Ca Dao An Vi

Đông Lan

      Từ trước tới nay chúng ta chỉ nghe nói đến các lọai ca dao: Theo đặc tính địa phương th́ có ca dao nam bộ, ca dao miền trung…Hoặc theo cách kết cấu th́ có ca dao ở thể trào phúng, nói lái…Hay là theo nội dung th́ có ca dao tranh đấu, ca dao ru em…Nhưng thật ra, đi sâu vào tư tưởng và tâm t́nh của dân tộc Việt  qua Ca Dao, ta c̣n có thể phân biệt một ḍng ca dao khác nữa. Ca Dao An Vi là những vần ca dao chắt lọc từ kho tàng ca dao dân tộc. Nhưng tích cực hơn nó có  Tính An Vi cuả con người Việt. Có nghĩa là Ca Dao An Vi là những vần thơ  từ ḍng tâm thức  tự nhiên, an lành, đơn sơ , chuyên chở ư nghĩa về Tâm Đạo của Dân Tộc Việt.

     Đề cập đến Tâm Đạo, có lẽ chúng ta dễ nghĩ đến những điều cao siêu xa rời đời sống. Thưa không, Tâm Đạo ở đây chỉ là con đường trở về cái Tâm Thức ban sơ của con người. Nó trong lành như tâm thức vô phân biệt của Trẻ Thơ.  Cái Tâm  Thức sáng suốt thiện lành đẹp đẽ, cái Tâm chan ḥa khắp vũ trụ nhân linh . Cái Đạo Tâm bao la ấy biểu lộ cụ thể thành  xúc cảm, T́nh Yêu  của con người với vạn vật , thiên nhiên, và giữa người và người với nhau, không phân biệt mầu da, tôn giáo, tài sản….T́nh Yêu ấy như vượt qua cả cá nhân nhỏ bé, chật hẹp, cảm thức vươn lên cơi mênh mang của niềm ḥa hợp thông giao cái ta nhỏ bé này với cội nguồn  nào bao la hơn. Triết Việt gọi niềm rung cảm ḥa đồng ấy là Thái Ḥa. Ḥa Trời- Ḥa Đất- Ḥa Người. Ca Dao An Vi là cách biểu tỏ niềm rung cảm tự nhiên  ấy trong bản thể con người bằng những vần thơ lục bát dịu dàng nuôi dưỡng cái t́nh yêu trời yêu đất yêu người ḥa ái đơn sơ . Nên có thể nói Ca Dao An Vi chính là nhịp đập cuả Trái Tim  Dân Tộc.

     Lao tác là một đặc tính sáng tạo của trí óc con người. Của tŕnh độ mà khi con người đă bắt đầu ư thức Nhân Chủ của ḿnh, tách ra khỏi đời sống du mục săn bắt, hái trái hoang dă, biết chế biến dụng cụ, chăn nuôi, trồng trọt hoa mầu, làm nhà, dệt vải…  Do đó, trong nền văn hóa nông nghiệp của Tổ Tiên Việt Tộc, Ca Dao An Vi, cũng bắt đầu với những nhịp đập yêu mến của cảnh lao tác của nhà nông.

 

Cỏ luá đă dọn sạch rồi,

Nước ruộng vơi đầy c̣n độ một hai.

Cao th́ đong một gầu dai,

Ruộng thấp th́ phải đong hai gầu ṣng.

.Chờ cho luá có đ̣ng đ̣ng,

Bấy giờ ta sẽ trả công cho người.

Bao giờ cho đến tháng mười,

Ta đem liềm hái ra ng̣ai ruộng ta.

Gặt hái ta đem về nhà,

Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.

 

Ca Dao An Vi c̣n nói lên cảnh sống tổng quát của một năm trong một gia đ́nh điển h́nh ở làng quê:

 

Tháng chạp là tháng trồng khoai,

Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà.

Tháng ba cầy vỡ ruộng ra,

Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng.

Ai ai cùng vợ cùng chồng,

Chồng cầy vợ cấy trong ḷng vui thay.

Tháng năm gặt hái đă xong,

Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy.

Năm nong đầy em xay em giă,

Trấu ủ phân cám bă nuôi heo.

Sang năm lúa tốt tiền nhiều,

Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng.

Đói no có thiếp có chàng,

C̣n hơn chung đỉnh giầu sang một ḿnh.

          

Ca Dao An Vi cũng nhắc ta cội nguồn Lạc Việt :

 

Dù ai đi ngược về xuôi,

Nhớ về giỗ Tổ mùng Muời tháng Ba.

   

Và Ca Dao nói lên tính chất Nhân Chủ Thờ Người của Văn Hóa Việt, nơi  di tích lịch sử ở Vĩnh Phú, Phú Thọ, dân ta đă lập đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương:

 

Ai về Phú Thọ cùng ta,

Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười.

    

Ca Dao An Vi  c̣n nói lên  t́nh tự quê hương với lịch sử và đất nước như  các vần ca dao về câu chuyện lịch sử :

 

Ai về đến huyện Đông Anh,

Ghé xem phong cảnh Loa thành Thục Vương.

Cổ Loa h́nh ốc khác thường,

Trải bao năm tháng nẻo đường c̣n đây.

    

Hay là:

 

Ai về Hậu Lộc Phú Điền,

Nhớ đây bà Triệu trận tiền xung phong.

   

 Người Việt ng̣ai đời sống nông nghiệp ổn định có những khi phải đối phó với giặc ngọai xâm để giữ ǵn mảnh đất, bờ ruộng, đời sống an vui ḥa lạc của văn hóa quê ḿnh. Tâm thức Nhân Chủ lại biến thể thành t́nh yêu đất nước, đồng bào. Và c̣n đẹp hơn nữa, T́nh Yêu ấy, v́ mang sắc mầu Nhân Chủ, đạo lư của quê hương, nên tuyệt nhiên Làm v́ T́nh Yêu, v́ Đại Nghĩa. Đó là Tâm Thức Vô Cầu của cậu bé làng Phù Đổng. Dẹp giặc cứu nước xong rồi, không màng đến công danh hư  ảo của trần gian, bay về trời hưởng chân hạnh phúc trong đỉnh an lành:

 

Nhớ xưa đương thủơ triều Hùng,

Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa.

Trời thương Bách Việt sơn hà,

Trong nơi thảo măng nổi ra kỳ tài.

Lên ba đang tuổi anh hài,

Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền.

Một phen khói lửa dẹp yên,

Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.

    

Rồi Làng Quê Việt lại trở về trong cảnh hữu t́nh thấm trong từng mạch đất hương quê, cho ḷng an nhiên  thanh thóat:

 

Làng tôi có lũy tre xanh,

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

Bên bờ vải nhăn hai hàng,

Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

    

Vào ngày lễ hội, những sinh họat cũng có sắc mầu riêng của nền  văn hóa chân chất cuả làng quê  khi từng bè nam nữ cùng hát vui, hát đố nhau. Con người vưà hát, nói, ăn, chơi bên những vần điệu và ư thơ chở đầy t́nh tứ:

 

Ở đâu năm cửa nàng ơi,

Sông nào sáu khúc nước chẩy xuôi một ḍng.

Sông nào bên đục bên trong,

Núi nào thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.

Đền nào thiêng nhất tỉnh Thanh,

Ở đâu mà lại có thành tiên xây.

Ở đâu là chín tầng mây,

Ở đâu lắm nước ở đâu nhiều vàng.

Chùa nào mà lại ở hang,

Ở đâu lắm gỗ thời nàng biết không?

…….

   

 Rồi bên nữ phải trả lời cho được các câu hỏi. Ta hăy nghe nàng đáp lại:

 

Thành Hà nội năm cửa chàng ơi

Sông Lục đầu sáu khúc nước chẩy xuôi một ḍng

Nước sông Thương bên đục bên trong

Núi Đức Thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh

Đền  Ṣng thiêng nhất tỉnh Thanh

Ở trên tỉnh Lạng có thành Tiên xây

Trên trời có chín tầng mây

Dưới sông lắm nước, núi nay lắm vàng

Chuà Hương tích mà lại ở hang,

Trên rừng lắm gỗ thời chàng biết không?

….

    

Nhưng nổi bật nhất của Ca Dao An Vi vẫn măi là những vần thơ trữ t́nh của trai gái làng quê trong cảm mến, yêu thương:

 

Hôm qua tát nước đầu đ́nh,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được th́ cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.

Ao anh sứt chỉ đuờng tà,

Vợ anh chưa có Mẹ già chưa khâu.

Ao anh sứt chỉ đă lâu,

Hay mượn cô ấy về khâu áo này.

Khâu rồi anh sẽ trả công,

Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.

Giúp em một thúng xôi ṿ,

Một con lợn béo một ṿ rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo.

Gíup em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

    

Đ́nh Làng Quê Việt c̣n là một trung tâm văn hóa của người Việt: Ng̣ai việc là nơi lo công việc hành chính, không những là cơ duyên cho chàng trai ngỏ lời của t́nh yêu âm thầm trong trái tim, mà c̣n là nơi sinh họat bao hội hè lễ tết, cho nên Đ́nh c̣n là nơi chốn của bao kỷ niệm.

Ôi ! Đ́nh làng Quê Việt với bao h́nh ảnh gợi nhớ gợi thương!

 

Qua đ́nh ngả nón trông đ́nh,

Đ́nh bao nhiêu ngói thương ḿnh bấy nhiêu.

    

Sau ngày vui hội làng chàng trai đă nghe thỏang mùi hương hoa chanh hoa bưởi với một nụ cười của riêng ai trên bước đường về:

 

Ḿnh về ḿnh nhớ ta chăng,

Ta về ta nhớ hàm răng ḿnh cười.

Năm quan đổi lấy miệng cười,

Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

Răng đen ai khéo nhuộm cho ḿnh,

Để duyên ḿnh đẹp cho t́nh anh mê.

    

Nụ cười mà hàm răng đen nhánh  đến nỗi “hạt huyền kém thua” như một vần thơ ví von nào  th́ quả là cái đẹp  của Cô Gái Việt  thật rồi . V́ chỉ có cô gái Việt mới nhuộm răng đen để làm duyên làm đẹp và để ăn trầu. Nhưng chàng trai đâu chỉ muốn nói có bấy nhiêu. Chàng c̣n phải cần nói một câu quan trọng hơn:

 

Đường xa th́ thật là xa,

Mượn người làm mối cho ta một người.

Một người mười tám đôi mươi,

Một người vừa đẹp vừa tươi như ḿnh.

 

    

Rồi nhiều khi nàng con e lệ chưa biết trả lời sao, th́ chàng lại sẵn hồn thơ lai láng, dệt những vần thơ mơ ước:

 

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng.

Ước ǵ anh cưới được nàng,

Th́ anh mua gạch bát tràng về xây.

Xây dọc rồi lại xây ngang,

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

 

    Không biết rằng chàng trai lăng mạn có xây được hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân không, nhưng ước mơ T́nh đẹp quá!

 Rồi cưới được nàng rồi, mộng mơ chuyển sang t́nh nghĩa. Nghĩa là T́nh Thăng Hoa. Trong Nghĩa mới có T́nh thương chân thật và bền vững :

 

Ai ơi  chua ngọt đă từng,

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

 

H́nh ảnh người vợ mới cưới phải quên thân yếu đuối, sớm khuya trồng dâu, nuôi tằm, se tơ, dệt lụa, lo canh cửi giúp chồng ăn học đă là bức tranh đẹp nhất của t́nh nghĩa vợ chồng thời xưa:

 

Sáng trăng sáng cả vườn chè,

Một gian nhà nhỏ đi về có nhau.

V́ chồng tôi phải chạy dâu,

V́ chồng tôi phải qua cầu  đắng cay.

Chồng tôi thi đỗ khoa này,

Bơ công canh cửi từ ngày lấy tôi.

Kẻo không th́ chúng bạn cười,

Rằng tôi nhan sắc cho người say mê,

Tôi thường khuyên sớm khuyên trưa,

Anh chưa thi đỗ th́ chưa động pḥng.

    

T́nh đẹp quá, Nghĩa lại c̣n đẹp hơn. Ca Dao An Vi đă nuôi dưỡng một chữ T́nh chở  Nghĩa vợ chồng đến tận thiên thu.

Nhưng, có hạt lúa mới thành cây lúa. Có nhân mới có quả . Cuộc sống trồng cấy canh tác đă phát triển cái  Tâm Bao La của Đạo Việt. T́nh thương ấy phải có  nguồn có gốc. Ca Dao An Vi  do đó cũng đặt nền tảng cho một nền văn hóa  tô bồi cho một Đại T́nh thuở ấu thơ, đó là ḷng Hiếu Đạo. Người con được cha mẹ thương yêu lo lắng, hy sinh cho từ lúc lọt ḷng. Nhưng t́nh thương cha mẹ trong đời sống bị nhạt nḥa theo năm tháng với những đuổi bắt công danh, sự nghiệp, và ràng buộc của mối t́nh nam nữ, vợ chồng, con cái. Hiếu là một thứ t́nh của  văn  hóa. Nếu không có văn hóa người ta dễ quên đi chữ hiếu.  Hiếu không nằm trong bản năng của ḷai sinh vật. Hiếu phải được ư thức, trau giồi, phải có ư chí   của con người tham dự.  Hiếu là một biểu tỏ cao cấp của Văn Hóa Nhân Chủ.   Cho nên nh́n đạo Hiếu của một sắc dân, ta có thể  đánh giá tŕnh độ Nhân Chủ của sắc dân đó.      

 

Ai về tôi gửi buồng cau,

Buồng trước kính mẹ buồng sau kính thầy.

Ai về tôi gửi đôi giầy,

Pḥng khi mưa nắng cho thầy mẹ đi.

 

Vần thơ từ thuở thơ ấu dậy về Đạo Hiếu, người Việt nào cũng thuộc nằm ḷng:

 

Công cha như núi thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra.

Một ḷng thờ mẹ kính cha,

Cho tṛn chữ hiếu mới là đạo con.

    

Với tâm thức Nhân Chủ, nên coi việc tôn kính, phụng dưỡng cha mẹ như là một  cái Đạo, là sự tu hành chân thật, chính đáng nhất trong đạo làm người:

 

Tu đâu không bằng tu nhà,

Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

    

Trong t́nh ruột thịt Ca Dao An Vi  cũng chất phác  ví von:

 

Cắt dây bầu dây bí

Ai cắt dây chị, dây em.

    

Hay như đàn gà ríu rít :

 

Khôn ngoan đối đáp người ng̣ai,

Gà cùng một mẹ chớ ḥai đá nhau.

    

Ng̣ai khía cạnh biểu lộ t́nh cảm, Ca Dao An Vi c̣n nói lên cái quan niệm đạo đức tu sửa con người. Đời sống nông nghiệp nên cách ví von cũng  chân chất bên hột đỗ, trái bí, dây bầu:

 

Ai ơi thương lấy nhau cùng,

Đỗ ngâm ra giá đăi đùng nhau chi.

    

Hay là:

 

Bầu ơi thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

     

Giàn hoa nhân lọai! Đẹp biết bao nhiêu, Ca Dao An Vi c̣n chăm sóc cụ thể hơn:

 

Kẻ ăn người ở trong nhà,

Sớm khuya công việc giúp ta nhọc nhằn

Thương người  đầy đọa chút thân,

Chớ nên ngược đăi ḷng nhân mới là.

 

 Phát triển cái t́nh nhân lọai đầm ấm, thương xót nương nhẹ người yếu kém hơn như thế trong Ca Dao An Vi, làm sao xă hội Việt có những cảnh dă man như nô lệ, vô sản lầm than, bất nhân như bên Tây Âu được.

Cái T́nh bao la, cao cả, trải khắp nơi không phân biệt con người qua của cải, giai cấp, chủng tộc …đă thể hiện qua hai câu thơ :

 

Kinh đô cũng có người rồ,

Man di cũng có sính đồ trạng nguyên.

 

 Tuy nhiên, Quân B́nh là đạo lư của Việt Tộc. Cho nên, Ca Dao An Vi ng̣ai việc tô bồi T́nh Nghĩa Con Người, nhưng  cũng khuyên con người phải dùng Trí Tuệ của ḿnh đề nhận thức  mọi vấn đề của đời sống sao cho đạt được sự sâu xa ṭan diện :

 

Làm người phải có trí khôn,

Nghĩ sao cho hết đất VUÔNG trời TR̉N.

 

     Đạo Lư Vuông Tṛn của Dân Tộc Việt là Đạo Làm Người, là Nhân Đạo Hai Chiều  Nối Kết, Ràng Buộc  giữa  Thiên Địa, không duy thiên lơ lửng huyễn hoặc trên trời hay duy địa là sà mặt đất. H́nh ảnh một h́nh Tṛn bao bọc lấy h́nh Vuông một cách cân đối như cặp bánh chưng bánh dầy, là một biểu tượng của sự giác ngộ mối Tương Quan, Ḥa Hợp  ấy của tất cả các cặp mâu thuẫn nền tảng trong vũ trụ, con người, vạn vật: lư trí và t́nh cảm, vật thể và tâm linh, tiểu ngă và đại ngă, tương đối và tuyệt đối, hữu h́nh và siêu h́nh, không gian và thời gian, đời và đạo…

 Do đó Đạo Lư Việt  nh́n đời sống trong cái nh́n ṭan thể, bao dung , tương đối:

 

Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,

Sao trăng lại phải chịu ḷn đám mây.

Đèn khoe đèn tỏ hơn  trăng,

Đèn ra trước gió được chăng hỡi đèn?

    

Ḍng Ca Dao An Vi c̣n là một ḍng suối Nhân Bản tinh tuyền .  Đường đời xa xôi, gian nan, ḷng người đâu phải lúc nào cũng trinh bền với Tâm Đạo, cũng có lúc lao lung, lầm lối, lạc đường. Th́ Ca Dao An Vi nhắc nhở:

 

Ai mà phụ nghĩa quên công,

Th́ đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.

    

Hay:

 

Trăm năm bia đá th́  ṃn,

Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ.

    

Cùng giúp nhau giữ Nhân Đạo, những vần  Ca Dao An Vi c̣n  giúp nhau đức khiêm nhường:

 

Ai nhất th́ tôi thứ nh́,

Ai mà hơn nữa tôi th́ thứ ba.

    

Hay cái Hạnh của đức tương dung, giải quyết mọi mâu thuẫn, khác biệt trong hiểu biết, ḥa hợp. Kỵ nhất là cái tính cực đoan, hủy diệt đối lập.

 

Bên thẳng th́ bên phải chùng,

Hai bên cùng thẳng th́ cùng đứt  dây.

 

Đức Tương Dung c̣n sáng tỏ hơn trong cách đối nhân xử thế :

 

Đừng khôn ngoan chớ vụng về,

Đừng cho ai lấn chớ hề lấn ai.

    

Một nền Văn Hóa có những vần ca dao của t́nh yêu thương mà thực tế, cụ thể, ơn ích cho sự ḥa ái với nhau, thảo nào Văn Hóa Việt chẳng tạo ra những mẫu người HIỀN LÀNH.. Cái hiền hậu và an lành của triết nhân, thi nhân, hiền nhân xứ Việt.  Cái hiền hậu, an lành của tâm thức sáng suốt, sống theo quy luật Thái Ḥa muôn thuở của vũ trụ nhân sinh. Cho nên người Hiền Lành của Văn Hóa Việt sống với Tâm An Nhiên giữa đời động lọan như những đóa sen trong sạch giữa bùn lầy:

 

Trong đầm ǵ đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.

Nhụy vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    

     Tŕnh độ tâm thức đạt đến  “ Sen Trắng giữa Bùn Đen, đó chính là Tâm Thức An Vi. An Vi là sống với Vô biên trong đời Hữu hạn, nên tâm hồn được B́nh An với Đạo Lư giữa bao nghịch cảnh của đời thường .

     Ca Dao An Vi đă đưa con người Việt về với Tâm Đạo Việt. Thật thế, Ca Dao An Vi đă hun đúc t́nh tự dân tộc, t́nh thâm giữa người với người, đạo lư gia đ́nh, mỹ tục thờ cúng tổ tiên, ḷng hiếu đạo.

      Hay nói cách khác, Ca Dao An Vi, ḍng Ca Dao chắt lọc tinh tuyền từ ḍng sông Tâm linh phù sa Mẹ, đă nuôi dưỡng t́nh cảm tâm tư con người để xây dựng  NHÂN CÁCH của một CHỦ NHÂN trong vũ trụ. Ca Dao An Vi, từ phản ánh lao tác và t́nh nhà, đă đưa con người tiến lên, tiến măi, vượt trên cấp độ của một con vật sống bằng cảm tính của bản năng. Ca Dao An Vi đă đưa con người bay lên cơi bao la của Tâm và của Linh, nghĩa là vượt những ǵ nhỏ bé thô cạn, để vươn lên cao, đến tận miền trời bao la, vi tế, thanh thóat.

     Ḥan cảnh xă hội thay đổi, sinh họat kinh tế thay đổi, h́nh ảnh thơ mộng“ bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”… cũng không c̣n…Nhưng trên tất cả những ư và lời, Ca Dao An Vi đă hun đúc cho con người mọi nơi mọi thời một nền Đạo Đức nhất định : Một chữ  T̀NH để đưa ḷng người về với  cội  nguồn  an lành  TÂM ĐẠO .

Đông Lan

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 09/17/07