồng mua được 4 giạ lúa). Không đóng thuế thân là bị phạt tù.                                     

Cân phân: ngang nhau, không hơn thua. Nghĩa ở đây là không có vẻ lo sợ, trình bày rất tự nhiên.

Khổ não: buồn rầu, phiền muộn, trí óc suy nghĩ lo lắng, không yên.

Nổi trôi: sống lang thang nay đây mai đó, không có nơi ở nhứt định, như cánh bèo nổi trên mặt nước, trôi theo gió đẩy nước đưa.

Lỡ một lần: mới một lần thứ nhứt không tiền đóng thuế thân, xin tha thứ.                                              

-- *** --

 

116.-"Lính nghe vừa dứt tiếng rồi - Khoát nạt một hồi rồi lại bắt giam - Thấy đời trong dạ hết ham - Ghe người biến mất coi làm chi đây".

 

Luận giải(dòng 11 tới 14, trang 39)

 

 

Các Vị vừa nói dứt, lính ra oai la hét một hồi rồi bắt giam. Thấy tình đời lnòg thêm buồn chán, các Vị biến mất thử coi lính mấy người còn làm được cái gì ?.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Khoát nạt: tay quơ miệng rầy la lớn tiếng.

Bắt giam: bắt giữ, nhốt lại,  cách giữ người có tội. 

 

117.-"Tức thời Điên giả làm thầy - Đi coi đi bói khắp trong phố phường - Có người tu niệm đáng thương - Điên mới chỉ đường Tịnh Độ vãng sanh". (dòng 15 tới 18, trang 39)

 

Luận giải: 

 

Bấy giờ Người giả thầy tướng số, đi cùng khắp phố phường, coi tay coi tướng, bói đoán số mạng; thấy ai có lòng thành tu niệm, Người chỉ cách tu Tịnh Độ vãng sanh.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Coi bói: nhìn dấu hiệu nào đó để đoán tương lai số mạng.

Phố - Phố phường: xin xem số102.

Tu Tịnh Độ: tu theo pháp môn niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà.

Vãng sanh: cầu nguyện sau khi chết được sanh về cõi Tịnh Độ, nơi trong sạch, yên vui.

 

Phụ giải:

 

Pháp môn: cách dạy tu học. Các lý lẽ mà đức Phật dạy, chư đệ tử của Phật lấy đó làm phép tắc, gọi là pháp, do pháp đó mà tu học và thành Đạo, gọi là môn.

 

-- *** --

 

118.-"Dạo cùng khắp cả Sài Thành - Khi ca khi lý nói rành Thiên cơ - Bá gia bá tánh làm ngơ - Tưởng như những kẻ nói thơ kiếm tiền"

 

Luận giải(dòng 19 tới 22, trang 39)

 

Người đi cùng khắp Saigon, dùng lời ca điệu lý báo cho người đời biết những thương đau, buồn khổ sắp xảy ra, nhưng nghe qua ai nấy cũng làm ngơ, họ tưởng Người như những kẻ đi nói thơ kiếm tiền.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Sài Thành: thành phố Saigòn.

: một lối hát có giọng điệu nghe vui và nhanh.

Nói rành: nói thông suốt, thành thạo.

Thiên cơ: xin xem  số 10.

Nói thơ hay đọc thơ, ngâm thơ: xin xem số 109.

Làm ngơ: làm như không nghe, không biết và  không thấy.

 

-- *** --

 

119.-"Văn minh trọng bạc trọng tiền - Khôn ngoan độc ác làm phiền người xưa - Mặc ai ghét ghét ưa ưa - Chẳng dám nói bừa cho bá tánh nghe".  (dòng 23 tới 26, trang 39) 

 

Luận giải:

 

Đời văn minh ngày nay người ta coi trọng bạc tiền và khôn lanh một cách không ngay thật, họ làm nhiều việc gian ác khiến đau lòng các vị Bồ Tát, nên mặc ai ưa hay ghét, sự thật thế nào Người nói thẳng ra, không thêm bớt, cũng không nói đại nói càn lừa gạt người đời.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Văn minh: nghĩa rộng chỉ chung những hay, đẹp về cách ăn ở, cách nói chuyện cũng như xử sự lễ phép. Nhưng nghĩa văn minh ở đây là chê những kẻ không biết suy nghĩ, chạy theo cách sống mới mà quên đạo lý, coi trọng cái vỏ bên ngoài, xem tiền bạc trên tất cả, và cũng vì ham mê tiền bạc mà dùng cái khôn nhưng thiếu ngoan, làm việc độc ác.

Khôn: người hiểu biết, xét đoán nhanh và đúng sự việc.

Ngoan: tốt nết, chịu khó học hỏi, nghe lời khuyên phải.

Người xưa: các vị Bồ tát, tức những bực đã thành đạo, còn chịu khổ vào đời cứu dân.

Nói bừa: nói đại, nói càn, nói không suy nghĩ.

 

-- *** --

 

120.-"Phiền ba ngựa ngựa xe xe - Điên giả người què Gia Định thẳng xông - Què này đường xá lảu thông - Khắp trong thiềng thị rồi thì nhà quê". (dòng 27 tới 30, trang 39)

 

Luận giải:

 

Giữa nơi đông người, nhiều xe nhiều ngựa, Người giả què chơn, đi thẳng về Gia Định, đường lối khắp nơi, từ trong thành phố ra tới nhà quê, chốn nào Người cũng biết một cách rõ ràng.

 

Nghĩa chữ khó

 

Phiền ba hay phồn hoa: nơi đông đảo, ồn ào nhiều xe nhiều ngựa; chỉ chốn thị thành.

Thiềng thị hay Thành thị, chỉ nơi nhiều nhà cửa, đông người tới lui mua bán. Xin xem số 10.

Lảu thông: xin xem số 85.

Què: có tật ở chơn, hay hư một chơn.

 

-- *** --

 

121.-"Kêu cơm bá tánh nghe ghê - Thêm nói bộn bề những việc về sau - Dương trần bàn tán thấp cao -Chẳng biết người nào rõ việc tiên tri-  Giả từ Gia Định một khi - Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần Thơ . (dòng 31 tới 36, trang 39)

 

Luận giải:

 

Tiếng kêu xin cơm xen những lời báo trước về đau khổ, chết chóc mà người đời sắp phải chịu, ai nghe qua cũng đều lo sợ. Dân chúng xúm nhau bàn tán: "Ông này là ai mà biết việc tiên tri ?". Sau đó, Người rời Gia Định chèo thuyền đi thẳng Cần Thơ. 

 

Nghĩa chữ khó:

 

Kêu cơm: ngâm nga những câu xin ăn nghe thật buồn.

Ghê: sự rung động rợn người; nghe lạnh xương sống. 

Bộn bề: nhiều và lộn xộn. Chỉ nhiều việc về sau.

Bàn tán: vài ngưới nói với nhau về một sự việc nào đó rồi tìm lý lẽ làm sáng tỏ ý nghĩa.

Thấp cao: thấp hay cao, giỏi hay dở; câu này có nghĩa: nhiều người nhiều ý, mỗi người một lý riêng, không ai giống ai, bàn cãi lăng xăng.

Tiên tri: biết trước, đoán được việc sẽ tới.

Thuyền loan: có ba cách giải thích:

     - bườm ngày xưa giống cánh chim loan dễ bọc gió, gió hướng nào thuyền cũng chạy được.

     - thuyền ngày xưa của các bực quyền thế thường vẽ hình chim loan trước mũi thuyền.

     - cũng gọi thuyền lan, thời Xuân Thu, người nước Lỗ đóng thuyền hình dáng giống chiếc lá lan.

Trực chỉ: đi thẳng không ngừng nghỉ, không quanh quẹo.

                                                                                                                                                          

-- *** --

 

122.-"Tới đây giả Kẻ Quá Khờ - Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên - Phố phường xóm dưới đầu trên - Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười". (dòng 1 tới 4, trang 40)

 

Luận giải: 

 

Tới chợ Cần Thơ giả hai Vợ Chồng, Ông Chồng ngây ngô khờ khạo đứng bên Bà Vợ có vẻ điên điên. Người đầu trên xóm dưới xúm lại xem và reo cười.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Quá khờ: ngây ngô, kém trí khôn.

Đứng hờ một bên: đứng sẵn một bên chờ giúp đỡ Bà Vợ. Hờ: phòng khi cần đến, để sẵn khi cần thì có.

Reo cười: cười to tiếng và kéo dài giọng ra.

 

-- *** --

 

123.-"Thị thiềng hiền đức được mười - Phần nhiều xúm lại chê cười người điên - Vợ thời ca hát huyên thiên - Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm". (dòng 5 tới 8, trang 40)

 

Luận giải

 

Bà Vợ ca hát không dứt tiếng còn Ông Chồng không tiền, lại quán xin cơm ăn. Thành phố Cần Thơ này người tu hành, sống ngay thẳng, hiền đức, đếm chưa quá mười đầu ngón tay, còn phần đông thấy người điên thì xúm lại chọc ghẹo chê cười. 

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hiền đức: hiền lành, ngay thật, thương giúp đỡ người, thương sanh vật.

Huyên thiên: nhiều, bộn bàng; nhiều lời nói.

  

-- *** --

124.-"Bá gia coi thể rác rơm - Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi - Điên mà ca hát việc đời - Với việc hiện thời khổ não Âu Châu".

 

Luận giải:  (dòng 9 tới 12, trang 40)

 

Phần đông người đời thấy hai Ông Bà như vậy thì khi dể, coi như rơm rác, chờ có dịp là chọc ghẹo cười chơi. Ít ai để ý tại sao Người Khờ Dại, Điên Khùng mà lời ca tiếng hát đều nói về cảnh đau khổ, chết chóc do giặc ở các nước Âu châu gây ra ?

 

Nghĩa chữ khó

 

Rác - Rơm: xin xem số 37.

Sẵn hờm: ở bên cạnh chờ dịp xen vô chọc ghẹo.

Ghẹo: chọc bằng lời nói hay bộ điệu để cười chơi. 

Khổ não: xin xem số 115. 

-- *** --

 

125.-"Chạy cùng chẳng sót đâu đâu - Lòng quá thảm sầu lìa lại Vĩnh Long - Chợ quê giảng dạy đã xong - Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến Tre".   (dòng 13 tới 16, trang 40)

Luận giải:

 

Ở Cần Thơ Người đi khắp nơi không bỏ sót chỗ nào, tới đâu cũng khuyên nhắc dân chúng tu hành, nhưng thấy cảnh tình càng thêm buồn lòng mới qua tỉnh Vĩnh Long, nơi đây Người giảng dạy từ chợ đến quê, xong rồi chèo thuyền đi thẳng Bến Tre.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thuyền loan: xin xem số 121.

Trục chỉ: xin xem số 121.

Rày: lúc này, bây giờ, mới đây.

 

 

-- *** --

 

126.-"Chợ này đậu tại nhà bè - Giả Chị Bán Chè dạo khắp các nơi - Giọng rao rặt tiếng kim thời - Rước rước mời mời anh chị mua ăn".

 

Luận giải: (dòng 17 tới 20, trang 40)

 

Tới Bến Tre, ghe đậu tại nhà bè, giả Chị Bán Chè gánh đi khắp nơi rao mời: "Anh chị ăn chè"! Giọng rao chẳng chút quê mùa, như tiếng người ở thành thị nhiều năm.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nhà bè: nhà cất trên những bó tre hay các thùng săng, thùng dầu kết liền trên mặt nước.

Giọng: mức độ cao thấp, mạnh yếu của tiếng nói.

Rao: nói lớn cho mọi người biết món hàng mình bán.

Rặt: thuần một thứ không pha trộn.

Kim thời: thời buổi bây giờ, lối sống mới; tiếng nói không có chút nào quê mùa.                                                                                          

-- *** --

 

127-"Trẻ già qua lại lăng xăng - Nói nói rằng rằng những việc bướm ong - Gánh chè bán hết vừa xong - Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau". (dòng 21 tới 24, trang 40)

 

Luận giải:  

 

Trong khi đám người vừa trẻ lẫn già, qua lại lăng xăng, cười cười nói nói những lời lẽ không đứng đắn thì Chị Bán Chè cũng vừa bán hết gánh chè, Chị liền nói về những nỗi đau khổ, máu đổ, chết chóc mà người đời sẽ phải chịu vào những ngày tháng sắp tới.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lăng xăng: lúc nào cũng bận rộn ngồi đứng không yên.

Việc bướm ong: con bướm, con ong chuyên hút mật ở nhụy hoa. Nghĩa bóng chỉ hạng đàn ông, con trai có hành động không đứng đắn phá hại sự trong trắng của phụ nữ.

 

-- *** --

 

128.-"Nói rồi chơn bước mau mau - Lìa xa thiềng thị đến thì thôn quê - Đi đâu cũng bị nhún trề - Kẻ lại chưởi thề nói: lũ bá vơ".  

 

Luận giải: (dòng 25 tới 28, trang 40)

 

Dứt những lời báo trước về thời cuộc, Người mau chơn rời xa thành thị đi thẳng hướng đồng quê, tới đâu cũng bị người nhún kẻ trề, hoặc chưởi thề hay mắng nhiếc: "Dân trôi sông lạc chợ, thứ không cửa không nhà"!

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nhún trề: xin xem s ố 36.

Chưởi thề: nói lời không lịch sự.

Lũ bá vơcác người không nhà, không bà con họ hàng.     

 

-- *** --                                                                                                    

 

129.-"Thấy đời tai lấp mắt ngơ - Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe - Dạo cùng khắp tỉnh Bến Tre - Đủ bực thơ vè lìa lại Trà Vinh".

 

Luận giải: (dòng 29 tới 32, trang 40)

 

Biết phần đông dân chúng không thích nghe giảng dạy về đạo lý, nên khi ngồi thuyền hay lúc đi bộ giả như dạo chơi trong tỉnh Bến Tre, thay vì dùng lời lẽ khô khan dạy Đạo, Người hết ngâm thơ rồi tới nói vè, tất cả đều có ý nghĩa nhắc nhở việc tu hành, khuyên nên làm điều lành, tránh việc dữ. Sau đó Người đi thẳng Trà Vinh.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tai lấp mắt ngơ: không muốn nghe, chẳng muốn nhìn.

Đủ bực: đủ loại, đủ giọng.

 

  

-- *** --

 

130.-"Tới đây bày đặt hát kình - Đua nhau bán thuốc mặc tình mua không - Nói ra những chuyện bông lông - Trách trong lê thứ không lòng từ bi". (dòng 33 tới 36, trang 40)

 

Luận giải :

Tới Trà Vinh, Người bày ra hát đua và bán thuốc, có ai mua hay không, không cần. Người nói hết việc này bắt qua chuyện nọ, cốt ý báo trước những tai họa sắp xảy ra, rồi khuyên người đời nên tha thứ, thương yêu nhau, làm lành tránh dữ và rán lo tu. Người nói đã cạn lời, nhưng ít thấy ai chịu mở lòng thương ra giúp đỡ kẻ đói nghèo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Hát kình: hát thi, hát đua với nhau. Hát đối đáp với nhau, ai không đối được là thua

Nói bông lông: nói khơi khơi không chỉ rõ ai, không nói rõ một việc gì.

Lê thứ: xin xem số 4.

Từ bi: nghĩa ở đây là tha thứ, thương, giúp đỡ người.

 

 

-- *** --

 

131.-"Gặp người đói khó khinh khi - Điền viên sự sản ai thì làm cho".  (dòng 1 và 2, trang 41)

 

Luận giải:

 

Người khuyên những ai giàu tiền của đừng khinh khi kẻ nghèo khổ, nhờ công sức của lớp người nghèo khó này mới có được sản nghiệp ngày nay, nếu đối xử tệ bạc thì không còn ai chịu ra sức giúp việc cho để vừa gìn giữ được sự sản mà còn tiếp tục làm giàu thêm.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Điền: chỉ chung ruộng đất trồng lúa,  khoai, bắp, đậu ….

Viên: vườn, đất chỉ trồng cây ăn trái

Sự sản - sản nghiệp: của gồm động sản và bất động sản.

 

Phụ giải:

 

Động sản: của mang đi được, như vàng, tiền ...

Bất động sản: của không đem đi được: ruộng, vườn, nhà.                       

 

-- *** --

132.-"Dạy rồi thuyền lại Mỹ Tho - Khuyên trong trần hạ rán lo tu trì - Xưa nay không có mấy khi - Dương trần có Phật vậy thì xuống đây". (dòng 3 tới 6, trang 41)

 

Luận giải:  

 

Người dạy xong liền chèo thuyền đi Mỹ Tho, nơi đây Người báo cho dân chúng hay một chuyện xưa nay ít có, đó là Phật đang xuống thế gian dạy Đạo cứu đời; rồi Người khuyên mọi người nhân cơ hội này rán sửa tánh, sửa lòng sớm tối lo tu.    

 

-- *** --

 

133.-"Chợ quê giáp hết thuyền quay - Đi trở lộn về Ông Chưởng giảng dân - Quản chi nắng Sở mưa Tần - Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi".  (dòng 7 tới 10, trang 41)

 

Luận giải:

 

Ở Mỹ Tho, các chợ từ ở quê tới tỉnh, nơi nào Người cũng tới, đi giáp vòng rồi mới quay về Ông Chưởng tiếp tục dạy Đạo cho dân. Người đi không kể gì nắng mưa cực khổ, chèo thuyền ngược xuôi mấy lượt quanh cù lao này rồi mà vẫn chưa thôi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Ông Chưởng: tên một cù lao lớn ở quận Chợ Mới tỉnh An Giang. Xin xem số 135.

Cù lao: vùng đất nổi lên giữa lòng sông, trên đó có nhà người ở và ruộng vườn.

Nắng Sở mưa Tần: nắng trên nước Sở, mưa ở đất Tần. Sở là một nước nhỏ, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc (Tàu) bị nước Tần, thuộc tỉnh Cam Túc (Tàu) chiếm. Bấy giờ là thời Đông Châu liệt quốc, khắp nước Tàu dân chúng khổ sở vì giặc cuớp liên miên. Nghĩa bóng câu này muốn nói Người vì thương thế nhân, nên không nài cực khổ, đi khắp nơi giảng đạo, dầu phải đi dưới nắng nóng, không khác cái nắng nóng như lửa đốt ở nước Sở thời giặc giả ngày xưa, hay dầm mình dưới mưa lạnh, giống những cơn mưa lạnh tê người ở nước Tần thời chiến tranh thiếu áo thuở trước ?      

-                                            

134.-"Thảm thương bá tánh lắm ôi ! - Bồng Lai Tiên cảnh rao rồi một khi - Nếu ai rảnh việc thì đi - Còn mắc nợ thì ở lại dương gian".

 

Luận giải: (dòng 11 tới 14, trang 41) 

 

Thấy chúng sanh ngụp lặn trong biển khổ mà quá đau lòng, Người mới khuyên khéo người đời sớm thức tỉnh, rán lo tu, đó là lời mời những ai không vướng bận việc đời nên đi Bồng Lai Tiên cảnh, còn người nào chưa dứt được thì ở lại. Hiểu nghĩa bóng: người tu lòng không vướng bận chuyện lợi danh, không hận thù, giận ghét, không để tình cảm trói buộc thì cuộc sống đó thật an vui, thong thả khác nào ở cảnh Tiên ? Ngược lại, ai chưa dứt được lợi danh, lòng còn nhiều ham muốn, là còn thiếu nợ đời.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Mắc nợ: vay mượn tiền bạc, lúa gạo của người thì phải ở lại lo trả. Mắc nợ ở đây là còn vướng bận danh lợi, tiền của, tình cảm gia đình.

Bồng Lai: xin xem số 44.

Rảnh: không vướng bận chuyện gì hết, rất thong thả.

                                                                   

-- *** --

 

135.-"Có người xưng hiệu ông Quan - Tên thiệt Vân Trường ở dưới dinh Ông".

 

Luận giải: (dòng 15 và 16, trang 41)

 

Có người nhà ở phía dưới dinh Ông tự cho mình là Quan Vân Trường.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Quan Vân Trường tên Quan Công: vị tướng giỏi thời Tam quốc (Tàu) trung nghĩa, trắng đen phân biệt rõ ràng, không giết kẻ yếu thế,sa cơ, được người Tàu thờ, kính.

Dinh Ông tức nơi thờ Ông Chưởng: vị quan có công lớn thời nhà Nguyễn, tức Nguyễn Hữu Cảnh, người miền Nam quen gọi Nguyễn Hữu Kính, tước Lễ Thành Hầu, cháu 11 đời của Tế văn Hầu Nguyễn Trải, thân phụ Ngài là Nguyễn Hữu Dật. Năm 1692, Ngài vâng lịnh chúa Nguyễn Phúc Chu, đem binh đánh thắng Chiêm Thành. Mấy năm sau, Ngài chiêu mộ khoảng 40.000 dân ở các vùng Điện Bàn, Quảng Nghĩa, Qui Nhơn, Quảng Nam vào khai hoang lập ấp miền Đồng Nai, lập hai huyện Phước Long và Tân Bình. Lớp người đó mang danh dân hai huyện hoàn toàn người Việt, để phân biệt với người Minh Hương, con cháu của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, người Tàu thời nhà Minh, tỵ nạn Mãn Thanh, được chúa Nguyễn cho ở cùng vùng Đồng Nai. Sau đó, quân nước Miên qua phá rối vùng giáp ranh với Việt Nam, Ngài đem binh dẹp, đuổi giặc chạy về tới Nam Vang, Miên chúa phải xin cầu hòa. Nguyễn Hữu Cảnh về đóng quân tại Cái Sao (Chợ Thủ). Đây là một cù lao lớn và giàu của Long Xuyên, thuộc quận Chợ Mới ngày nay. Lễ khao quân ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) tại chợ Thủ. Vì quá mệt mỏi thể xác, Ngài mửa máu ngay buổi tiệc và chết sau đó. Hiện nay,Long xuyên và Châu Đốc có bốn nơi thờ Ngài. Ngài được truy tặng "Hiệp trấn Công thần, Chưởng dinh Lễ Thành Hầu". Dân trong vùng quen gọi Ông Chưởng. (Theo tài liệu của Ông Hứa Hoành).

 

-- *** --

 

136.-"Thấy đời cũng bắt động lòng - Ghé vào tệ xá thẳng xông lên nhà - Mình người tu niệm vậy mà - Nói chi lớn tiếng người mà khinh khi".

 

Chú thích:  (dòng 17 tới 20, trang 41)

 

Động lòng thương vì thấy người ít hiểu biết mới làm việc dối thế gạt đời như vậy, Người ghé lại đi thẳng vô nhà người xưng "Ông Quan" mà khuyên: "Mình là người tu, biết niệm Phật, làm như vầy là không đúng, còn thêm nói to tiếng chi cho người đời khi dể ".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tệ xá: tiếng nhún nhường chỉ nhà mình nhỏ, nghèo.

 

-- *** --

 

137.-"Người nhà cảm tạ một khi - Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng - Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông - Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba".  (dòng 21 tới 24, trang 41)

 

Luận giải:

 

Người nhà cám ơn lòng tốt của Người về mấy lời chỉ dẫn rồi cúng năm cắc bạc gọi là chút ít tiền xài trên đường đi dạy Đạo. Người xuống thuyền đi thẳng tới nhà ông chủ Phối, ghé lại xem thử lòng dạ Đạo Ba.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Cảm tạ: cám ơn trong sự xúc động vì lòng tốt của người đã chỉ dạy, hoặc giúp mình không kể khó, nguy hiểm.

Cúng năm cắc bạc: lòng thành cho năm cắc. Năm cắc lúc bấy giờ mua được 40 kilô lúa hay 2 mét vải khá tốt. 2 x 5 cắc là 1 đồng bạc.                                                                                                   

Chủ Phối: chức Hương chủ, tên Phối, một trong 12 viên chức cai trị làng lúc bấy giờ *.  

Đạo Ba: ông đạo tên Ba hay thứ ba. Gọi ông Đạo là chỉ người tu mà để tóc, có nơi thờ cúng riêng, khác với nhà sư ở chùa.

Non Bồng: hay Núi Bồng Lai: xin xem s ố 44.

 

Phụ giải:

 

* Thời bấy giờ, mỗi làng (xã) có 12 viên chức cai trị, gọi Ban Hội Tề: 1.- Hương Cả. 2.- Hương Chủ. 3.- Hương Sư. 4.- Hương Trưởng. 5.- Hương Chánh. 6.- Hương Giáo. 7.- Hương Quản. 8.- Hương Bộ hay Thủ Bộ. 9.- Hương Thân. 10.- Xã trưởng hay Thôn trưởng. 11.- Hương Hào. 12.- Chánh Lục Bộ.                                              

-- *** --

 

138.-"Ngồi chơi đạo lý bàn qua - Mấy bà có biết lúa mà bay không ? - Có người đạo lý hơi thông - Xin Ông bày tỏ cho tôi hiểu rày - Điên nghe liền mới tỏ bày: Lúa bay về núi dành rày ngày sau".  (dòng 25 tới 30, trang 41)

 

Luận giải:

 

Ngồi chơi, sau khi bàn đạo lý, Người hỏi: "Mấy bà có biết chuyện lúa bay không? Có người biết hơi rành về đạo lý, muốn học hỏi thêm, xin được nghe lời chỉ dạy. Người nói lúa đó bay về núi để dành sau này có chỗ dùng. Đức Thầy kể chuyện này phải chăng ý Người ngầm nói những kẻ giàu mà ác thì lúa trong kho của họ cũng sẽ mất như lương của Lý Mật thuở xưa, để dành sau này các tổ chức yêu nước dùng? (Lúc bấy giờ có tin đồn lúa trong nhà chứa của đồn điền Cờ Đỏ của tây Ma-Ranh (Mézin) vùng Cái sắn, Rạch Giá, tức Kiên Giang ngày nay, mất gần 10 ngàn giạ ?1 giạ = 20 ki lô). Cờ Đỏ: các cửa sông rạch thuộc đồn điền này đều cắm lá cờ đỏ làm hiệu để chận xét ghe xuồng chở lúa - sợ tá điền đem lúa đi bán lén.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Đạo lý bàn qua: nói với nhau về lý lẽ Đạo, có cân nhắc, có suy nghĩ.

Lúa bay: theo truyện Tàu, đời nhà Tùy (581 – 621) chỉ có 4 đời vua, vua chót là Tùy Dương Đế, lòng dạ độc ác, giết anh, giết cha cướp ngôi (lúc này nhằm thời Hậu Lý Nam Đế, tức Lý Phật Tử ở Việt Nam). Dưới thời Tùy Dương đế, giặc cướp khắp nơi, trong số những tay ngang dọc có Lý Mật, làm chủ một vùng, nhưng Lý Mật cũng làm nhiều việc ác nên bị Trời phạt, chỉ trong một đêm, kho lương thực bị dơi tha đi hết. Về sau, vua nhà Đường (618 – 907) Lý Thế Dân đi đánh giặc, thiếu lương, tình cờ gặp một số lúa ở trong hóc núi. Có người cho rằng đó là lương của Lý Mật bị dơi tha năm xưa.                                                  

Đạo lý: xin xem số: 36.

Hơi thông: hiểu biết khá chớ chưa phải thật giỏi.                                               

 

-- *** --

 

139.-"Hỏi qua tu niệm âm hao - Không biết câu nào trái ý Đạo Ba -Buồn đời Điên mới bước ra- Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi - Đi hoài chẳng có nghỉ ngơi - Miệng cũng rao mời Tiên cảnh Bồng Lai"(dòng 31tới 36 trang 41)

 

Luận giải:

 

Người hỏi về cách thức tu, không biết có câu nào trái ý ông Đạo Ba. Thấy tình đời lòng thêm buồn, Người từ giả bước ra rồi xuống thuyền chèo đi dạo khắp nơi. Người đi chẳng nghỉ ngơi và miệng không ngớt rao mời người đi Bồng Lai Tiên cảnh.   

 

Nghĩa chữ khó:

 

Âm hao: về tin tức. Nghĩa ở đây là Người hỏi ông Đạo Ba cách tu hành và đạo lý ra sao.  

 

-- *** --

 

                                       

140.-"Có người xuống bến bằng nay - Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong - Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng: Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi ?". (dòng 1 tới 4, trang 42)

 

Luận giải:                                                                                                                                                             

 

Thấy một người đi xuống bến sông, Người cho biết là sắp chết tới nơi, khuyên mau về nhà suy nghĩ, nhớ lại coi, đã hai lần có tin báo chết sao không chịu lo tu ? .

 

Nghĩa chữ khó:

 

Xuống bến: người ở vùng quê hay xuống bờ sông, bờ rạch, nơi có cây cầu vùa làm chỗ cột ghe xuồng vừa để giặt quần áo, tắm, rửa chén dĩa …gánh nước lên nhà xài, nơi đó gọi là bến.

Bằng nay: như hiện nay, trong lúc này.  

Mách: nói hoặc chỉ cho hay biết một điều gì.

Mạng vong: chết.  

Rày: lúc này, bây giờ.                                              

-- *** --

 

141.-"Thương đời ta luống sầu bi - Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu ? - Điên rằng tôi chẳng ham nhiều - Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham"(dòng 5 tới 8, trang 42)

 

Luận giải:

 

Đang buồn vì nghĩ tới cảnh khổ của người đời, bổng có người hỏi: "Đò đưa tới đó Ông lấy bao nhiêu tiền công?" Người nói: "Tôi không ham nhiều tiền, cho bao nhiêu cũng được".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Luống sầu bi: lòng lúc nào cũng buồn rầu.                                        

 

-- *** --

 

142.-"Điên này bụng chẳng có tham - Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui - Già đây cũng chở cầu vui - Vậy chú hãy ngồi ngay chỗ sau đây".

 

Luận giải:  (dòng 9 tới 12, trang 42) 

 

Người nói ghe hôm nay chở đầy, việc đưa đò đây là làm cho vui chớ không phải ham tiền, bây giờ trong mui chật quá rồi, chú chịu khó ngồi phía sau này vậy.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chật nứt: chỉ sự đầy quá, chật quá không còn chen vô được nữa, ví như mặc áo chật bó sát người, khi day trở áo đứt đường chỉ may hay vải áo nứt tét ra.

Mui: mui ghe là phần che nắng che mưa của chiếc ghe.                                          

 

-- *** --

 

143.-"Thấy người lòng dạ tà tây: - Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô ? - Trong mui đã mát lại khô - Tôi có đủ tiền mà trả cho ông - Trong mui dòm thấy trống không - Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra - Cho người hung bạo biết Ta - Thuyền Người biến mất vậy mà còn chi".

 

Luận giải:  (dòng 13 tới 20, trang 42)

 

 

Người đã nói dịu dàng là trong mui ghe chật rồi, vậy mà chú khách đó quen tánh ngang ngược, lớn tiếng cự: "Trong mui vừa mát lại khô, tôi như vầy sao Ông khi dể không chịu cho vô, tôi có tiền mà, ông muốn lấy bao nhiêu tôi cũng trả đủ ". Nói xong, vì thấy trong mui trống, không có người, mới bước đại vô liền bị mửa máu. Người biến mất, cốt ý cho kẻ lòng dạ xấu, hung dữ hoảng sợ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lòng dạ tà tây: người lòng dạ gian xấu.

Bước nhầu: bước đại vô không chờ người chủ mời.

Máu hồng trào ra: mửa ra máu. Máu từ miệng trào ra.

Hung bạo: hung dữ, ác độc.

Biến mất: mới đó rồi không ai thấy nữa.

                    

144.-"Trở lên Chợ Mới một khi - Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao - Năm xưa đây có máu đào - Mà nay chưa có người nào chơn tu".

 

Luận giải: (dòng 21 tới 24, trang 42)

 

Trở về Chợ Mới, Người chèo thuyền đi vô rồi chèo trở ra, miệng không ngớt khuyên người ở hai bên bờ sông rán lo tu, và nhắc lại: Năm xưa đổ máu ở đây * mà bây giờ cũng chưa có người nào thật lòng lo tu.

*.- Năm 1932, cộng sản về xúi dân xã Long Điền, quận Chợ Mới, thuộc Long Xuyên ngày nay, đi biểu tình, bị quân Pháp vô đốt nhà và nhiều người vô tội bị bắn giết.                                                                                         

 

-- *** --

 

145.-"Nào Điên có muốn kiếm xu - Mà trong trần hạ đui mù không hay - Hỏi ông người ở đâu rày - Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu"

 

Luận giải: (dòng 25 tới 28, trang 42)

 

Xuống trần đi dạy Đạo là muốn cứu dân chớ đâu phải kiếm tiền, sao người đời không suy nghĩ mà hiểu cho lòng dạ của Người. Nghe lời than, có người hỏi: " Lúc này Ông ở đâu ?" Người trả lời: "Ở Núi vua Nghiêu cày thuở trước".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nghiêu: một triều vua thật xưa của Tàu (2357-2256 trước Tây lịch) do vua Nghiêu, họ Y Kỳ, tên Phong Huân lập ra, kinh đô ở Bình Dương (nay thuộc Sơn Tây - Tàu) là vị vua hiền, siêng lo việc nước, hết lòng chăm sóc thương yêu dân. Sau Ông nhường ngôi cho Ông Thuấn, một người hiền, chớ không theo thói thường cha truyền con nối. 

Ở đâu rày: lúc này, bây giờ ở đâu ?

Non: núi lớn có nhiều đỉnh hay chỏm, gọi là non hay vồ, như núi Cấm có 5 vồ.

Phụ giải:

 

Kinh đô: nơi vua ở và làm việc.                                                 

5 vồ của núi Cấm: 1.-Vồ Bò Hong - 2.-Vồ Đầu - 3.-Vồ Bà - 4.- Vồ Ông Bướm - 5.- Vồ Thiên Tuế.                                                                      

 

-- *** --

 

146.-"Tới đây trong dạ buồn hiu - Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi - Giả ra một Kẻ Hàn Nồi - Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn".

 

Luận giải:  (dòng 29 tới 32, trang 42

 

Đi đâu lòng cũng buồn, càng buồn Người tiếp tục đi không cần suy nghĩ, hết chèo thuyền rồi lên bờ, Người giả Thợ Hàn Nồi, mang đồ nghề đi khắp cùng các xóm.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Đánh liều: làm một việc không đợi suy nghĩ kỹ và cũng không chắc kết quả tốt.

Hàn Nồi: thời bấy giờ hay xài nồi bằng kim khí (đồng và thau pha trộn) thường bị lủng lỗ hoặc bể, nên có một nghề vá lành chổ nồi nứt hay bể.

-- *** --

 

147.-"Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn  - Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây - Tôi còn mắc cái nợ này - Nên mới làm vầy cho giải quả căn".

 

Luận giải:  (dòng 33 tới 36, trang 42)

 

Tới đâu cũng giảng dạy đạo lý đầy đủ, rõ ràng, ngoài ra, Người còn cho biết hiện ở nhà có một cây đờn năm dây, nhưng vì duyên nghiệp, nên phải đi rao giảng Đạo, nhắc khuyên người đời sớm biết đường tu, được vậy mới giải xong món nợ của Người.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tõ thiệt hơn có hai ý:

  a/- nói ra rõ ràng có cân nhắc kỹ, có phân tách phải trái.

  b/- nói thấp cao, có ý hơn thua. Ở đây xin hiểu theo nghĩa câu trên.

Đờn năm dây: loại đàn có năm dây. (ngày xưa âm nhạc có 5 giọng chánh và năm cung bực: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Võ.?) Năm dây Người nói phải chăng ngầm chỉ Ngũ uẩn:

- Sắc chỉ về thân xác hay sắc, còn 4 thứ kia thuộc tinh thần như:

- Thọ, cảm thấỵ vui, buồn, mừng, giận, ghét, thương, ham muốn.

- Tưởng, tưởng tượng, nhớ nghĩ tới không dứt rồi mới hành,

- Hành, việc làm khởi từ trong ý niệm thúc đẩy.                             

- Thức, hiểu biết, phân biệt đúng sai.

Năm thứ hoà hiệp, tụ tập lại làm lu mờ sự sáng suốt, là đầu mối đưa con người vào tội lỗi.

Đờn 5 dây đây phải chăng còn chỉ Ngũ luân, hay Năm hằng: xin xem số 159. 

Giải là cởi mở, tháo ra; làm cho hết.

Quả căn: Quả là kết quả trả lại từ cái nhơn lành hay nhơn ác (tức việc làm lành hay làm ác trước kia, từ kiếp trước). Căn là cội rễ, nguồn gốc. Quả căn là kết quả của việc làm từ trước, tùy theo việc lành hay việc dữ mà nhận lấy kết quả tốt hay xấu.    

-- *** --

 

148.-"Nhà tôi đâu phải khó khăn - Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi  - Nhiều người nghe nói reo cười  - Thân tôi lao lý anh cười tôi chi ?".   (dòng 1 tới 4, trang 43)

 

Luận giải:  

 

Người nói gia đình của Người không nghèo và còn cho biết trong xách tay này có gần tám mươi đồng bạc. Nhiều người nghe liền cười. Người than: "Thân tôi đang chịu khổ, bị mất tự do, các anh cười tôi làm chi ". (Người có gần 80 đồng trong xách mà than "thân đang lao lý", phải chăng Người muốn nói: "có tiền, nhưng mất tự do cũng đâu có vui "?!)

 

Nghĩa chữ khó:

 

Khó khăn: ở đây có nghĩa là nghèo, túng thiếu.

Reo cười: cười lớn lên vì "Tám mươi đồng bạc thời bấy giờ là quá nhiều, một đồng bạc có thể mua 4 mét vải hay 80 kilô lúa".                                     

Lao: chuồng nuôi thú vật, nhà tù. : ở trong.

Lao lý: bị tù, mất tự do. Chữ lao lý dùng ở đây, phải chăng chỉ cảnh người Việt Nam đang mất tự do vì bị thực dân Pháp cai trị?.  

-- *** --

 

149.-"Giả từ Chợ Mới một khi - Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba Răng - Ít ai biết được đạo hằng - Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn".

 

Luận giải: (dòng 5 tới 8, trang 43)

 

Rời Chợ Mới, Người chèo thuyền đi, hết nước xuôi tới hồi nước ngược, mấy lần như vậy mới tới Ba Răng. Trên đường đi, Người ít thấy ai hiểu biết đạo lý ở đời, mới ghé vào am thầy pháp, nói rằng đi lỡ đường xin tạm nghỉ chơn.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Đạo hằng: có 5 đạo lý, 5 phép tắc mà Đạo Nho gọi là Luân thường, thời bấy giờ xem là khuôn thước trong cuộc sống, trong cách xử thế:

Luân thường 5 Luân hay Ngũ luân 5 Thường hay Ngũ Thường.

   - Ngũ luân: 5 điều:

             1.- Đạo vua tôi (Quân Thần)

             2.- Đạo Thầy trò (Sư Đệ)

             3.- Cha con (Phụ Tử)

 4.- Chồng vợ (Phu Thê)

 5.- Anh em và bạn bè (Huynh Đệ – Bằng Hữu)

   - Ngũ thường:

      1.- Nhơn: lòng thương và tha thứ nguời, thương mạng sống sanh vật.

      2.- Nghĩa: theo đường ngay chánh, sẵn sàng giúp đỡ người yếu thế, hoạn nạn, nghèo khổ; chịu ơn thì bằng mọi cách phải lo đền trả.

      3.- Lễ: nhã nhặn với mọi người, lịch sự, ôn hòa (ôn hòa có nghĩa ấm áp dễ chịu, ở vào mực ai cũng chịu được) kính trọng người tuổi cao. Nói chung, chữ lễ là phép tắc đặt ra  khép con người sống vào khuôn khổ, trật tự, có nền nếp.

      4.- Trí: sự hiểu biết, phân biệt điều tốt xấu, hay dở.

      5.- Tín: tin cậy nhau, giữ lòng tin của người đối với mình.

Am: ngôi nhà nhỏ thờ Phật và nhiều hình tượng khác, chỉ một người ở tu,

Thầy pháp: người biết bùa phép. Thời bấy giờ dân trí còn quá kém và thuốc Âu Mỹ rất hiếm, nên nghề này kiếm ăn dễ, đó là hạng người học được chút ít bùa phép, hoặc không biết chi hết, nhưng khéo lợi dụng sự ít hiểu biết của dân quê, bày đặt vẽ bùa, đọc chú bắt ma bắt quỉ để trị bịnh kiếm tiền, thay vì ốm đau thì phải lo thang thuốc.

Ba Răng: một con rạch thuộc xã An Phong ăn sâu vô Đồng Thàp Mười, Quận Chợ mới tỉnh Long Xuyên. Nay thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Lỡ chơn: trên đường đi, chưa tới nơi muốn tới, vì mệt mỏi hoặc đói, phải dừng lại nghỉ tạm hay ghé nhà xin cơm ăn.      

 

Phụ giải:

 

Đạo lý: xin xem số 6.

-- *** --

 

150.-"Trước sau bày tỏ nguồn cơn - Vì thương lê thứ chi sờn lòng Đây - Có người lối xóm muốn gây - Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe"(dòng 9 tới 12, trang 43)

 

Luận giải:  

 

Vì thương chúng sanh, không lúc nào Người thấy mỏi mệt về việc làm nảy nở giống Phật trong lòng người đời, nên mỗi cuộc nói chuyện, Người luôn mang lời Phật dạy với ý nghĩa hay đẹp ra giảng. Có người lối xóm đến nghe rồi muốn gây chuyện, để tránh việc không vui, Người xin sáu trái bắp rồi đi xuống ghe.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nguồn cơn: nói rõ ràng đầu đuôi, lý do của sự việc.

Sờn: hao mòn, sắp rách sắp hư. Chi sờn có nghĩa không thối chí ngã lòng, không nao núng, không mệt mỏi, không bỏ cuộc.  

Xóm: nhiều nhà ở gần nhau. Lối xóm: người ở cùng xóm.

 

-- *** --

 

151.-"Ghe Điên vốn thiệt ghe be - Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông - Ra oai thuyền chạy như dông - Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi"(dòng13 tới 16, trang 43)

 

Luận giải:

 

Ghe của Người là loại ghe be, có vẻ nặng nề, thế mà Người cứ nhè nước ngược chèo đi. Muốn làm người đời chú ý, Người cho ghe lướt tới thật mau như có gió mạnh tiếp sức đẩy, dân chúng hai bên bờ sông thấy vậy giựt mình, nghi nghi, ngại ngại... 

 

Nghĩa chữ khó:

 

Ghe be: loại ghe ghép nhiều miếng ván to bản. Miền Nam có loại ghe khoét từ thân cây to, gọi ghe lườn, để chở được nhiều, người ta ghép thêm ván lên phần trên, gọi ghe be.

Nước ngược: nước sông chảy từ mủi ghe ra sau lái.

Dông: gió thổi mạnh.

Ngại nghi: nghĩa ở đây: vừa lo vừa sợ, chưa dám tin một việc chưa từng thấy.  

-- *** --

 

152.-"Ông này chẳng biết người chi - Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay - Thần Tiên mà chẳng ai hay - Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa". (dòng 17 tới 20, trang 43)

 

Luận giải:  

 

Dân hai bờ sông thấy ghe của Người đi mau như vậy lấy làm lạ, nói với nhau: "Không biết Ông này người chi mà chèo mạnh quá sức". Người nghĩ thầm: Thế gian mấy ai hay biết, trước mắt là Thần Tiên, là Bồ tát xuống cứu đời, vậy mà cứ cười chê chọc ghẹo!".

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chèo quế: xin xem số 41.

Biếm nhẻ: chê cười, dùng lời chọc cho mắc cở.

Người Xưa: chỉ Đức Thầy và các vị Bồ Tát đắc đạo còn chịu khổ xuống trần dạy Đạo.                                                                      

 

-- *** --

 

153.-"Đời nay mỏng tựa màn thưa - Khuyên trong lê thứ chẳng thừa một câu - Thân Này chẳng nệ mau lâu - Miễn cho bá tánh gặp chầu vinh huê".

 

Luận giải:  (dòng 21 tới 24, trang 43)

 

Biết ngày thế gian tiêu diệt sắp tới, Người không nghỉ ngơi, đi nhắc khuyên dân chúng rán lo tu. Với lòng thương đời, Người mong sao tất cả chúng sanh đều thành Đạo, được sống yên lành, thì dầu phải chịu khổ thân cực trí thêm bao nhiêu ngày nữa Người cũng vui.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Màn thưa: màn vải thưa và mỏng. Nghĩa bóng chỉ đời gần tới ngày tiêu diệt.

Chẳng thừa: không dư, không vô ích.

Chầu vinh huê: nghĩa thường là một khoảng đời vẻ vang, tốt đẹp. Nghĩa ở đây là được thành đạo, sống an vui, không còn thù ghét, không đau khổ chia ly.                                                        

   

-- *** --

 

154-"Thương trong trần hạ thảm thê - Lao khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui - Nhiều người nghèo khổ hẩm hui - Không đất cặm dùi mà chẳng ai thương".

 

Luận giải: (dòng 25 tới 28, trang 43)

 

Người nghĩ mà thương cho thế nhân từ đây không còn vui nữa, sẽ phải gánh chịu nhiều đau thương, buồn khổ; hiện có biết bao nhiêu người nghèo khó, sống bơ vơ, không một tấc đất để cắm cây dùi, thiếu thốn đủ thứ, nhưng có mấy ai biết tới mà để lòng thương xót !.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lao khổ nhiều bề: nhiều cảnh khó khăn trong cuộc sống.

Nghèo khổ hẩm hui hay hẩm hiu: nghèo thiếu đủ thứ, sống lẻ loi, bơ vơ.

Không đất cặm dùi: không có một chút đất đủ cắm cây dùi, không chút đất để che chòi ở.

Dùi: một cái que nhỏ bằng kim khí, nhọn đầu, dùng xoi lổ.   

 

-- *** --

 

155.-"Con thuyền đương lướt gió sương - Bổng nghe tiếng khóc tư lương ai hoài - Có người ở xóm bằng nay - Bị mất trộm rày đồ đạc sạch trơn". (dòng 29 tới 32, trang 43)

 

Luận giải:

 

Thuyền của Người đang lướt đi trong sương gió, thình lình có tiếng than khóc của ai đó nghe hết sức buồn. Thì ra một người ở xóm này bị kẻ trộm lấy hết đồ đạc.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bổng: thình lình, không ngờ trước.

Tư lương: buồn nhớ tha thiết; lời than thở nghe thật buồn.                                

Ai hoài: buồn thảm.

Nguời ở xóm bằng nay: người đang ở trong xóm này.

 

-- *** --

 

156.-"Du thần bày tỏ nguồn cơn: Rằng người nghèo khó đương hờn phận duyên - Điên nghe vội vã quày thuyền - Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn". (dòng 33 tới 36, trang 43)

 

Luận giải.

 

Nghe du thần báo, một người nghèo trong xóm khóc than vì buồn duyên tủi phận, Người vội quay thuyền lại, lên bờ giả coi bói dạo, tới nhà người thiếu may mắn đó tìm lời an ủi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Du thần: vị thần đi tuần, đi kiểm soát, luôn luôn có mặt.

Hờn phận duyên: đã nghèo khổ còn bị mất trộm, nên buồn rầu than thân, trách phận.

Trộm: lấy của người khác một cách lén lút.

Bói: (coi bói) xem quẻ, đoán việc may rủi, đoán số mạng.

Phàm nhơn: người ở thế gian, ở cõi trần.

157.-"Coi rồi bày tỏ thiệt hơn - Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi".

 

Luận giải:  (dòng 1 và 2, trang 44)

 

Người lựa lời giảng cho người mất trộm biết: việc hên xui, may rủi đều do nhơn duyên, rán tìm hiểu Đạo lý sẽ thấy lòng nhẹ nhàng, thong thả, không buồn lo nữa.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bày tỏ thiệt hơn: nói rõ về hoạ tai, số kiếp, còn mất ở đời.

Hờn: không vừa lòng, bụng còn buồn.

Nhơn duyên: nguồn gốc, lý do của sự việc gây từ  kiếp trước. Xin xem lại số 20.    

-- *** --

 

158.-"Rồi đi dạo xóm một khi - Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi - Vào nhà nói chuyện một hơi - Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô:"

 

Luận giải:  (dòng 3 tới 6, trang 44)

 

Đi dạo xóm gần đó, thấy nhà đang giả gạo, Người vào ngồi chơi, nói chuyện một lát có người bán thuốc cũng ghé vô.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Dạo xóm: tới các nhà gần đó như rảnh đi chơi.

Một hơi: một lát, một chút.

Giã gạo: nhà quê xay lúa do sức người kéo cối xay, nên hột gạo không trắng, cần phải giã,  nghĩa là để gạo vào cối dùng chày đập làm cho tróc cám, hột gạo mới trắng.                      

 

-- *** --

 

159.-"Mua một ve uống hởi cô - Uống vô bổ khoẻ trị nhiều chứng phong - Uống thì pha nước nóng trong - Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai".  (dòng 7 tới 10, trang 44)

 

Luận giải:  

 

Người bán mời cô chủ nhà mua chai thuốc và cho biết thuốc này uống vô bổ khoẻ còn trị được nhiều chứng phong, rồi chỉ cách uống với nước nấu chín, không nên pha rượu uống sẽ hại cho cái thai.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Phong: các chứng bịnh có mục, ngứa, lở ngoài da.

Hòng là hầu như, gần như. 

Kỵ thai: không hạp với cái thai, có hại em bé trong bụng.

 

-- *** --

 

160.-"Hai thằng ở xóm bằng nay - Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay - Người cha đi lại thấy rầy: Thiệt mấy đứa nầy cãi cọ làm chi".

 

Luận giải: (dòng 11 tới 14, trang 44)

 

Hai đứa ở xóm này mau miệng nói: "thuốc này bây giờ không có hay". Người cha đi tới nghe vậy, rầy: "Mấy đứa bây sao nhiều chuyện, rồi đây sanh cãi cọ đâu ích lợi gì ?".

 

Nghĩa chữ khó:

 

 

Bằng nay - Ngày rày: hiện nay, từ bây giờ, bửa nay.

Cãi: dùng lời lẽ chống lại ý kiến khác.

Cọ: hai vật chạm nhau.

Cãi cọ: có nghĩa cãi nhau rồi nóng giận sanh ra gây lộn.

 

-- *** --

 

161.-"Bước ra nhà nọ một khi - Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi - Gặp xe chẳng có lên ngồi - Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia".

 

Luận giải:  (dòng 15 tới 18, trang 44)

 

Từ nhà đó bước ra, đi tới lui kiếm xe lôi, gặp xe Người không lên ngồi mà biểu xe chạy tới chỗ kia ngừng lại chờ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Xe lôi: chiếc xe đạp kéo theo cái thùng, dưới thùng có hai bánh xe, khách ngồi trong thùng. Sau này người ta dùng xe gắn máy kéo thùng chở khách.

 

-- *** --

 

162.-"Xóm này kẻ ghét người ưa - Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng - Nhổ rồi lui tới lăng xăng-  Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi".

 

Luận giải: (dòng 19 tới 22, trang 44)

 

Biết xóm này có người ưa mà cũng có kẻ ghét, Người ghé vô nhà kia nhổ đại cái răng rồi đi mau xuống thuyền, Thầy Trò thả thuyền trôi theo dòng nước.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nhổ bừa: nhổ đại, không cần suy nghĩ, nhổ càn cái răng không có thuốc tê.

Lăng xăng: xin xem số 129.

Thả trôi: cho thuyền trôi theo dòng nước, không chèo.          

 

-- *** --

 

163.-"Vàm Nao rày đã đến rồi - Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình - Hát hai câu hát huê tình - Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao". (dòng 23 tới 26, trang 44)

 

Luận giải:  

 

Tới Vàm Nao, đậu ghe tại Chợ Đình, Người hát hai câu nói về tình yêu thương của đôi trai gái rồi để ý coi dân chúng ở đây thế nào.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chợ Đình: trên bờ sông Vàm Nao, xã Hoà Hảo.

Câu hát: ngâm nga giọng khi cao lúc thấp, có vần có điệu.

Hát huê tình: hát những câu bày tỏ tình thương yêu, hò hẹn của đôi trai gái.                 

-- *** --

 

164.-"Sáng ngày chợ nhóm lao xao - Giả Bận Áo Màu ai cũng dòm xem - Mấy thằng trai trẻ thấy thèm - Đứng xa quanh quẩn nói gièm với nhau". (dòng 27 tới 30, trang 44)

 

Luận giải:  

 

Buổi chợ sáng kẻ bán người mua lui tới thật đông, nói chuyện lao xao, Người giả Cô Gái Bận áo màu khiến ai cũng dòm ngó. Mấy chàng trai thấy thèm, đi chung quanh nói xa gần với nhau mấy lời chọc ghẹo cốt ý muốn cô gái nghe.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chợ là nơi người mua kẻ bán tựu lại từ sáng sớm.

Lao xao: tiếng nói cười lào xào của nhiều người.

Thấy thèm: thích trong bụng, muốn được cô gái thương.

Quanh quẩn: luẩn quẩn, lòng vòng chung quanh.

Nói gièm: nói xa gần ý muốn chọc ghẹo tỏ tình mà không dám nói thẳng.                                                                                            

-- *** --

 

165.-"Đứa này nói để cho tao - Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon - Nhắc ra động tấm lòng son - Buồn cho lê thứ sao còn ham vui".

 

Luận giải:  (dòng 31 tới 34, trang 44)

 

Thấy Cô gái đẹp, mấy chàng trai giành phần, đứa này nói để cô đó cho tao, đứa kia lăng xăng khen áo màu ngon quá. Nhắc lại thêm đau lòng, Người thương cho dân chúng không hay biết cuộc thế đã cạn cùng mà còn mê muội, ham vui.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Xạo xự: lăng xăng, chộn rộn, bàn tán rộn ràng.

Lòng son: lòng thương đời của Người trước như sau không suy giảm.                                                     

-- *** --

 

166.-"Ở đây một buổi ghe lui - Về trên Bảy Núi ngùi ngùi thương dân - Thầy Trò chẳng nại tấm thân - Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi-  Chơn tu thì quá ít oi - Nhiều người ẩn sĩ quá lòi tánh tham".

 

Luận giải:  (dòng 35- 36, trang 44 - dòng 1- 4, trang 45)  

 

Ở chợ Đình một buổi, rồi chèo ghe về Bảy Núi, ghe đi mà lòng Người ngậm ngùi thương dân chúng sắp chịu nhiều đau khổ. Thầy Trò không kể cực khổ khó khăn, đi khắp núi Tà Lơn thêm lần nữa, thấy nơi đây ít bực chơn tu, phần đông người nào miệng cũng nói tu, sống xa lánh đời, nhưng trong lòng vẫn còn thích danh ham tiền.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Ghe lui: ghe rời khỏi chỗ đó.

Ngùi ngùi: lòng xót xa, sụt sùi buồn.

Bảy núi là Thất sơn, bảy ngọn núi thuộc tỉnh Châu Đốc.  Xin xem số 22.                                                            

Chẳng nại tấm thân: không ngại, không kể thân cực khổ.

Rảo: đi mau, mau chơn bước đi.

Non Tần: chỉ ngọn núi Tà Lơn thuộc Cao Miên hay Campuchia ngày nay.

Chơn tu: tu hành ngay thật,  giữ gìn luật của Đạo.

Ẩn sĩ: người ở ẩn, không muốn ai biết đến mình, tìm sống nơi yên vắng, gác bỏ chuyện lợi danh.

 

-- *** --

 

167.-"Đi lần ra đến núi Sam - Đến nơi rảo khắp chùa am của người - Dạy rồi bắt quá tức cười - Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay".     

 

Chú thích:  (dòng 5 tới 8, trang 45)

                                                                                                 

 Tới núi Sam, mau chơn đi thăm hết các chùa am, luôn tiện Người giảng dạy thêm Đạo lý, thấy mà buồn cười vì có quá nhiều người tu không siêng học kinh kệ.

 

 

-- *** --

 

168-"Trẻ già biến hóa ai hay - Dạo trong Bảy Núi chẳng nài công lao - Rú rừng lúc thấp lúc cao - Giả ra Nghèo Khó vào nhiều am vân".

 

Luận giải:  (dòng 9 tới 12, trang 45) 

 

Luôn thay đổi hình dạng khi già lúc trẻ, nên chẳng ai hay biết, Người không kể gì cực khổ vượt rừng núi khi lên cao lúc xuống thấp, giả Người Nghèo Khó đi thăm nhiều chùa am trong vùng Bảy Núi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Biến hoá: thay đổi hình dáng; mới thấy đó rồi mất liền.

Rú rừng: rừng nhiều cây chen lẫn với núi.

Am vân: Am mây: chùa nhỏ bên sườn núi, ẩn hiện trong sương, xa nhìn như ở trong mây.

 

-- *** --

 

169-"Tu hành nhiều kẻ tham sân - Làm sao cho đặng mau gần Phật Tiên - Ai ai cũng cứ ham tiền - Ấy là đem sợi xích xiềng trói thân".

 

Luận giải: (dòng 13 tới 16, trang 45)

 

Nhiều người miệng nói tu mà lòng còn tham của tiền, còn nóng giận, thương ghét. Tu như vậy làm sao thành Đạo được. Người đời vì ham làm giàu nên suốt tháng năm bận rộn lo kiếm tiền, khi có nhiều tiền rồì lại muốn thêm danh, bởi vậy đâu còn lòng dạ nào học Đạo, lo tu cho tinh thần được thanh thản an vui, đó là để xích xiềng của lòng tham cột trói mình.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tham - Sân là hai trong mười điều ác mà người tu Phật phải tránh.

Mười điều ác: Về Thân, sanh 3 điều ác:

    1.- Sát sanh: giết mạng sống con người, giết sanh vật.

    2.- Đạo tặc: trộm cướp.

    3.- Tà dâm: kề cận thân thể với người không phải chồng hay vợ mình.

Về Miệng, sanh 4 điều ác:     

    4.- Lưỡng thiệt: nói thêm bớt làm cho hai bên giận ghét nhau.

    5.- Ỷ ngôn: lời trau chuốt, bóng bảy đề cao mình mà hạ người.

    6.- Ác khẩu: nói lời hổn hào, hung ác. Kêu Trời Phật, nguyền rủa …

    7.- Vọng ngữ: lời nói nhiều nghĩa, gây chia rẻ, việc có nói không, chuyện hiền nói dữ...

Về Ý tưởng, sanh 3 điều ác:  

    8.- Tham lam: lòng quá nhiều ham muốn và hiểm độc.

    9.- Sân nộ: giận ghét, nóng như lửa, nuôi oán thù.

   10.- Mê si: tối tăm, mê muội, ngu dốt, không hiểu lý lẽ, không trí phán đoán.                                                             

Xích xiềng: dây kim loại nối với nhau bằng những khoen rất chắc.

 

Phụ giải:

Tinh thần: chỉ chung những hoạt động thuộc nội tâm của con người, như ý nghĩ, tình cảm, sự sáng suốt, ý chí  ... Ý nghĩa đẹp của việc làm. 

Thanh thản: thơ thới, an vui.

 

-- *** --

 

170.-"Lià xa Bảy Núi lần lần - Xuống thuyền trực chỉ lên gần Hà Tiên - Đến đây giả Kẻ Không Tiền - Rảo khắp thị thiềng xin xỏ bá gia". (dòng 17 tới 20, trang 45)

 

Luận giải:

 

Rời Bảy Núi, xuống thuyền đi thẳng Hà Tiên, tới đây Người giả nghèo Không Tiền đi khắp phố chợ xin cơm xin tiền dân chúng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Rảo khắp thị thiềng: mau chơn đi khắp thành thị

Xin xỏ: năn nỉ xin với sự hạ mình.

 

-- *** --

 

171.-"Đi rồi cũng quá thiết tha - Trở về non cũ đặng mà dạo chơi - Non Tiên gió mát thảnh thơi - Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa".

 

Luận giải:  (dòng 21 tới 24, trang 45)

 

Rời Hà Tiên mà trong dạ ngậm ngùi, Người trở về non cũ dạo quanh giải buồn, dầu cảnh Tiên gió mát, thảnh thơi, nhưng nhớ tới nỗi đau khổ của dân chúng Người không cầm được nước mắt.

 

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thiết tha: nghĩa ở đây chỉ tình cảm nhiều, luôn thương nghĩ đến.

Thảnh thơi: thong thả, không bận rộn.

Lụy ngọc nhỏ sa: nuớc mắt trong như hột ngọc rớt xuống.

 

172.-"Xuống trần lúc hát lúc ca - Mà trong lê thứ có mà biết chi - Nam Mô hai chữ từ bi - Trần hạ nói gì đây cũng làm thinh".

 

Luận giải:  (dòng 25 tới 28, trang 45)

 

Người xuống trần dạy Đạo khi dùng tiếng hát lúc với lời ca, chịu biết bao khổ cực mà dân chúng vẫn vô tình chê này nói nọ, không mấy ai hiểu được lòng thương đời của Người. Mặc cho thế nhân lời nặng tiếng nhẹ, lúc nào Người cũng giữ lặng im, niệm Phật trong lòng mà tiếp tục cứu độ người đời.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nam Mô: xin xem số 39.

Từ bi: Xin xem số 8.         

-- *** --

 

173.-"Tu thời nhàn hạ thân mình - Phần Điên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa - Thiên cơ ai dám nói thừa - Mà trong bá tánh chẳng ưa Điên Khùng". (dòng 29 tới 32, trang 45)

 

Luận giải:

 

Ai biết lo tu thì ngày sau được hưởng an nhàn thong thả, riêng Người thì không lúc nào xao lãng việc nhắc nhở, khuyên dân sớm tối sửa tánh, răn lòng tìm về Phật đạo, người đời ưa hay ghét Người cũng mặc tình; còn về việc xếp đặt của Phật Trời nào ai dám nói sai hay bày điều thêm bớt, sao thế nhơn không suy nghĩ mà hiểu cho Người ?

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nhàn hạ: thong thả, rảnh, không bận lo nghĩ việc gì.

Mặc tình: tùy ý, ai muốn nghĩ sao cũng được.                                                                           

174.-"Xuống thuyền chèo quế thung dung - Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi - Rạch Giá chợ nọ thoi loi - Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn".  (dòng 33 tói 36, trang 45)

 

Luận giải:

 

Người thong thả chèo thuyền đi khắp nơi giảng đạo và cũng để tìm hiểu lòng người, đến Rạch Giá, chợ này ở dọc bờ biển có nhiều cá mòi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Thung dung: thong thả, không vướng bận.

Rạch Giá: nay là thị xã thuộc tỉnh Kiên Giang

Thoi loi: phần đất nằm lấn dài ra biển.

Ven biển: dọc theo bờ biển.  

Cá mòi: loại cá biển nhỏ con, ướp gia vị, đựng trong hộp kim khí, để lâu được, ăn ngon.

 

-- *** --

 

175.-"Tới đây giả Kẻ Có Cơn - Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn - Dương trần đi lại lăng xăng - Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên".  

 

Luận giải:  (dòng 1 tới 4, trang 46)

 

Tới đây Người giả ra trí óc mất bình thường, khi tỉnh lúc mê, miệng không dứt lời than thở số phần sao phải chịu nhiều đau khổ. Dân chúng người qua kẻ lại lăng xăng nghe thấy như vậy thì chê cười, chế nhạo cho là người điên.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Có Cơn: lúc tỉnh, khi mất trí khôn.

Chế nhạo: dùng lời nói hay bộ địệu tỏ ý cười chê.

Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn: khi tỉnh, lúc như mê,  miệng luôn than trách sao mình xấu số, đau khổ như vầy.                      

176.-"Ở đâu mà tới thị thiềng - Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi - Lòng thương vì tánh từ bi - Dạy dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe".

 

Luận giải:  (dòng 5 tới 8, trang 46)

 

Có người còn nói: "Lão Điên này ở đâu tới đây, sao lính không bắt nhốt cho rồi !". Thương dân, Người báo trước những họa tai và cuộc sống cạn cùng vậy mà có mấy ai chịu nghe lời khuyên biết sớm tối sửa tánh răn lòng, tĩnh tâm tu hành.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chuyện cùng: đời sắp tiêu diệt, người đời sắp chết.                                                   

 

-- *** --

 

177.-"Dạy rồi Điên lại xuống ghe - Long Xuyên, Sa Đéc nói ròng vè thơ - Vợ chồng nghèo khổ bơ vơ - Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê - Buồn trong lê thứ ủ ê - Sóc Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi". (dòng 9 tới 14, trang 46)

 

Luận giải: 

 

Dạy xong ở Rạch Giá, Người xuống thuyền chèo đi Long Xuyên rồi Sa Đéc, hai nơi này Người nói toàn vè và ngâm thơ. Lòng buồn thương cho nỗi đau khổ của người đời, Người giả hai Vợ Chồng nghèo vừa khờ lại quê, không bà con nhà cửa, chèo thuyền đến Sóc Trăng trong nỗi buồn ủ ê.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nói ròng vè thơ: chỉ nói toàn vè với thơ.

Bơ vơ: lẻ loi không người thân, không nơi nương dựa.

Khờ: thiếu khôn ngoan, ít hiểu biết, chậm chạp.

Sóc Trăng: tên tỉnh thời Pháp, đến Cộng Hòa, nhập với tỉnh Bạc Liêu cũ thành Ba Xuyên.

178.-"Đến đâu thì cũng tả tơi - Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao - Thị thiềng thiên hạ lao xao - Chẳng có người nào tu niệm hiền lương".

 

Luận giải: (dòng 15 tới 18, trang 46)

 

Đi tới đâu Người cũng giả nghèo khổ, áo quần rách tả tơi, nhưng không dứt lời báo cho dân chúng biết đau khổ, chết chóc sắp xảy ra. Dầu Người đã nói cạn lời, nhưng ở chợ Sóc Trăng này tuy người đông đúc ồn ào mà chẳng có ai chịu tu hiền.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tả tơi: áo quần rách nhiều chỗ. Nghĩa là quá nghèo, nghèo xơ xác.

Khổ lao - lao khổ: quá cực khổ, thiếu đủ thứ, bị khó khăn.

Thiên hạ lao xao: đông ngưòi lui tới, lời nói ồn ào.

Hiền lương: hiền lành, rộng lòng tha thứ, thương người và xử sự tốt; thương sanh vật.

 

-- *** --

 

179.-"Thấy trong trần hạ thảm thương - Đâu có biết đường chơn chánh mà đi - Lìa xa đô thị một khi - Thuyền loan trực chỉ đến thì Bạc Liêu - Chợ này tàn ác quá nhiều - Phố phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn".

 

Chú thích: (dòng 19 tới  24, trang 46)

 

Thương cho người đời chịu đau khổ chỉ vì không được ai chỉ dẫn đường ngay lẽ phải nên đâu biết chánh Đạo để theo. Người rời Sóc Trăng chèo thuyền tới Bạc Liêu, nơi đây người Miên và Triều Châu thật đông. Chợ này quá nhiều kẻ hung ác.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Trần hạ: xin xem số 64.

Đường chơn chánh: đường ngay thẳng, đúng đắn. Đường chánh của Đạo Phật.     

Đô thị: nơi nhiều nhà cửa sang trọng và có đông người tụ họp mua bán.

Phố phường: xin xem số102.

Dân Thổ: người Cao Miên – Khờ Me ngày nay.

Dân Tiều: người Triều Châu (Tàu) tới mua bán, ở lại luôn.

 

-- *** --

 

180.-"Đi cùng thành thị ráo trơn - Cà Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày - Cho trong bá tánh chợ này - Rõ việc dẫy đầy lao lý về sau".

 

 

Luận giải: dòng 25 tới 28, trang 46)

 

Sau khi đi khắp thành phố Bạc Liêu, Người tới chợ Cà Mau giảng dạy cho dân nơi đây biết việc nên hư, xấu tốt ở đời. Người cũng nói nhiều về những lao lý, đau khổ sắp xảy ra.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Ráo trơn: hết sạch; có nghĩa đi khắp cùng thành phố.

Thiệt hơn tỏ bày: nói rõ chuyện hư nên, tốt xấu, hay dở.

Dẫy đầy: tràn ngập, quá nhiều.

Lao : xin xem số 148.

-- *** --

 

181.-"Đường đi lao khổ sá bao - Miễn cho trần hạ biết vào đường tu - Tu hành đâu có tốn xu - Mà sau thoát khỏi lao tù thế gian".

 

Luận giải:  (dòng 29 tới 32, trang 46)  

 

Không ngại khó khăn, sớm chiều khổ cực, chịu nắng mưa trên đường đi giảng đạo, Người chỉ mong người đời biết sửa tánh răn lòng khép mình vào đường tu. Vả lại, việc tu đâu có mất tiền mà ngày sau còn tránh khỏi cảnh ngục tù đau khổ ở thế gian.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Sá bao: không kể, không ngại ...

Tốn xu: tốn hao tiền bạc.

Tu hành: Tu: sửa tánh, răn lòng.

Hành: tập và làm đúng điều Phật dạy.

Lao tù thế gian: cảnh khổ như tù giam của cuộc đời. Nhà Phật ví con người đang lặn hụp trong biển khổ cuộc đời, đang chịu giam cầm trong nhà tù lớn. 

 

-- *** --

 

182.-"Thầy Trò lắm cảnh gian nan - Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng - Đằng vân đến tỉnh Gò Công - Vì thương dân thứ mới hòng đến đây"(dòng 33 tới 36, trang 46)

 

Luận giải:

 

Trên đường đi giảng Đạo Các Vị dầu phải chịu nhiều khó khăn, cực khổ, miển sao cứu giúp người đời thoát được cảnh khổ đau thì mới yên lòng. Tiếp tục với tình yêu thương Các vị cởi mây bay qua tỉnh Gò Công.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Gian nan: rất nhiều lận đận khó khăn.

Đằng vân: cởi mây. Phải chăng muốn nói cách đi qua mặt bọn người theo dõi lấy tin cho Tây ?

Dân thứ hay thứ dân: dân thường, không có chức quyền trong xã hội.

Hòng: muốn làm việc gì có ít nhiều khó khăn. Ví dụ: "nếu không phải vì muốn giúp anh thì đừng hòng - đừng có mong - tôi tới đây ".

  

-- *** --

183.-"Xưa kia bão lụt tỉnh này - Mà sau cảnh khổ xứ này gần hơn - Yêu dân lòng nọ chẳng sờn - Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi".

 

Luận giải:  (dòng 1 tới 4, trang 47)

 

Xưa kia bão lụt gây đau khổ ở đây, ngày sau tai nạn cũng đến xứ này sớm hơn, với lòng tha thiết thương dân, Các Vị dùng tiếng đờn giọng hát đi khắp nơi trong tỉnh Gò Công khuyên tu, dạy Đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bão: gió thổi thật mạnh bay nhà cửa, cây ngã đá lăn.

Lụt: nước dâng cao ngập ruộng vườn, chảy mạnh cuốn trôi nhà cửa.

Sờn: hư mòn, rách. Sờn lòng: thối chí, ngã lòng.                                                   

 

-- *** --

 

184.-"Khỏi đây Bà Rịa tách vời - Đến đó vậy thời trời mới sáng ra - Chợ này đông đúc người ta - Nhiều đuông chà là lại với nho tươi".

 

Luận giải:  (dòng 5 tới 8, trang 47)

 

Rời Gò Công Người đi Bà Rịa. Tới nơi, trời vừa sáng. Chợ Bà Rịa đông người mua bán, ở đây có nhiều đuông chà là với nho tươi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tách vời: ghe ra giữa dòng sông.

Bà Rịa: tên tỉnh Bà Rịa.

Chà là: thân như cây dừa, trái có vị ngọt, vỏ cứng

Đuông: loại sâu ăn ruột cây chà là, to bằng ngón tay, lăn bột chiên ăn rất ngon.

Đuông: theo nghĩa của người Miên là một số lượng trái chà là gói trong miếng da trâu để lâu ngày cho thơm ngon.

 

-- *** --

 

185.-"Đến đây Thầy Tớ hoá mười - Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Đông - Ai ai đều cũng ngóng trông - Coi lũ khách này hát thuật làm sao"(dòng 9 tới 12, trang 47)

 

Luận giải:  

 

Tới chợ Bà Rịa Các Vị hoá mười người, mặc quần áo như người Sơn Đông, miệng tươi cười mời khách mua thuốc. Dân bu lại chờ coi mấy người này hát thuật.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bán thuốc Sơn Đông: nghề kiếm sống của những người tỉnh Sơn Đông (Tàu) bán thuốc trị đủ thứ bịnh. Có đánh võ, múa gươm, đao kiếm với tiếng phèng la và có con khỉ làm trò vui.

Phèng la: như cái dĩa lớn, bằng đồng pha thau, gỏ vào phát ra tiếng nghe chói tai.

Ngóng trông: nóng lòng chờ đợi; chờ đợi mà trong lòng lo lắng, nóng nảy.

Hát thuật hay trò Ảo thuật: diễn các trò từ không ra có, có ra không, giả thiệt, thiệt giả, nhờ lẹ tay và dày công tập dợt với một số vật dụng làm sẵn.

Lũ khách: tiếng chỉ chung người Tàu sống ở Việt Nam.

 

-- *** --

 

186.-"Hát mà trong bụng xáo xào - Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi - Cả kêu dân chúng hỡi ôi - Sao không thức tỉnh việc đời gần bên".

 

Luận giải(dòng 13 tới 16, trang 47)

 

Đứng rao bán thuốc mà lòng lo buồn, Người nói giặc bên Tàu đã giết hại quá nhiều thường dân, rồi lớn tiếng khuyên người đời mau thức tỉnh, vì ngày thế gian tiêu diệt tới gần bên.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Cả kêu: nói lớn lên cố ý cho nhiều người nghe và chú ý.

Việc đời gần bên: chỉ cuộc đời sắp đến ngày tiêu diệt.             

Thức tỉnh: xin xem số 53.                           

-- *** --

 

187.-"Khổ đà đi đến như tên - Rán lo tu niệm tìm nền vinh hoa - Vinh này của Đức Phật Bà - Của Ông Phật Tổ ban mà cho dân".

 

Luận giải: (dòng 17 tới 20, trang 47)

 

Người cho biết chuyện đau khổ đang đến, và đến thật mau như tên bay, nên Người khuyên rán lo tu niệm để được an vui hạnh phúc theo lời dạy của đức Quán Thế Âm bồ tát và giáo lý giải thoát của Phật Tổ ban bố cho dân chúng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Như tên: chuyện khổ đến mau như mũi tên bay.

Tu niệm: xin xem số 12.

Nền vinh hoa: thông thường là được giàu sang, sống sung sướng. Nghĩa bóng chỉ được thành đạo, dứt hết phiền muộn, sống yên vui, không hận thù, không đau khổ chia ly.

Phật Bà: Phật Quán Thế Âm.

 

Phụ giải:

 

Giáo lý giải thoát: lý lẽ của đạo dạy cởi mở sự trói buộc, thoát khỏi đau khổ của cuộc đời.

 

-- *** --

 

188.-"Tu cho nhàn toại tấm thân - Đừng làm tàn ác xa lần Tiên bang - Hát kêu bớ kẻ giàu sang - Rán lo làm phước làm doan mới là"

 

Luận giải:  (dòng 21 tới 24, trang 47)

 

Tu để ngày sau được thanh nhàn thong thả, làm hung ác không sao an ổn được tâm hồn. Người kêu gọi những ai có tiền của nên mở lòng l àm phước để gây duyên lành.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nhàn toại: được an nhàn vui vẻ, sung sướng, thảnh thơi.

Tiên bang: nơi có an vui, không đau khổ, không hận thù.

Làm phước: vui vẻ giúp đỡ nguời nghèo khổ, bị tai nạn. 

Làm doan: hay làm duyên - tiếng dân gian - là làm phước để gây duyên lành.      

-- *** --

 

189.-"Đến lâm cảnh khổ có Ta - Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho -Tu hành phải rán trì mò- Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh khi"

 

Luận giải:  (dòng 25 tới 28, trang 47)

 

Người đời phải rán chịu khó, bền lòng, siêng học hỏi lý đạo, gặp đau khổ, nguy hiểm sẽ có Người và Phật Bà cứu độ. Còn một điều nên nhớ là gặp Ông Lão Đưa Đò đừng khi dể.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lâm cảnh khổ: gặp hay bị vướng vào cảnh khổ.

Phật Bà: xin xem s ố 197.

Trì mò: giữ luật Đạo và bền lòng tìm học hiểu ý nghĩa những lời Phật dạy.

Lão Đưa Đò là một hoá thân của Đức Thầy.                                         

 

-- *** --

 

190.-"Dạy rồi Thầy Tớ liền đi - Biên Hoà đến đó vậy thì xem qua - Đến đây dạy dỗ gần xa - Khuyên trong bá tánh vậy mà tỉnh tâm".

 

Luận giải: (dòng 29 tới 32, trang 47)

 

Giảng xong ở Bà Rịa liền thẳng hướng Biên Hòa, tới đó, Các Vị đi khắp nơi trong tỉnh chỉ dạy đạo lý, khuyên người đời bình tĩnh xét kỹ lòng mình để từ bỏ điều sai quấy, rán sửa tánh răn lòng tu theo Phật đạo.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tỉnh tâm: xin xem 4.

Bình tĩnh: làm chủ được lòng, không hốt hoảng, rối trí.

Đạo lý: nghĩa lý chơn chánh của tôn giáo; những lệ luật hay từ xưa lưu lại, được xã hội thừa nhận, xem như khuôn thước trong cách đối xử ở đời.

 

-- *** --

 

191.-"Ngày nay gặp Bạn Tri Âm - Rán mà trì chí đặng tầm huyền cơ -Tân An dạy dỗ kịp giờ-  Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây Ninh".

 

Luận giải: (dòng 33 tới 36, trang 47) 

 

Ngày nay gặp Bạn Tri Âm hãy rán bền lòng tìm hiểu sự cao sâu trong bộ máy của Trời. (Phải chăng ý Người muốn nói, được may mắn theo Đạo, thì phải bền lòng rán đọc kinh giảng để tìm hiểu phần nào ý nghĩa cao sâu trong sự sắp xếp của Trời Phật?) Giảng dạy xong ở Tân An, không chậm trễ, Người đi liền Tây Ninh.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bạn Tri Âm: bạn thân, hạp tánh, rõ lòng dạ nhau. Xin xem chuyện Bá Nha, số 207.

Trì chí: bền lòng không bỏ cuộc.

Tầm huyền cơ: tìm hiểu lý lẽ cao sâu của máy trời.

Chần chờ: dây dưa, lưỡng lự, kéo dài thì giờ.

 

-- *** --

 

192.-"Tới đây vừa lúc bình minh - Điên ra sức giảng mặc tình nghe không - Giảng rồi Dầu Một thẳng xông - Thiềng thị giáp vòng thứ chót là đây - Thương dân giảng dạy dẫy đầy - Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn"

 

Luận giải: (dòng 1 tới và 6, trang 48)

 

Tới Tây Ninh trời mới vừa sáng, giữa đông người, Người giảng dạy đạo lý một cách thật rõ ràng, còn ai có nghe và chịu tu hay không thì tùy ý. Giảng xong ở Tây Ninh, Người đi thẳng qua Thủ Dầu Một, đây là nơi giảng đạo sau cùng. Thương dân, Người chỉ dẫn đầy đủ, rõ ràng, ai nghe qua cũng hiểu; cứ như vậy, tối ngày không nghỉ chơn, không dứt tiếng. Người đi khắp chốn cùng nơi trong tỉnh không bỏ sót chỗ nào.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Bình minh: trời vừa sáng, rựng sáng.

Dầu Một: tức Thủ Dầu Một, tên tỉnh thời Pháp, đến thời Cộng Hòa đổi thành tỉnh Bình Dương.

Mặc tình: tùy ý thích, muốn nghe hay không không nài ép.

 

-- *** --

 

193.-"Nhiều người hung ác quá chừng - Không biết đời khổ lo mừng lo vui - Nhắc ra dạ nọ nào nguôi - Từ đây Lục Tỉnh đui cùi thiếu chi".

 

Luận giải: (dòng 7 tới 10, trang 48)

 

Bây giờ nhắc lại lòng Người vẫn chưa dịu nỗi buồn, vì thấy người thế gian ngoài những kẻ hung dữ quanh năm không ngừng làm điều gian ác, phần còn lại hầu hết đều ham mê vui chơi, không biết mình đang trong cảnh khổ, sắp chết tới nơi. Kể từ đây, lục tỉnh cùi đui càng có thêm nhiều. Nghĩa bóng: những kẻ không biết nhìn xa, không thấy đạo lý khác nào kẻ đui; vì không thấy, không biết làm việc phải, việc lành giúp đỡ người thiếu may mắn, thì khác gì có tay như cùi ?

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nào nguôi: không nguội lạnh, không giảm, không phai lợt.

Thiếu chi: có rất nhiều.

Lục tỉnh: xin xem số 14.

Đui: mắt không thấy đường.

Cùi: bịnh lở da, chảy máu mủ, đau nhức, rụng từ lóng tay. 

 

-- *** --

 

194.-"Nói mà trong dạ sầu bi - Bá gia chậm chậm khinh khi Điên này - Đừng ham nói nọ nói này - Lặng yên coi thử Điên này là ai".

 

Luận giải:  (dòng 11 tới 14, trang 48)

 

Nói mà trong dạ buồn rầu, Người khuyên kẻ thế gian đừng vội khi dể cười chê, hãy lặng yên chờ, ngày sau sẽ biết Người là ai.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nói nọ nói này: chê cười mà nói gần xa, nói vòng vo.                                                       

-- *** --

 

195.-"Cảm thương Ông Lão Bán Khoai - Vì yêu dân chúng chẳng nài nắng mưa - Câu này nhắc chuyện năm xưa - Khuyên trong trần hạ hãy chừa lòng tham". (dòng 15 tới 18, trang 48) 

 

Luận giải

 

Nhớ chuyện năm xưa, nghĩ mà thương Ông Lão Bán Khoai, vì lo cứu độ người đời nên đã chịu cực khổ, phơi nắng dầm mưa đi khắp nơi dạy Đạo, khuyên dân chừa bỏ lòng tham.

 

Nghĩa chữ khó:

Ông Lão Bán Khoai: 1 hoá thân của Đức Thầy.

                                                  

-- *** --

196.-"Khùng thời quê ngụ núi Sam - Còn Điên chẳng có chùa am dưới này - Vua Nghiêu xưa mở đất cày - Ngày nay nhường lại cảnh này cho Điên".  (dòng 19 tới  22, trang 48)

 

Luận giải:

 

Đức Phật Thầy ngụ ở núi Sam còn Người không có chùa hay am nơi này. Hiện Người đang mở đất cày tiếp tục việc làm của vua Nghiêu ngày trước.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Vua Nghiêu: xin xem lời giải số 154. 

Nhường: cho, hay bán quyền lợi mình cho người khác.   

 

-- *** --

 

197.-"Xuống trần dạy dỗ huyên thiên - Dạy rồi thì lại thảm phiền nhiều hơn - Cầu xin Phật Tổ ra ơn - Lời Điên khuyên nhủ như đờn Bá Nha".

 

 

Luận giải:  (dòng 23 tới 26, trang 48)

 

Người xuống trần đi khắp nơi giảng dạy Đạo lý cho dân, nhưng càng giảng dạy lòng càng thêm chua xót buồn, vì lời những khuyên nhủ không được mấy ai đón nhận. Người nguyện cầu Phật Tổ ban ơn cho dân chúng sớm biết Đạo và hiểu được lòng của Người, không đến nỗi như tiếng đờn Bá Nha ngày trước.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Huyên thiên: thật nhiều.

Bá Nha: quan đại phu nước Tống (Tàu) đờn rất hay nhưng chỉ Tử Kỳ mới hiểu tiếng đờn của ông. Do đó hai người kết nghĩa anh em. Tử Kỳ chết, Bá Nha đến trước mộ bạn dạo một khúc nhạc buồn rồi đập bể cây đờn, quyết định không đờn nữa, vì trên đời này chẳng còn có ai hiểu tiếng đờn của ông như Tử Kỳ. Đức Thầy hết lòng khuyên dạy dân, nhưng có mấy người biết nghe và hiểu được lòng Người như Tử Kỳ hiểu tiếng đờn của Bá Nha !

 

-- *** --

 

198.-"Thị thiềng khắp hết gần xa - Từ đây sắp đến quê nhà Điên đi - Đừng thấy ngu dại mà khi - Thầy thì Huệ Lựu, Tớ thì Huệ Tâm - Đời cùng còn chẳng mấy năm - Khắp trong các nước thây nằm bằng non".

 

Luận giải(dòng 27 tới 32, trang 48)

 

Đã đi khắp cùng thành thị gần xa, nay lần trở về quê nhà, Người khuyên dân đừng thấy hai vị Huệ Lựu với Huệ Tâm * có dáng vẻ dại khờ mà khi dể. Đời đã cạn cùng, không còn được mấy năm, khắp các nước trên thế gian thây người chết chất chồng như núi.

*- xin tìm xem quyển 11 Hồi của Ông Sư Vải Bán Khoai.

 

-- *** --

 

199.-"Cha thì chẳng thấy mặt con - Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia - Khuyên trong lê thứ trẻ già - Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho"(dòng 33 tới 36, trang 48)

 

Luận giải:

 

Vì biết sẽ có ngày cha không thấy mặt con, vợ lạc mất chồng, người đời trên khắp thế gian chịu nhiều thương đau, chết chóc, nên Người khuyên dân cố gắng làm lành, tránh dữ, sửa tánh, răn lòng, sớm tối rán tu, nhờ công tu đó mới hy vọng được ơn đức chư Phật cứu độ qua hồi hiểm nguy.

 

Nghĩa chữ khó:

Không còn tại gia: không còn ở nhà.                          

 

-- *** --

 

200.-" Ấy là quí báu thơm tho - Đừng ham gây gổ nhỏ to làm gì - Con thì ăn ở nhu mì - Học theo luân lý kính vì  mẹ cha".

 

Luận giải:  (dòng 1 tới 4, trang 49) 

 

Tu hành ngay thật sẽ được tiếng thơm, người đời kính trọng và ngày sau vô cùng quí báu. Đừng ham lời to tiếng nhỏ gây sự với nhau không tốt. Phận làm con thì phải nói năng nhỏ nhẹ, dịu dàng, giữ gìn đạo lý mà hiếu kính với Mẹ Cha.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Gây gổ: cự nự hay dùng lời lẽ nói nặng nhau.

Nhu mì: hiền, dịu dàng trong cách đối xử.

Kính vì: kính trọng, Ông Bà, Cha Mẹ, kính người lớn tuổi.

Luân lý: lẽ phải, đạo lý ở đời, dạy con người sống theo luật lệ tốt của xã hội, của gia đình; làm phải, tránh quấy. Chữ luân là lẽ phải, đạo lý, phép chánh đáng con người nên theo. Xin xem số 149.                                    

-- *** --

 

201.-"Sau này sấu bắt hùm tha - Xử người tàn bạo vậy mà tại đây - Đời xưa quả báo thì chầy - Đời nay quả báo một giây nhãn tiền".

 

Luận giải: (dòng 5 tới 8, trang 49)

 

Người hung dữ, độc ác sau này sẽ bị luật Trời xử phạt, nếu không bị cọp hùm xé xác thì cũng bị sấu ăn. Ngày xưa sự trả quả còn lâu chớ đời nay quả báo thấy ngay trước mắt, chỉ trong một giây thôi.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Sấu: giống vật bò sát rất dữ, lội nước bắt mồi ăn thịt sống.

Hùm: một giống cọp dữ.

Quả báo: có nghĩa lãnh lấy kết quả. Do cái nhơn lành, tức trước đã làm việc tốt, lành, thì hưởng kết quả lành như được điều may mắn, vui vẻ. Nếu do cái nhơn dữ, tức trước đã phạm tội lỗi bằng thân, bằng miệng, bằng ý, thì cái kết quả dữ trả lại cho mình, là lãnh chịu các việc không may như tai họa, khổ sở. Đời xưa quả báo thì chầy. Chầy là chậm, là muộn. Đời nay quả báo m ột giây: giây là mỗi phút có 60 giây, tức là đời nay quả báo đến mau lắm, nhãn tiền: thấy ngay trước mắt, chỉ một giây là có quả báo. Xin xem số 28.    

Một giây nhãn tiền: thấy liền trước mắt.

 

-- *** --

 

202.-"Dương trần phải rán làm hiền - Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân - Người hung phải sửa cái thân - Từ đây có kẻ Du Thần xét soi"(dòng 9 tới 12, trang 49)

 

Luận giải

 

Người đời phải rán ăn ở hiền lành, đừng xem nặng tiền của mà coi thường nhân với nghĩa. Kẻ hung dữ nên cố gắng sửa tánh, răn lòng. Từ đây lúc nào cũng có Du Thần đêm ngày tuần tra, soi xét, không việc tốt, xấu, lành, dữ nào bị bỏ sót.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Nghĩa: điều được xem là hợp lẽ phải, khuôn phép cho cách xử thế của con người trong xã hội; sẵn sàng cứu giúp người yếu thế, hoạn nạn, nghèo khổ. Đối xử tốt với người giống như người đã đối xử với mình. Người ta làm điều phải, tốt, ích lợi cho mình thì mình phải làm lại cho người ấy giống như vậy, gọi là nghĩa. (Ăn ở có nghĩa, giữ nghĩa)

Nhân: lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người; thương và trọng mạng sống sanh vật.

203.-"Chuyện người chớ móc chớ moi - Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình - Ai thương ai ghét mặc tình - Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay" (dòng 13 tới 16, trang 49)

 

Luận giải:

 

Chuyện riêng của người chớ nên tìm hiểu. Hãy nhìn và học gương tốt của các bực hiền xưa mà sửa chửa phận mình. Ở đời ai thương ai ghét mặc người, phận mình lúc nào cũng giữ cuộc sống thẳng ngay và lòng dạ trong sạch.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Móc moi: tìm hiểu việc riêng của người rồi khen chê.

Thiện: tốt, hay, giỏi và hiền lành.

Treo gương thiện: tìm hiểu, học việc hay, tốt, điều chánh đáng của người xưa, của những bực tu hành ngay thật đạo cao đức trọng, như nhìn vào gương soi để sửa mình.

 

 

-- *** --

 

204.-"Điên đây vưng lịnh Phương Tây - Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá gia - Thấy đời lòng dạ tây tà - Cứ theo chế nhạo cười mà người Điên".

 

Luận giải: (dòng 17 tới 20, trang 49)

 

Người vâng lịnh chư Phật theo Thầy xuống trần dạy Đạo cứu dân, vậy mà lắm kẻ tánh tình hư hỏng, lòng dạ xấu xa, không chịu nghĩ suy tìm hiểu, cứ theo chế nhạo, chê cười, có kẻ còn cho Người là người Điên !

 

Nghĩa chữ khó:

 

Tây phương là phương Tây, chỉ thế giới của Đức Phật A Di Đà ở phương Tây.    

Bá gia: xin xem số 2.

Tây tà - tà tây: có hai ý:

      1.- chỉ thực dân (nước Pháp ở hướng Tây của Việt Nam) và các người lấy tin cho chúng.

      2.- lòng dạ gian xảo, dối trá, xấu xa.

 

-- *** --

 

205.-"Ngồi buồn kể chuyện huyên thiên - Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ - Viết cho bá tánh ít tờ - Đi làm ruộng rẩy bỏ hờ theo xem". (dòng 21 tới 24, trang 49)

 

Luận giải: 

 

Ngồi buồn nghĩ lại, bởi vì lòng muốn cứu dân nên miệng phải nói nhiều, chớ Người đâu phải ham tiền, cũng chẳng làm sai trật mà bị ghét. Nay Người viết cho người đời mấy trang này, đi làm ruộng, làm rẩy nhớ đem theo, lúc nghỉ mệt lấy ra xem.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Huyên thiên: nhiều lắm

Bị ghét vơ: không làm sai, không có tội cũng bị ghét lây.

Ít tờ: vài tờ (giấy), mỗi tờ là hai trang.

Bỏ hờ: đem theo vật gì đó phòng khi cần, hay hư mất có mà thay thế.

-- *** --

 

206.-"Thương người nghèo khổ lấm lem -Thấy cảnh sung sướng nó thèm quá tay - Ai mà biết đặng ngày mai - Ngày nay yên tịnh ngày mai thảm sầu"(dòng 25 tới 28 trang 49)

 

Luận giải:

 

Thương người nghèo phải làm lụng khổ cực mới có ăn, tay chơn quần áo lúc nào cũng lấm lem bụi đất rồi nhìn cảnh sung sướng của người giàu khiến lòng họ ước ao, ham muốn. Nhưng ai ngờ được chuyện đời, bây giờ yên vui biết đâu ngày mai đau khổ.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lấm lem: dơ bẩn, mặt mày quần áo dính đầy bụi đất.

Thèm quá tay là hết sức thèm muốn, lòng rất ước ao có được như người.

Yên tịnh: yên ổn, không việc gì xảy ra.

  

-- *** --

 

207.-"Từ rày gặp cảnh buồn rầu - Cho người tàn bạo cứng đầu khinh khi - Dương trần nay đáng sầu bi - Nên Điên mới nói chuyện ni tỏ tường". (dòng 29 tới 32, trang 49)

 

Luận giải: 

 

Từ đây bọn cứng đầu, ngang ngược, hung ác khinh khi lời giảng đạo của Người sẽ gặp nhiều điều khó khăn nguy hiểm để chúng hết dám xem thường đạo lý của Phật Trời. Đời đáng buồn lắm, nên Người mới nói rõ chuyện này để thế nhân hiểu rõ ràng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Từ rày: kể từ ngày nay.

Tàn bạo: hung dữ ác độc.

Cứng đầu: không nghe lời khuyên dạy điều hay, lẽ phải.

Chuyện ni: chuyện này.

-- *** --

 

208.-"Đêm ngày tưởng Phật cho thường - Phải rán lo lường kim chỉ từ đây  - Thương đời Điên mới tỏ bày - Dạy trong trần hạ ngày rày rán nghe".  (dòng 33 tới 36, trang 49)

 

Luận giải:

Người khuyên thế nhân cố gắng ngày đêm niệm tưởng Phật để tìm sự thanh thản cho tâm hồn, và trong cuộc sống hằng ngày nên cần kiệm, đừng ăn xài phung phí. Vì thương đời Người nói rõ ra đây, vậy, mong dân chúng hãy rán nghe mấy lời khuyên này mà sửa mình, lo tu.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Lo lường: biết suy nghĩ, tính toan, thu xếp, sắp đặt kỹ để làm công việc được tốt.

Kim chỉ: kim và chỉ là hai vật nhỏ, ở đây ngoài việc ngầm chỉ sự khéo tay của phụ nữ còn khuyên phải biết xài tiền đúng chỗ, biết dành để, không nên phung phí.

Trần hạ: xin xem số 64.

 

Phụ giải:

 

Phung phí: xài tiền không đúng chỗ.

Ngày rày: từ hôm nay, từ bây giờ.                

 

-- ***--

 

109.-"Đừng khi nhà lá chòi tre - Nhà săng cột lớn bù xè hay ăn - Lúc này Điên mắc lăng xăng Dương trần biết đặng đạo hằng mới thôi".

 

Luận giải:  (dòng 1 tới 4, trang 50)

 

Đừng khi dể người nghèo trong nhà lá nhỏ hay ở mái chòi tre. Nhà giàu, cột bằng cây săng coi quí đó, nhưng thường bị bù xè đục khoét bên trong. Người không lúc nào xao lãng việc giảng Đạo dạy đời, chừng nào trong dân chúng, ai nấy đều hiểu biết đạo lý, bấy giờ Người mới yên lòng về non.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Chòi tre: nhà nhỏ, cất sơ sài, cột tre, lợp rơm hoặc tranh.

Mắc lăng xăng: rất bận rộn, không rảnh.

Nhà săng: nhà giàu, cột kèo bằng cây săng, tức loại cây tốt, mắc tiền, nhưng thường bị bù xè, một loại sâu nhỏ đục khoét, ăn luồn trong ruột, làm hư cây. Nghĩa hai câu 1 và 2 khuyên không nên coi thường, khi dể người nghèo, họ nghèo mà trong sạch, còn có những gia đình giàu, nhà lớn nền cao, nhưng bên trong đời sống của họ quá nhiều chuyện hư xấu.

Xao lãng: bỏ bê, không để ý tới

Đạo hằng: xin xem số 149.   

-- *** --

 

210.-"Chẳng ham cúng kiếng chè xôi - Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu - Muốn cho dân hiểu Đạo mầu - Chớ không có muốn chùa lầu cho cao". (dòng 5 tới 8, trang 50)

 

Luận giải

 

Phật Trời đâu ăn chè xôi và cũng không muốn người đời cúng kiếng để cầu xin ân phước, đó là việc xấu, một hình thức lo lót. Phật Trời muốn ai cũng hiểu biết Đạo lý hơn là xây cất chùa lớn, cao nhiều từng, chỉ làm hao tiền, tốn công của dân chúng.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Cúng: dâng lễ vật lên Trời Phật, Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ đã chết.

Kiếng: thêm một mâm, để riêng bàn thấp hơn, dành mời những vị khuất mặt ngoài Ông Bà, Cha mẹ. Kiếng cũng là kính, là tôn trọng.

Điều tồi: điều xấu, điều hư hỏng.

Đạo mầu: đạo lý cao sâu mầu nhiệm, khó có đủ lời giải thích được. 

Lầu: nhà cao nhiều từng, chỉ nhà giàu.

                                            

-- *** --

211.-"Bao nhiêu cũng biết vàng thau - Dạy khôn trần thế chớ nào dạy ngu - Sáng ngày con chó sủa tru - Chừng heo cắn ổ hiềm thù mới yên". (dòng 9 tới 12, trang 50)

 

Luận giải:

 

Bao nhiêu lời khuyên dạy đó cũng đủ cho người đời suy nghĩ để phân biệt đâu là thiệt đâu là giả, đâu đúng, đâu sai. Người dạy dân lẽ chánh điều hay chớ không dạy chuyện xấu, việc hư. Hãy rán tu, tới hai năm Tuất - Hợi, thế gian mới hết chuyện oán thù.

 

Nghĩa chữ khó

 

Vàng thau: sự phân biệt thiệt giả, quí báu hay tầm thường, vàng là loại mắc tiền, còn thau, mới nhìn giống vàng nhưng không đáng giá.

Heo cắn ổ: chỉ năm Hợi, năm con Heo.         

Tru: tiếng chó kêu rú và kéo dài nghe rất buồn. Câu này chỉ năm con Chó, tức năm Tuất. (Hai câu này thuộc về Sấm, chỉ khi nào tới việc mới hay biết) 

 

-- *** --

 

212.-"Đừng ham giành giựt của tiền - Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu".

 

Luận giải(dòng 13 và 14, trang 50)

 

Đừng ham giành giựt tiền của. Kẻ hung dữ thấy người tu hiền không ham tranh giành tiền của, chức quyền thì chê cười họ ngu dại. Danh vọng tiền tài sớm còn chiều mất và cũng không là điều kiện xây dựng hạnh phúc, chỉ có tình thương thành thật giữa con người với nhau mới giữ được lâu bền. Với bực giác ngộ thì việc đời không còn mà cũng không mất, không sanh mà cũng không diệt, không thêm không bớt.

 

Nghĩa chữ khó:

 

Giành giựt: tranh và chụp lấy, giựt thật mau về cho mình.

Hung: người dữ, người ác.

Hiền: thương người, hay cứu giúp người; không ưa giết hại thú vật.

Ngu: rất kém về trí óc, ít hiểu biết.

 

-- *** --

 

213.-"Nay Điên chỉ rõ đường tu - Ấy là đủ việc tài bù cho dân - Thôi thôi nói riết dần lân - Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên".

 

Luận giải:  (dòng 15 tới 18, trang 50).  

 

Nay Người chỉ rõ đường tu, xem như sự đền bồi, thưởng công cho những ai thật dạ ngay lòng. Nhưng thôi, nói hoài thành dông dài. Tới đây cũng đủ, xin tạm dừng bút.

 

Nghĩa chữ khó:                             

 

Tài bù: đền bồi, bồi đắp cho tốt; được nhiều hơn.

Nói riết dần lân: tâm ý của Người là giảng dạy Đạo lý, nên phải nói nhiều, nói mãi chỉ có một vấn đề thành ra nói dần lân, kéo dài câu chuyện.

Bút nghiên chỉ văn chương chữ nghĩa.

 

 

 

NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 

 
HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TRÌNH HỘI ÐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV

Send mail to phvpghh@aol.com with questions or comments about this web site.
Copyright © 2003 PhatHocVienPGHH
Last modified: 27/01/06