PHẦN THỨ NH̀

CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN

 

 

CHƯƠNG IV

Vài Vị Đắc Đạo Trong Phái

BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

GS Nguyễn Văn Hầu.

 

II. ÔNG NGUYỄN VĂN THỚI (1866-1927)

 

A. Thân Thế

 

Ông Nguyễn Văn Thới (tục gọi ông Ba Thới), sanh năm Bính Dần (1866), đời vua Tự Đức thứ 19.

 

Thân sinh của ông là ông Nguyễn Văn Đỏ, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Buôn, sanh được bốn người con: hai trai, hai gái. Người trưởng là Nguyễn Văn Chơi, thứ là Nguyễn Văn Thới (tức ông Ba đây), rồi thứ nữa là Nguyễn Thị Tánh và Nguyễn Thị Kẹo.

 

Khi ông Ba lớn lên, thân sinh của ông cưới bà Nguyễn Thị Th́n cho ông làm vợ. Bà này là con của ông Nguyễn Văn Hoá và bà Thị Nhứt, người đồng thôn. Về sau ông bà Ba sanh hạ được tám người con, nhưng mất lúc nhỏ hết bốn, nên chỉ c̣n biết được có bốn là ông Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Kiệt, Nguyễn Văn Từ và bà Nguyễn Thị Chín.

 

Quê quán ở làng Mỹ Trà, ấp Long Hậu, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lănh (Sa Đéc). Ông Ba tướng người cao lớn, nước da trắng, râu tóc nhiều, mỗi khi buông ra th́ chấm đất có dư. Khi về già râu bạc và dài xuống tới rún. Tánh t́nh cương quyết, nóng nảy, thích ngắm kiểng, xem hoa, thường hút thuốc điếu và đôi khi cũng có ăn trầu.

 

Thuở nhỏ ông có học vừa hiểu biết chữ nho, lúc trưởng thành th́ làm nghề thợ mộc rồi sau lại cũng biết làm nghề thợ chạm.

 

Bởi sống trong một gia đ́nh cần lao kiệm phác cho nên ông Ba đă quen sự chịu khó nhọc từ buổi thiếu thời. B́nh sinh việc chi ông không làm th́ thôi, nếu đă làm th́ làm cho kỳ được, không hề bỏ dở. Mặc dầu nóng tính, ông Ba vẫn có được một bộ óc thẩm mỹ cùng đôi bàn tay rất tinh xảo.

 

B. Phát Đạo Tâm

 

Muà đông năm Bính Ngọ (1906), ông Ba bỗng nhiên phát dạo tâm. Ông từ giă gia đ́nh rồi thẳng lên vùng núi Sam, vô trại ruộng Thới Sơn (cạnh Thất Sơn) để tầm sư học đạo (1). Đâu đâu ông cũng nghe người đời ca tụng đạo đức cao siêu của ông Hai Trần Văn Nhu. Ông bèn trở xuống Láng Linh để t́m cho tận mặt, và sau khi biết rơ giáo lư, ông xin quy y với ông Hai.

 

Trở về nhà ăn Tết xong, mùa Xuân năm Đinh Mùi (1907), ông Ba dời cả gia đ́nh về Láng cất nhà gần chùa Bửu Hương Tự. Ở đây, ông siêng năng trau giồi hạnh đạo, chất phác làm ăn, được ông Hai coi là đại đệ tử.

 

Một ngày nọ, ông Ba phát ra ngây ngây, ông bảo bà Ba dọn dẹp cho ông một căn pḥng sạch sẽ, rồi ở luôn trong đó. Ngót ba năm dài đăng đẳng, ông Ba không đi đâu hết. Thậm chí sự tắm rửa hay đại tiểu tiện, ông để đêm đến mới đi ra. Chính trong khoảng này, ông viết được ba quyển: Vân Tiên, Thiện Tứ, Cỗ Văng Kim Lai mà ngày nay nhiều người vẫn c̣n biết.

 

Ngày mùng một tháng Giêng (Tết năm nào không nhớ), ông Ba ra khỏi buồng. Trước khi đến viếng ông Hai, ông Ba sắm một bộ khay hộp, trong có để ba trái ớt hiểm và ở trên có để ba cây roi, rồi mới bưng vào trước mặt ông Hai mà qú xuống thọ tội, v́ lẽ ba năm qua ông không làm tṛn hiếu nghĩa đối với Thầy.

 

Lúc ấy ông Hai miễn tội, ông Ba cảm động lắm, ngâm lên hai câu Nam:

 

Nghiêng vai lảnh bức tờ mây,

Trung vương thổ giă Thầy ở lại (2).

 

Từ đây ông Ba rất sáng suốt, thấu được lẽ diệu huyền của Phật pháp, ông có một bổn phận quan trọng đối với nhà chùa.

 

C. Bửu Hương Tự Bị Bao Vây

 

V́ có sự tị hiềm của Nguyễn Văn Phẩm nên chùa Bửu Hương Tự bị nhà cầm quyền Pháp bao vây (ngày 21 tháng 2 năm Quí Sửu, 1913). Lúc ấy tuy ông Ba thoát khỏi được, nhưng ông Hai th́ phải xiêu lạc khổ sở, c̣n con trưởng của ông là Nguyễn Văn Tuấn lại bị bắt cùng một lượt  với 56 người đồng đạo đến cúng chùa.

 

Thấy t́nh đời đen bạc, vă lại đứng trước cảnh sư đệ ră rời, phụ tử chia ly, nên ba hôm sau (24-2-1913), vào giờ ngọ, ông Ba dùng dao cạo cắt họng để tự sát. Vết thương đứt tới phân nửa cuống họng, nhưng ông không chết. Người nhà hốt hoảng, chiều tối lại chở ông lên nhà thương Châu Đốc để điều trị. Noi đây người ta thấy tóc ông đanh nhiều nên cắt đi cho gọn rồi băng bó thuốc men nhưng ông quyết định không dùng một món chi của người Pháp. Ông cự tuyệt và gỡ bỏ hết.

 

Độ vài tháng sau, liệu bịnh t́nh ông Ba không thể chữa được, lương y cho đem bỏ ông ra nhà xác. Ông trốn được ra ngoài rồi nhờ người nhà chở về.

 

Từ ấy vết thương của ông Ba mỗi ngày một giảm dần, mặc dầu cuống họng chưa lành (mỗi khi ăn uống đều phải dùng khăn bó rịt lại cho khỏi rớt vật ăn ra), tinh thần ông Ba vẫn tỉnh táo sáng suốt như thường.

 

Thấy chùa Bửu Hương Tự bị Pháp nghi nan ḍ xét măi, và liệu ở đấy không yên được nên vào khoảng tháng bảy năm Giáp Dần (1914), ông Ba dời nhà về doi Lộ Lở (làng Kiến An, tổng Định Hoà, Long Xuyên),  giả dạng người thường, ruộng rẫy làm ăn cho qua ngày.

 

Hồi này, người ta có thấy ông Ba lên xuống  nhà thờ Cù Lao Giêng ba lần để tiếp xúc với vị Linh mục nơi đây, và nhờ can thiệp với nhà cầm quyền Châu Đốc đặng minh oan cho công việc của Thầy ḿnh (ông Hai Nhu) và anh em đồng đạo (3) đă bị tên Phẩm vu cáo. Nhưng việc ấy nhà cầm quyền Pháp ở Châu Đốc làm lơ.

 

D. Ông Ba Với Chuỗi Ngày Tàn

 

T́nh Thầy nợ Nước, mênh mang bao mối cảm hoài, khiến tâm hồn ông Ba trong chuỗi ngày tàn hầu như tan nát. Ông kư thác ḷng ḿnh vào những quyển: Ngồi Buồn, Kiểng Tiên, Kim Cổ Kỳ Quan, Cáo Thị, Tứ Đại và Thừa Nhàn mà ngày nay, mỗi khi đọc qua, ta cảm thấy ngập tràn bao nỗi  bi thương, ưu ái.

 

Dưới đây là một ít lời lẽ về tâm trạng của ông Ba hồi ấy:

 

Đêm năm canh thổn thức chẳng yên,

Ngày sáu khắc sầu riêng mối đạo.

Tưởng ái quốc cơ đồ sáng tạo,

Nh́n lê dân cường bạo đa đoan.

Chúa mỏi ḷng Chúa nghỉ thân an

Tôi mệt dạ c̣n mang nạn cả.

Thời quân nhược quả kia báo quả,

Thế thần cường giày giă trung cang.

 

Hay là:

 

Bước chân ra đoái lại nước nhà,

Chim xanh vỡ ổ rừng già thiết tha!

Ai đi,

Nỡ chẳng tưởng quốc gia ngay thảo,

Dạ nào vong Tam Bảo giáo truyền.

Thầy ôi!

Nước nghiêng nghèo vận khéo đảo điên,

Phân ly diện sầu tuôn đoạn đoạn.

 

Ngoài việc sáng tác những tác phẩm kể trên ra, ông Ba c̣n đươn một tấm thành vọng (mặt khại), chính giữa có ba chữ triện: Quốc (hàng trên) và Thần Vọng Sư (hàng dưới), dựng ngay trước bàn thờ để biểu lộ tấm ḷng ưu ái giang sơn Thầy Tổ. Tấm thành vọng này ngày nay c̣n thấy tại nhà con ông ở Láng Linh.

 

Sau mười bốn năm, kể từ khi chùa Bửu Hương Tự bi bao vây, vết thương nơi cổ ông Ba vẫn chưa lành hẵn, nó gom lại bằng mút ch́a vôi nhưng trong ḿnh ông vẫn mạnh. Một đêm kia, ông Ba kêu người nhà mà hỏi thăm giờ. Người nhà cho biết là mười giờ đêm. Ông bảo: "Bây giờ đến năm giờ sáng th́ c̣n lâu quá!"

 

Thế là đúng năm giờ sáng (giờ Dần) ngày mùng 9 tháng tư năm Bính Dần (1927), ông Ba tịch. Lúc ấy ông hưởng thọ vừa đúng 61 tuổi, sau khi đă để lại cho đời 9 văn phẩm kiệt tác về đạo đức lẫn văn chương, và một tấm gương tiết tháo kiên trinh bất hoại.

 

Hiện giờ mộ phần của ông Ba c̣n tại doi Lộ Lở, được bồi đắp và có người ở săn sóc cẩn thận. Tại nền nhà cũ của ông (cũng ở Lộ Lở, gần ngôi mộ), có dựng lên một cái đền thờ rộng lớn uy nghi, hàng năm đến ngày mùng 9 tháng tư th́ có hội, bá tánh thập phương đến chiêm bái rất đông.

 

*

 

Ngoài các bậc siêu phàm trong vùng Thất Sơn mà chúng tôi đă chép trên đây, c̣n có nhiều vị khác nữa như: Bà Hai Mun (nghĩa tử của Đức Phật Thầy Tây An), có tài trị bịnh và nuôi con (mộ phần nay c̣n ở sau Phước Điền Tự); ông Đạo Sang -lấy cốt trầu phun ra mà chữa bịnh và có lắm thần thông (ở đ́nh ngả ba Cái Dầu, Châu Đốc); ông Đạo Thạch, tịch ở đ́nh Thạnh Mỹ, khi tịch có hào quang; ông Sáu B́nh, đệ tử của ông Hai Nhu, có phép đốt chân cháy thành than rồi đạp vào chỗ đau của người bịnh... nhưng chúng tôi chưa t́m ra tài liệu chính xác.

 

Chúng tôi đă và đang c̣n sưu tầm thêm nữa, để cho tiều sử của các bậc siêu phàm quanh miền rừng núi linh thiêng này mỗi ngày càng thêm đầy đủ. Vậy ở đây, chúng tôi xin hẹn lại một kỳ tái bản sau. 

  

GS Nguyễn Văn Hầu.

(C̣n tiếp)

 

CHÚ THÍCH:

 

(1) Có thuyết nói ông Ba nhân đi bán cá trên miền Láng, nghe danh ông Hai đạo đức cao siêu mà quy y theo. Nhưng theo lời ông Nguyễn Văn Tuấn là trưởng tử của ông Ba th́ ông tự nhiên phát đạo tâm rồi đi tầm sư học đạo như trên đă nói.

 

(2) Ư nói v́ ông có sứ mạng  phải lảnh bức thư vẽ mây chép sự trung thành cùng quốc vương thủy thổ cho nên mới phải giă Thầy một thời gian ấy.

 

(3) Lúc này ông Hai Nhu đă tịch rồi ở Trà Bang, song công việc hành đạo của giáo phái Phật Thầy bị ḍm ngó rất gắt và bổn đạo tên tuổi nhiều người phải bị bắt bớ tù đày.

 

[ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 07/06/08