Thảo Luận Về Văn Hóa Việt

 Vĩnh Như



Trích một đoạn trong phần thảo luận về văn hóa Việt: Con đường sống của dân tộc (Nhân Đạo), xây dựng nền văn minh nhân bản; đó cũng là xu hướng tất yếu của loài người đang tiến tới.

T.V.Minh: Minh định cuộc thảo luận đứng trên lập trường dân tộc và nhân bản mà các anh đă bỏ ra hơn ba tuần thảo luận về Khổng Mạnh. Phung phí thời gian như thế là quá đáng. Trên thế giới, ngoài Trung Cộng ra, có bao nhiêu triệu người thờ ông Khổng Tử. Riêng ở Việt Nam, nhóm An Việt với triết lư “An Vi” của triết gia Lương Kim Định, nhiều lắm là năm ngàn người khoa bảng, trí thức và những người học đ̣i theo khoa bảng, tất cả khoảng một triệu người tin thờ Khổng Tử như một ông Thánh bất khả xâm phạm. Tại sao chúng ta không xem họ như là những người theo đạo Phật, Tin Lành, Ki Tô Giáo La Mă, Hồi Giáo, Cao Đài v.v...trong ḷng dân tộc Việt Nam?

Làm sao thuyết phục người Tin Lành tôn thờ Bà Maria như người Ki Tô giáo La Mă, hoặc một Phật tử tôn thờ Jesus và ngược lại...Đừng bao giờ thuyết phục người khác tin theo điều ḿnh tin. Ông cha ta đă dạy: Trống làng nào làng ấy đánh. Thánh làng nào, làng ấy thờ.

T.N.Hưng: Lịch sử ghi chép rơ ràng, tại họ không muốn thấy thôi. Về nguồn phục vụ cuộc sống, chứ không t́m kiếm tri thức hay tranh căi phải trái. Về nguồn không phải là cất công t́m kiếm ḍng suối đă khô cạn, nhưng là khai thác nguồn nước sẵn có để sinh hoạt xă hội Việt Nam mỗi ngày thêm tươi mát phồn vinh, con người Viet Nam sạch đẹp và khỏe mạnh (Đông Phong – Bản Sắc Dân Tộc, NXB Đường Việt, Năm 2000, Trang 15).

Xin anh T.V.B́nh tŕnh bày ngắn ngọn một lần cuối cùng, rồi chúng ta cho qua, đừng phí thời giờ vô ích về vấn đề người Việt có cần phải tôn thờ Khổng Tử như một ông thánh bất khả xâm phạm không ? 

T.V.B́nh: Nhà Tây Chu, thuộc bộ lạc du mục Tây Di. Sâu khi cấu kết với tộc Khương (tổ Tây Tạng) đă diệt nhà Thương. 

Tinh thần độc hữu du mục đă được thực hiện triệt để đến nỗi nhà Thương suưt bị xóa tên khỏi lịch sử Tàu (đốt hết văn khố của nhà Thương). Với vũ khí văn hóa vô song là chữ viết tượng h́nh, tượng ư, cũng như các định chế xă hội thâu hóa được từ nền văn minh nông nghiệp nhưng lấy văn hóa du mục làm chủ đạo. Nhà Chu đă trở thành mẫu mức định hướng cho các triều đại kế tục. Tục thờ mặt trời của dân nông nghiệp, dần dần được thay thế bởi ông Trời trừu tượng toàn năng (Thiên) của nhà Chu để phù hợp với thuyết thiên mệnh của họ.

Chế độ nội thị (hoạn quan) theo truyền thống của tộc Proto-Tucuckec đă được du nhập vào triều đ́nh Tàu lần đầu tiên. Nhà Chu c̣n thiết lập chế độ phong kiến, phong đất cho thân thích và công thần, mỗi người làm chư hầu một nơi để trấn áp các dân tộc chưa thần phục nhà Chu.

Sự h́nh thành nước Trung Quốc gắn liền với tính hiếu chiến và chủ nghĩa bánh trướng. Quốc gia mà ngày nay chúng ta gọi là Trung Quốc được tạo dựng lên ở mạn trung lưu Hoang Hà, với ranh giới khoảng ba tỉnh: Sơn Tây (quê hương Đế Nghiêu), Hà Nam (quê hương Hạ Vũ, kinh đô nhà Ân), Thiểm Tây với núi Ḱ, sông Vị (quê hương nhà Chu).

Thời đó b́nh nguyên Hoàng Hà được mệnh danh là Trung Nguyên, bao quanh tứ phía của trung tâm văn hóa độc tôn đó, tức nhiên phải là các bộ tộc mà người Tàu ngoại là “man di mọi rợ”: Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Di, Nam Man.

Thời Xuân Thu, phái Quản Trọng phối hợp quân sự với văn hóa, chủ trương “b́nh thiên hạ”, tức đàn áp chiếm đất đai của các sắc dân không phải là Hán, trong đó có Bách Việt để Tề Hoàn Công xưng bá.

Năm 671 TTL, Chu Huệ Vương ra lệnh cho Sở Thành Vương trấn dẹp loạn Di Việt ở phương nam, không cho họ xâm lược Trung Nguyên.

Thời Chiến Quốc, các chư hầu bao quanh nhà Chu thuộc các sắc tộc Tàu ngoại là Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Di, Nam Man (Bách Việt) vùng dậy để thoát khỏi ách thống trị của nhà Chu.

Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, ông bôn ba khắp nơi để thuyết phục các chư hầu phải theo văn hóa Chu, văn hóa gốc du mục (có thâu hóa được một ít tinh hoa từ nền văn minh nông nghiệp nhưng lấy văn hóa du mục làm chủ đạo).

Nếu có ông Thánh nào đó thuyết phục Hai Bà Trưng hoặc Ngô Quyền và người dân Việt không nên vùng dậy chống nhà Hán mà hăy ở dưới “cây dù” của nhà Hán, theo văn hóa Hán. Chúng ta nghĩ thế nào ?

Khổng Tử suốt đời ấp ủ hoài bảo phục hoạt chế độ nhà Chu do Chu Công thiết lập “dựa trên quan niệm thiên tử, luật h́nh, hoạn quan, đàn áp đàn bà, khinh miệt dân chúng (gọi lê dân = dân đầu đen), chuyển tài sản từ làng xă sang tay nhà vua, Chu Nho là văn hóa du mục (sđd, trang 199). Ông muốn thuyết phục chư hầu (đa số thuộc tộc Bách Việt theo thể chế và sống theo văn hóa Chu. Ông bảo: như có người dùng ta, th́ ta sẽ làm cho Đông Chu thịnh lên chăng? (Như hữu dụng ngă, Ngô kỳ vi Đông Chu hồ? Hương Hóa) Khổng Tử tự nhận đêm ngủ thường vẫn mộng tưởng Chu Công. Sau thời gian chu du các nước, biết giấc mộng không thành, ông trở về nước Lỗ dạy học. Suốt đời Khổng Tử chỉ mong nối được sự nghiệp của Chu Công. Ông ước ao điều đó lắm, đến nỗi nó ám ảnh ông, khiến ông nằm mộng thấy Chu Công. Ta theo Chu (Ngô ṭng Chu - thiên Bách dật, bài 14). Một hôm tự than rằng quá lắm vậy! Ta suy nhược rồi! Từ lâu, ta chẳng mộng thấy Chu Công (Luận Ngữ - thiên thuật nhi).(Cửu hĩ ngô bất phục mộng kiến Chu công)

Một trong những trí giả gốc du mục sớm nhận thức được hiểm họa văn hóa du mục bị thuần hóa bởi văn hóa Bách Việt có lẽ là Khổng Tử. Ông ta t́m mọi cách phục sinh trật tự thế chế nhà Chu, một thể chế mang tính du mục cho nên ông ta hoàn toàn thất bại v́ chủ truơng của ông ta phục hoạt thể chế nhà Chu: Không nước nào chấp nhận để cho nhà Chu thống trị, nhất là các nước thuộc Bách Việt.

Nhưng hai trăm năm trước đó Quản Trọng phối hợp văn hóa và quân sự đă thành công trong việc đàn áp, dẹp yên dân Bách Việt (b́nh thiên hạ) xây dựng nghiệp bá cho Tề Hoàn Công. Chính v́ thế mà Khổng Tử đă khen Quản Trọng hết lời: Cho đến nay dân chúng c̣n được hưởng ân đức của ông ấy. Không có Quản Trọng th́ chúng ta phải giốc tóc (bện) và cài áo bên trái (tả nhậm) như người mọi rợ (Luận Ngữ - chương hiến vấn). Nói khác đi là đă bị Bách Việt hóa. Rỏ ràng là kỳ văn hóa: chủ trường hưng Hoa Diệt Di dấu kín trong ḷng đă phát ra lời nói và hành động. Thế mà một số trí thức Việt Nam với thân Việt, óc Tàu t́m mọi cách để bào chửa, chạy tội cho Khổng Tử. Giới trẻ Việt Nam sẻ không chấp nhận làm nô lệ như họ, chúng ta không cần phải bận tâm. Có thể họ học hỏi một vài điều hay của Không Tử nhưng họ không tôn thờ Không Tử như một ông thánh bất khả xâm phạm.

Như vậy, “thuật nhi bất tác, tính nhi hiếu cổ" (không sáng tác kinh điển mà chỉ san định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa) thực chất là cố uốn nắn khéo léo cái ưu điểm của văn hóa Bách Việt để che giấu hoài bảo phục sinh thể chế nhà Chu, trong sách lược hưng Hoa diệt Di của Khổng Tử.

Tham vọng bành trướng (hưng Hoa diệt Di)và tư tưởng bá quyền là những biểu hiện của tinh thần phi dân chủ. Ngoài (nước ngoài) th́ coi thường nước khác dân tộc khác, đối lập Hoa Hạ với Tứ Di, trong (trong nước) th́ coi thường dân chúng, coi thường phụ nữ, đối lập người quân tử (cai trị) với kẻ tiểu nhân (dân chúng). Khổng tử nói tới dân chúng ở nhiều chỗ với một gịọng rất miệt thị, coi thường: dân chúng có thể khiến họ theo, chứ không thể giảng cho họ hiểu được (Luận Ngữ, Thái Bá 9). Ông nhiều lần tỏ ra khinh bỉ dân chúng một cách rơ rệt: Sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu v́ bao tội ác trong thiên hạ dồn cả về đó (Luận Ngữ, Tử Trương 20). Nói đến phụ nữ ông bảo: chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần th́ họ nhờn, xa th́ họ oán (Luận Ngữ Duơng Hóa 25) –Trần Ngọc Thêm- T́m về bản sắc văn minh Việt Nam, nxb tpHCM năm 2001, trang 482-483.

Tóm lại, Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, hưng Hoa diệt Di (Bách Việt) kỳ thị chủng tộc (qua lời khen Quản Trọng, coi Bách Việt là mọi rợ), miệt thị dân chúng, khinh bỉ đàn bà... Như vậy thuật nhi bất tác chỉ là lối nhân nghĩa và đạo đức giả của Khổng Tử với mưu đồ đồng hóa và diệt chủng các giống dân Tứ Di, tức Bách Việt mà theo triết gia Đông Lan, “sắc dân Bách Việt đă vào và cư ngụ trên đất Tàu ngày nay trước khi có một dân tộc thực sự là Tàu xuất hiện” (sđd, trang 186, ḍng 6-8).

Với chủ trương dùng nhân nghĩa - thuật nhi bất tác- ở đầu môi chót lưỡi, tức lời nói khác với hoài bảo của ḿnh- hưng Hoa diệt Di - để thay cho việc binh đao.

Cái đạo đức chuyên lấy của người - thuật nhi bất tác- khéo léo uốn nắn theo ư đồ của ḿnh đánh lừa thiên hạ với dă tâm đồng hoá các giống dân khác thành người Tàu. Đó là sách lược lùi không đánh, giả bộ lấy đạo đức của người để đồng hóa người thành Tàu. Ḥa nhi bất đồng của văn minh Hoàng Hà là cái màn che giấu mưu đồ thầm kín, ḥa để mà hóa của người thành của ḿnh. Cho nên “ḥa” theo kiểu du mục khác hẳn với “ḥa cả làng” của văn minh sông Hồng, phát xuất từ nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước (Văn hóa Ḥa B́nh).

Đây là sách lược vô cùng thâm độc của họ Khổng. Do đó Mặc Tử đề xướng thuyết Kiêm Ái (thương mọi người) để chống lại lối giả nhân giả nghĩa của Khổng Tử. C̣n Lăo Tử chủ trưong b́nh đẳng, tự do, sống hài ḥa với thiên nhiên, trở về với sự chất phác, thuần lương là những giá trị đi ngược lại với chế độ phong kiến nhà Chu, kiến dựng trên quân quyền, phụ quyền và nam quyền.

Chủ nghĩa bành trướng là nét đặc thù độc đáo nhất trong sự h́nh thành nước Trung Quốc với bệnh hoạn HỘI CHỨNG ĐẠI HÁN, từ triều đại này qua triều đại khác, quyết tâm xóa sạch văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống, từ Quản Trọng, Khổng Tử cho đến Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và kéo dài đến ngày nay.

Thế hệ của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào bây giờ cũng không đi ra ngoài sự chỉ giáo thâm độc của Khổng Tử: Phải hành động như Quản Trọng - phối hợp quân sự và văn hóa- để đồng hóa đến người Bách Việt cuối cùng (tộc Lạc Việt tiền thân của dân tộc Việt Nam) thành người Tàu.

Tôi tháy như thế này là quá đủ rồi.

M.V.Giang: Hăy tôn trọng tự do của mỗi người. Tổ tiên đă dạy rằng “Thánh làng nào làng ấy thờ” về niềm tin thuộc loại tín ngưỡng, ư thức hệ, không nên thuyết phục người khác tin theo điều ḿnh tin. Hăy thể hiện điều ḿnh tin qua ư nghĩ, lời nói và việc làm.

Điều cần thiết là làm sáng tỏ nguồn gốc cốt lơi tư tưởng Việt, chứ không phải là thuyết phục tranh luận. Trở về với đa số, 95% người Việt Nam, nhất là giới trẻ; họ sẽ tiếp nối trao truyền qua cuộc sống cái gia tài quí báu của tổ tiên - t́nh người (t́nh thương), bao dung, hài ḥa v.v...- cho giới trẻ thuộc hai, ba thập niên tới.

Một học giả Pháp đă viết cuốn La Revolution ni Marx ni Jésus. Trong tương lai con người sẽ thực hiện cuộc cách mạng tâm linh mà không kêu cầu Marx, Jésus,Thách Ca, Khổng Tử v.v...cho nên ông J . Kishnamurti đă phát biểu: cái Phật gọi là Niết Bàn, Jésus gọi là Thiên Đàng, tôi gọi là cuộc sống.

Với ngôn ngữ tin học, giới trẻ sẽ vượt thoát mọi ràng buộc của những khuôn mẫu khô cứng, những ư thức hệ, giáo điều v.v..., vứt bỏ những tư tưởng lạc hậu, những tập quán lỗi thời. Nói tóm lại, giới trẻ thay đổi cái nh́n (phá chấp) dễ dàng hơn chúng ta.

Môi trường sống, cách sống, lối làm ăn, bắt buộc họ phải sống thực, sống trọn vẹn mới tồn tại. Mà sống thực th́ mới ư thức tự chủ và sáng tạo. Họ cần sự hài ḥa trong cuộc sống, t́nh thương hồn nhiên trong sáng với mọi người, trí tuệ vượt thoát tư dục để bao dung vị tha và thượng tôn luật pháp để chung sống xây dựng một nền văn hóa mới.

Cần phải có một cuộc cách mạng, chắc chắn là thế. Điều tôi (Đức Đạt Lai Lạt Ma) đề xướng là một cuộc cách mạng tâm linh.

Tại sao chúng ta bỏ quá nhiều thời giờ để thảo luận về Tứ Thư, Ngũ Kinh. Một hệ thống tư tưởng có quá nhiều khe hở để nhóm thống trị lúc nào cũng lợi dụng được khiến người dân Tàu sống dưới chế độ độc tài chuyên chế hơn hai ngàn năm qua. Hiện nay, tập đoàn Hồ Cẩm Đào đang phục hồi tư tưởng Khổng Tử để dân Tàu vui vẻ nghe theo lời dạy của Khổng Tử, ngoan ngoản sống dưới chế độ Cộng sản độc tài, độc đảng.

Trên 60 năm từ 1929 - 1968, ông Krishnamurti kêu gọi phải tuyệt dối khẩn thiết phát động một cuộc cách mạng triệt để trong tâm thức con người, một cuộc chuyển hóa thật sự về toàn bộ cơ cấu tâm lư con người.

Ông Osho nhằm khai mở nguồn suối tâm linh đưa con người đến ánh sáng giác ngộ.

Hiện nay Đạc Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi một cuộc cách mạng tâm linh và cố gắng t́m một con đường phục vụ toàn nhân loại mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng tôn giáo.

Như vậy, với ư thức tự chủ và sáng tạo con người vận dụng t́nh thương vào cuộc sống trên nền tảng của trí tuệ và hài ḥa qua lăng kính thượng tôn luật pháp để giải phóng chính ḿnh.

T.T Nam: Theo lịch tŕnh, tuần sau mới đến lượt anh T.N.Anh phát biểu ư kiến. Nhưng cuối tuần này anh Anh phải đi xa, giải quyết việc nhà cho các cháu của anh. Hôm nay, anh C.H.Lê phát biểu ngắn gọn để tất cả thời gian c̣n lại cho anh Anh.

C.H.Lê: Có những người đọc sách rất nhiều mà không tiêu hóa được; cho nên thường mắc phải chứng bệnh chỉ biết và chỉ tin những điều sách nói thôi.

Những ǵ họ nói, hay viết, đều được dẫn chứng rất đầy đủ, rằng họ đă lấy từ sách nào và của những ai đă nói ra những tư tưởng như thế.

Cách học của các vị này thật là công phu. Nếu họ đi thi th́ thế nào cũng đậu được những bằng cấp thật cao như Thạc sĩ, Tiến sĩ v...v....

Đại đa số quần chúng, có học hay không có học, đều rất kính trọng họ, v́ họ là những người khoa bảng, những tinh hoa của một dân tộc.

Thế nhưng cứ nghe những ǵ họ nói, đọc những ǵ họ viết, th́ người ta sẽ có cảm tưởng rằng đó chỉ là sách của họ nói chứ không phải họ nói!

Tây nó gọi những người như thế là loại “Thông minh sách vở” (intelligence livresque), c̣n những nhà trí thức đích thực th́ lại gọi họ là những con ḅ bệnh, bỡi v́ những con ḅ bệnh ăn cỏ nhưng không tiêu hóa được nên lại “ỉa” ra cỏ.

Ấy là chưa kể những điều các ông Thánh, ông Hiền trong sách của họ nhiều lúc cũng chưa nói lên được chân lư. Có khi lại c̣n bóp méo những chân lư cho thành một thứ ngụy chân lư để phục vụ một ư đồ nào đó.

Ngoài ra sách vở c̣n có thể đưa ra những điều không phải là sai nhưng chỉ chưa “tới bến”, mà lại không cập nhật, v́ những điều đó đă bị những khám phá mới vượt qua rồi.

Cứ đọc một đoạn ngắn của một tác giả sau đây ta cũng thấy chưa có ǵ là “sâu” là “sát” mà nhất là nó lại chưa “tới” nữa!

“Chúng ta cũng không thể phủ nhận chính trong những ràng buộc khởi đi từ tinh thần Nho Giáo, đă nảy sinh ra t́nh người, t́nh gia đ́nh, t́nh xóm giềng mà đến ngày hôm nay, dù đă qua đến đầu thế kỷ 21, làng xă Việt Nam ở nông thôn vẫn tiếp tục duy tŕ các truyền thống từ đạo Nho”

Như thế, phải chăng dân tộc ta chỉ có t́nh người, t́nh gia đ́nh và t́nh xóm giềng kể từ ngày tổ tiên chúng ta tiếp xúc với văn hóa Tàu trong 1000 năm nô lệ phương Bắc?

Trước đó th́ dân tộc ta đă sinh sống như thế nào mà các Vua Hùng của chúng ta lại đă thành lập cho chúng ta một nước Văn Lang nhỉ? Không lẽ dân tộc ta lại sinh sống như một bầy thú hoang dă, không hề có Văn Hóa ǵ cả sao? Bỡi v́ chỉ có loài cầm thú mới không có văn hóa thôi.

Tại sao chúng ta lại không thể về nguồn xa hơn một chút, bắt đầu từ Văn Hóa Ḥa B́nh mà cả thế giới đều hay biết?

Nền Văn Hóa Ḥa B́nh là một nền văn hóa nông nghiệp “Trồng Lúa Nước”; rồi từ đó loài người có thể định canh và định cư, từ đó phát sinh ra t́nh người, t́nh gia đ́nh, t́nh xóm giềng. Điều đó đă có từ trước khi có Nho giáo hàng ngàn năm!

Những điều mà tổ tiên của dân tộc ta đă có rồi (có từ lâu rồi) th́ đâu cần phải nhờ một thứ văn hóa ngoại lai nào khác mới có được?

Tôi xin kể một câu chuyện:

Một Đại tộc ở một làng quê trù phú của nước ta; từ nhiều thế hệ đă có truyền thống thổi một nồi cơm gạo Tám, một thứ gạo thơm ngon, trân quí nhất mà chỉ có Đại tộc này sản xuất được, dâng lên bàn thờ, cúng tổ trong ngày giỗ tổ của gịng họ, hằng năm sau mỗi mùa gặt mới.

Năm đó, một người con lớn đă thành danh đỗ đạt, đi làm việc quan ở trên tỉnh, trước khi về giỗ tổ đă ghé vào một tiệm cơm Tàu mua cơm thố và thịt quay đem về góp giỗ.

Đó là một việc lạ lùng đối với người dân nông thôn, chưa bao giờ xảy ra.

Từ đó người ta truyền miệng nhau khen người con đó là có hiếu v́ đă dâng lên bàn thờ tổ thố cơm Tàu.

Vài chục hay vài trăm năm sau chuyện biến thành: “chính nhờ những thố cơm Tàu mà đại gia tộc đó mới biết và có truyền thống dâng cơm lên cúng tổ!”

Xin cứ suy ngẫm xem sự thật của việc cúng tổ bằng nồi “cơm mới” sau khi thu hoạch vụ lúa mùa nó như thế nào đây?

T.T.Nam: Xin lỗi, anh Lê tạm ngưng ở đây, tuần sau sẽ tiếp theo. Xin mời anh T.N.Anh.

T.N.Anh: Cám ơn các anh. Trước hết, xin tŕnh bày những điểm mà tôi đồng thuận với các anh đă phát biểu trong ba tháng qua. Tôi xin chia xẻ rất nhiều ư kiến trong cuộc thảo luận. Nhưng hôm nay, chỉ nêu lên những điểm chính yếu mà tôi đă ghi nhận được trên giấy trắng mực đen.

Bận việc nhà, không đến họp mặt được, anh Thành nhờ tôi đọc lời kết luận của đề tài mà anh ấy đă tŕnh bày trong tuần vừa qua.
Cần thể hiện tinh thần khai phóng trong ư thức chuyển hóa tâm thức, đem sinh lực của con người vun bồi vào sinh khí dân tộc, đồng thời hội nhập vào ḍng sinh động của trào lưu khoa học, tin học ngày nay; tư tưởng cũng phải được trân quí trong tự do, như là không khí cần cho sự hô hấp mà con người dùng để khai phóng và sáng tạo, chứ không lập một khuôn mẫu nào cả.

Cứ tự nguyện lăo hóa tri thức của ḿnh, đưa hai tay với tất cả con tim và khối óc dậm chân tại chỗ chống đỡ sức đè nén của cái cùm tư tưởng được gia tăng sự cằn cỗi và sức năng theo thời gian đến nỗi chính ḍng người truyền thừa nhau, cuối mặt nh́n xuống để không thấy khoảng trời bao la đầy hoa gấm để phong phú hóa cuộc sống nối tiếp nhau bừng sống dưới ánh sáng mặt trời và các tinh tú.

H́nh ảnh trung thực nhất của giới nho sĩ Việt Nam khi nh́n vào văn miếu ở Hà Nội, con rùa nho sĩ bị đè nặng trên lưng khối đá tư tưởng tù đọng nằm chịu trận với thời gian.

Tôi xin tŕnh bày điểm thứ nhất:

* Dân tộc nào để cho văn hóa ngoại lai ngự trị th́ không thể có độc lập thực sự, v́ văn hóa là linh hồn của một dân tộc (Nguyễn An Ninh - Lư Tưởng Của Thanh Niên Việt Nam). Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê, ư thức hệ, tôn giáo và ”khuôn vàng thước ngọc” của Khổng Mạnh, tất cả đều là văn hóa ngoại nhập. Chúng ta chỉ có thể thâu hóa, du nhập, tiếp nhận những điều tốt mà phù hợp với tâm t́nh của người Việt Nam để làm giàu, phong phú cho văn hóa dân tộc.

Chúng ta đă đồng thuận, trước khi tam giáo (Nho - Lăo - Phật) du nhập vào Việt Nam (200 năm trước Tây lịch) th́ Việt Nam không có tôn giáo; ông cha ta chỉ chú trọng đến việc phát triển tâm linh. Tâm linh đồng nghĩa với t́nh thương, bao dung, hài ḥa , v...v...Tâm linh không có giáo điều, giáo chủ, v.,.v,,,Trong giao lưu “văn hóa”, ông cha ta coi những yếu tố ngoại nhập, như rế, như “giày” “dép”:

Có rế th́ đỡ nóng tay
Có dép, có giày th́ đỡ nóng chân

Hoặc

Ăn sung th́ nằm gốc sung
Lấy anh th́ lấy, năm chung không nằm.

Giày, dép, rế (Nho - Lăo - Phật) không phải là bản sắc của dân tộc Việt Nam

Điểm Thứ hai: Tôi đồng ư về nguồn một cách sâu sắc và rốt ráo th́ không thể ngừng ở Tam Giáo (Nho - Lăo - Phật). Về nguồn không phải là trở về với văn hóa Đồng Sơn với trống đồng Ngọc Lũ, thời đại tam giáo chưa du nhập vào Việt Nam.

Về nguồn cũng không phải trở về với những đặc tính của văn hóa Phùng Nguyên, thời đại các vua Hùng dựng nước. Thời đại mà ông Khổng Tử, thái tử Tất Đạt Đa, chúa Jesus chưa có mặt trên trái đất này.

Vượt xa hơn nữa, vượt qua văn hóa Bắc Sơn, với cái ŕu Bắc Sơn nổi tiếng trên thế giới, đến tận văn hóa Ḥa B́nh. Nơi xảy ra cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước; ơ đâu có nông nghiệp ở đó khởi đâu văn minh nhân loại; “nơi” có nếp sống định canh định cư; định cư đồng nghĩa với tương nhượng, hài ḥa;

Ai nhất th́ tôi thứ nh́,
Ai mà hơn nữa tôi th́ thứ ba

Hoặc

Chín bỏ làm mười
“H̉A CẢ LÀNG”

Nói cách khác, “nơi” có nếp sống tương nhượng hài ḥa trong xóm làng (ḥa cà làng): “Văn hóa Việt Nam là văn hóa xóm làng”. Từ những tính chất đặc biệt (đặc tính) nền văn hóa trồng lúa nước - tương nhượng, thích nghi, hài ḥa, tinh thần nhân bản mang tính tương trợ, tương thân, tương ái với tập quán “Có việc th́ đến, hết việc th́ đi”, đầy tính người, v...v...bước vào ngôi nhà tâm linh Việt, cảm nhận Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất (Thiên Nhiên), nơi chứa đựng tinh hoa/tinh ṛng/ hằng số của nền văn hóa Việt, chứ không phải Tứ Thư Ngũ Kinh của ông Tàu Khổng Tử, gốc du mục với chủ trương Hưng Hoa diệt Di và ṭng Chu.

Một học giả Mỹ, không có tâm Việt, hồn Việt, chỉ với đầu óc khách quan, không bị điều kiện hóa bỡi tam giáo vẫn nhận ra được đặc thù của văn hóa Việt. Khi luận bàn về Văn hóa Việt Nam ông ví Việt Nam như “một cây gậy nh́n bề ngoài thấy phủ một lớp sơn Tây mỏng; cạo lớp sơn ấy đi, vẫn thấy phủ một lớp sơn tàu có phần dày hơn; song cạo tiếp lớp sơn tàu ấy nữa , th́ lộ ra cốt lơi gậy tre Việt Nam.

C̣n một lớp sơn Ấn Độ (Phật Giáo) khá dày mà học giả quên không nói tới.

Tiến sĩ H.R. Ferrage cho rằng nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam là tính chất “không từ chối” của nó: tự ḿnh, nước biết “gạn đục khơi trong” như là người Việt Nam. Ư ông muốn nói người Việt Nam tự ḿnh gạn đục khơi trong như nước.

Thực ra, nó chỉ có một chối từ; sự đồng hóa cưỡng bức, c̣n lại, nó t́m cách dung hóa và hội nhập mọi sở đắc văn hóa của Hoa, của Ấn, của Nam Đảo, của Tây Âu,... cả ngôn từ và kỷ thuật, cả tôn giáo và nghệ thuật.. (Trần Quốc Vượng sđd trang 44).Tiếp nhận, hội nhập có đăi lọc, nên luôn luôn duy ŕ được bản sắc riêng, vẫn giử được phong thái Việt Nam.

Điểm thứ ba: Văn chương bác học Việt Nam từ xưa đến nay “vàng thau lẫn lộn”, vừa dân tộc vừa phi dân tộc. Tư tưởng phi dân tộc, vọng ngoại, mất gốc này tuy thiểu số, nhưng lại có uy thế vũ lực và quyền lực to lớn hơn đại đa số người dân có tư tưởng dân tộc.

Hơn nữa, xu hướng thân Tàu của Hà Nội - nô lệ tư tưởng Tàu - lại được đa số khoa bảng Việt Nam ở trong nước và hải ngoại tiếp tay tích cực phổ biến văn học, tư tưởng, triết học, danh nhân Trung Quốc; đồng thời hùa theo tập đoàn Hồ Cẩm Đào phục hồi tư tưởng của Khổng Tử, với ư đồ dùng “khuôn mẫu tư tưởng luân lư của Khổng Tử” củng cố chế độ độc tài chuyên chế như các triều đại từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đă vận dụng tư tưởng Khổng Mạnh và môn sinh của ông để giữ ngai vàng; dùng người Tàu kể cả dân Bách Việt bị Tàu hóa làm phương tiện thực hiện tham vọng bành trướng và tư tưởng bá quyền, thể hiện năo trạng du mục, hội chứng Đại Hán.

Ông Bá Dương, một học giả Trung Quốc đă viết: Trung Quốc có lịch sử 5.000 năm. Trong 5.000 năm ấy, lực lượng phong liến chà đạp lên phẩm giá, nhân tính con người không phải ngày càng giảm thiểu mà ngày một gia tăng (Bá Dương, sđd, trang 85).

Người có tâm Việt, hồn Việt sẽ nhận ra được Khổng Tử là người đi khắp nơi thuyết phục các chư hầu đa số thuộc tộc Bách Việt - phục ṭng chế độ nhà Chu và văn hóa Chu, văn hóa gốc du mục, với chủ trương củng cố và phát triển chế độ nô lệ. Về chính trị, Khổng Tử chủ trương hưng Hoa diệt Di, kỳ thị chủng tộc.

Khổng Tử là một trong những trí giả gốc du mục, nhận thức được hiểm họa văn hóa du mục bị thuần hóa bỡi văn hóa trồng lúa nước. Khổng Tử đă cố uốn nắn các ưu điểm của văn hóa phương Nam, với ư đồ phục vụ thể chế du mục nhà Chu.

Quản Trọng là ông tướng tài giỏi; đă phối hợp văn hóa và quân sự dẹp yên các chư hầu, đa số thuộc tộc bách Việt, sống ở vùng châu thổ sông Hoàng Hà (B́nh thiên hạ) để Tề Hoàn Công xưng Bá thời Xuân Thu. Với chủ trương “Hưng Hoa diệt Di” Khổng Tử đă khen Quản Trọng hết lời : “Quản Trọng đă làm ơn cho hậu thế, v́ nếu không nhờ ông th́ chúng ta (Tàu) đă trở thành mọi rợ (Bách Việt), gióc tóc ngắn, mặc áo, gài nút bên trái.

Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, hưng Hoa diệt Di (Bách Việt) kỳ thị chủng tộc (qua lời khen Quản Trọng, coi Bách Việt là mọi rợ), miệt thị dân chúng, khinh bỉ đàn bà...Như vậy thuật nhi bất tác chỉ là lối nhân nghĩa và đạo đức giả của Khổng Tử với mưu đồ đồng hóa và diệt chủng các giống dân Tứ Di, tức Bách Việt.

Thuật nhi bất tác, tính nhi hiếu cổ (không sáng tác kinh điển mà chỉ sang định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa) chỉ là cố uốn nắn khéo léo cái ưu điểm của văn hóa Bách Việt để che giấu hoài băo phục hồi thể chế nhà Chu, trong sách lược hưng Hoa diệt Di).

Ngoài (nước ngoài) th́ coi thường nước khác, dân tộc khác, đối lập Hoa Hạ với Tứ Di, trong (trong nước) th́ coi thường dân chúng, coi thường phụ nữ, đối lập người quân tử (cai trị) với kẻ tiểu nhân (dân chúng). Khổng Tử nói tới dân chúng ở nhiều chỗ với một giọng rất miệt thị, coi thường ; “dân chúng có thể khiến họ theo, chứ không thể giảng cho họ hiểu được” (Luận Ngữ, Thái Bá 9). Ông nhiều lần tỏ ra khinh bỉ dân chúng một cách rơ rệt: “sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu v́ bao tội ác trong thiên hạ dồn cả về đó “ (Luận Ngữ, Tử Trương 20). Nói đến phụ nữ ông bảo: chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần th́ họ nhờn, xa th́ họ oán (Luận Ngữ, Dương Hóa 25) - Trần Ngọn Thêm - T́m về bản sắc văn minh Việt Nam, nxb thành phố hcm năm 2001, trang 482 - 483.

Với chủ trương dùng nhân nghĩa - thuật nhi bất tác - ở đầu môi chót lưỡi, tức lời nói khác với hoài băo của ḿnh để thay cho việc binh đao.

Cái đạo đức chuyên lấy của người - thuật nhi bất tác - khéo léo uốn nắng theo nhu cầu của ḿnh, đánh lừa thiên hạ với dă tâm đồng hóa các giống dân khác thành người Tàu. Đó là sách lược lùi không đánh, giả bộ lấy đạo đức của người và đồng hóa họ làm dân ḿnh. Ḥa nhi bất đồng của văn minh Hoàng Hà là cái màn che giấu mưu đồ thầm kín, ḥa để mà hóa của người thành của ḿnh. Cho nên “ḥa” gốc du mục khác hẳn với “ḥa cả làng” của văn minh sông Hồng, phát xuất từ nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước (Văn hóa Ḥa B́nh).

Đây là sách lược vô cùng thâm độc của họ Khổng. Dó đó Mặc Tử đề xướng thuyết Kiêm Ái (thương mọi người) để chống lại lối giả nhân nghĩa của Khổng Tử. C̣n Lăo Tử chủ trương b́nh đẳng, tư do, sống hài ḥa với thiên nhiên, trở về với sự chất phát, thuần lương là những gái trị đi ngược lại với chế độ phong kiến nhà Chu, kiến dựng trên quân quyền, phụ quyền và nam quyền.

Chủ nghĩa bành trướng là nét đặc thù độc đáo nhất trong sự h́nh thành nước Trung Hoa với bệnh hội chứng Đại Hán, từ triều đại này qua triều đại khác, quyết tâm xóa sạch Văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống, từ Quản Trọng, Khổng Tử cho đến Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và kéo dài đến ngày nay.

Điểm thứ tư: tôi cũng chia xe với các anh là đa số người ngoại quốc Anh, Úc, Mỹ, Pháp nhận ra được văn hóa Việt Nam là văn hóa xóm làng, họ đă và đang đến nông thôn Việt Nam (cái nôi của văn hóa Việt) để nghiêng cứu t́m hiểu những nét đặc thù của văn hóa Việt. Không thể t́m triết lư sống cũng như cốt lơi của tư tưởng Việt, đạo sống Việt trong sách vở của Tàu mà ở tại chính trong bản thân thực nghiệm của dân tộc c̣n đang tiếp diễn sinh động trong đời sống của dân tộc Việt Nam nơi xóm làng.

Người ngoại quốc cũng nắm bắt được văn hóa Việt Nam là văn hóa truyền miệng (văn hóa dân gian) nên có một số đă và đang học tiếng Việt để đọc khối lượng ca dao tục ngữ vô cùng phong phú, có một không hai trên thế giới. Họ nhận ra được ca dao tục ngữ là tiếng nói tâm thức của dân tộc Việt Nam. Hiện nay cô Martha Lackritz, người Mỹ, đă dịch 500 câu ca dao, cô dự định xuất bản ở Mỹ 1000 câu ca dao. Dân Việt sống nơi làng mạc đă lớn lên qua lời ru đầy t́nh người, đầy t́nh tự dân tộc thấm sâu vào ḷng người Việt từ thuở nằm nôi. Trên 90 phần trăm dân Việt lớn lên cùng ca dao, tục ngữ mà qua đó họ nắm bắt được các yếu tính của đạo sống Việt, giúp họ biết được bổn phận cũng như cách ứng xử cho hợp đạo, hợp lư, hợp t́nh đối với cá nhân, gia đ́nh, làng xóm cho đến đất nước. Trong quá khứ, mặc dù rất nhiều người Việt không đến trường học, nhưng họ chỉ cần trang bị những kiến thức truyền khẩu đó mà vẫn biết sống để trở nên trai hiền dâu thảo, yêu nước, thương ṇi...

Một số khác, ư thức văn hóa Việt Nam là văn hóa ch́m, văn hóa tâm linh, nên họ lắng ḷng bước vào ngôi nhà tâm linh Việt: các huyền thoại Việt Nam. Nếu ca dao, tục ngữ giúp chúng ta có được những kiến thức vỡ ḷng về đạo sống Việt, th́ các huyền thoại được mă hóa qua những biểu tượng ẩn dụ đă chất chứa các nguyên lư thiết yếu và sâu xa của đạo sống Việt, triết lư sống hài ḥa. Ở một cấp độ cao hơn trong việc bảo vệ và phát triển cấu trúc gia đ́nh, làng xă, cộng đồng và đất nước. Huyền thoại là tiếng nói tâm thức của dân tộc, mất bộ huyền thoại là mất mạch nối vào nguồn quá khứ tổ tiên và mất luôn căn bản trong việc xây dựng tiền đồ dân tộc (Wallace Cliff)

Ca dao, tục ngữ, huyền thoại... đều là sản phẩm của tập thể dân tộc, là tim óc của cả lớp người có kiến thức văn tự lẫn lớp người có kiến thức thực nghiệm của cuộc sống.

Trải qua nhiều đời, ta bị nhào nặn, tô điểm, thêm bớt, bị sơn phết lên trên nhiều lớp sơn văn hóa, tín ngưỡng đă giao lưu với nền văn hóa Việt qua thời gian.

Cái khó của người muốn t́m hiểu các thông điệp đích thực của tiền nhân là ngoài việc giải mă các ẩn dụ, biểu tượng trong các huyền thoại, cũng như ư nghĩa của ca dao, tục ngữ, họ c̣n phải cạo bỏ các lớp sơn giao lưu văn hóa (như chữ trời trong ca dao chẳng hạn) để tiến đến cốt lơi của đạo sống Việt, triết lư sống Việt...

Điểm thứ năm: Chúng ta đă đồng ư làm sáng tỏ ư nghĩa lời phát biểu của Hồ Hữu Tường một cách cụ thể và thiết thực: “Tôi muốn cất tiếng kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thật đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin... để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt (Tương Lai Văn Hóa Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài G̣n 1965).

“Cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu” là cái gỉ? Phải chăng đó là minh triết đời sống, được thể hiện qua nếp sống thực trên nền tảng của tinh thần nhân bản và nhân chủ đích thực, với đạo lư thương người như thể thương thân.

Hiện nay, loài người chỉ nói đến nhân bản, nhân chủ mà chưa bước vào con đường nhân bản, nhân chủ đích thực, qua nếp sống, mà thực tại là tiêu chuẩn của chân lư.

Những học thuyết, hệ thống triết học, những cuộc thảo luận, sách vở kinh điển nói về nhân bản nhân chủ, không phải là nhân bản nhân chủ đích thực. Lời nói, chữ nghĩa không phải là “sự thật”, không phải là “thực tại” (cái đang diễn ra trước mắt). Chữ nghĩa chỉ nói về sự thật, chứ không phải là sự thật.

Chắc chắn con đường nhân bản (lấy con người làm gốc) và nhân chủ là xu hướng tất yếu của loài người trong những thập niên tới; sẽ bùng vỡ ra để con người trở về với con người và cuộc sống, ngơ hầu thể hiện giá trị nhân bản đích thực của nó trong đời sống đang sinh động.

Điều thiết yếu là nhân bản, v́ không có con người th́ không có ǵ cả.., không có nhân chủ.

Không nên đặt cái cày (nhân chủ) trước con trâu (nhân bản). Rễ sâu gốc vững (nhân bản) th́ cành, ngọn, lá mới xanh tươi (nhân chủ).

Trên b́nh diện tâm lư và xă hội, nhân chủ là tinh thần cao độ của một tập thể con người, lấy con người làm gốc trong mọi sinh hoạt tinh thần và vật chất ton trọng sự sống (nhân bản), chấp nhận dị biệt, hài ḥa với chính ḿnh, làm chủ bản thân, hài ḥa với tha nhân và với thiên nhiên: ḥa cùng vũ trụ.

Chỉ có tập thể con người “biết sống thực”, sống trọn vẹn với thực tại (cái đang diễn biến trước mắt) th́ mới ư thức tự chủ và sáng tạo.

Chỉ có tập thể con người “sống thực”, không bị điều kiện hóa bỡi những khuôn mẫu, ư thức hệ, giáo điều, những mảnh vụn của chân lư mới cùng nhau kiến lập một nền văn hóa mới, thích hợp với những khám phá của khoa học kỷ thuật hiện đại trong những thập niên tới. Đó là nền văn hóa ḥa b́nh, nhân bản và dân tộc, mang tính khai phóng và dung hóa trong giao lưu qua lăng kính dân chủ, dung hợp được tự do và công bằng.

Ông cha ta đă dạy:

Trăm nghe không bằng một thấy
Trăm thấy, không bằng một lần trải qua.

Ngày xưa, tổ tiên chúng ta đă trải qua một thời gian khá dài với nếp sống nhân bản nhân chủ; rồi sau đó dần dần bị văn hóa ngoại nhập làm lu mờ đi, nhất là thời kỳ giao lưu văn hóa với Tàu.

Tinh thần nhân bản nhân chủ trong nền văn hóa Việt - văn hóa trồng lúa nước - không phải từ trên trời rơi xuống, hay do một người đắc đạo nào đó hoặc do một hệ thống triết học chỉ dạy cho dân tộc Việt Nam; mà do t́nh gia đ́nh (t́nh mẹ con, cha con, ḷng hiếu thảo), môi trường sống (khí hậu nhiệt đới gió mùa với những đồng bằng phù sa trù phú), cách làm ăn (trồng lúa nước) với nếp sống tương nhượng quần cư hài ḥa trong xóm làng (xă thôn tự trị) đă tôi luyệïn hun đúc nên.

Sống với nghề trồng lúa nước ổn định lâu đời, ông cha ta sớm ư thức vai tṛ của con người vô cùng quan trọng chẳng những v́ nhu cầu điều hợp qua sự vận dụng trí thức thực nghiệm mà c̣n v́ sự đóng góp công sức lao động trong tiến tŕnh canh tác phức tạp của nghề trồng lúa nước.

Thực tế cho thấy dù đất đai mầu mỡ, dù mưa thuận gió ḥa rất thích hợp cho việc cày bừa, gieo trồng nhưng không có con người th́ việc trồng trọt, cày cấy không thể thực hiện được.

Tất cả quy về người, rồi từ người mà ra mọi việc, mọi sự, mọi hoạt động, mọi suy nghĩ và v... v....

Mặt khác, muốn thu hoạch được kết quả tốt đẹp trong việc trồng lúa nước, nông dân phải chủ động quan sát các hiện tượng thiên nhiên. Nói gọn một câu:

Trông cơ trời đất liệu thời làm ăn.

Nghĩa là quan sát hiện tượng thiên nhiên thời tiết (trông trời trông đất...) để quyết định công việc trồng trọt.

Nếu mưa to, gió lớn, giông băo nổi lên nông dân không dại ǵ mà cày bừa, gieo mạ, cấy lúa trong những trường hợp đó.

Nếu trời trong biển lặng, nông dân mới yên tâm làm mùa màng. Điều trên chứng tỏ rằng quyết định làm hay chưa làm là do con người. Nói cách khác, con người chủ động mọi sinh hoạt của con người.

Như vậy, con người tự ḿnh quyết định những công việc phải làm, chứ không phải đó là do ư muốn của thần linh hay bất cứ yếu tố nào ở bên ngoài con người. Con người tự ḿnh làm chủ chính ḿnh. triết học gọi đó là tinh thần nhân chủ.

Dù trài qua hơn 1000 năm bị Bắc thuộc, với chính sách đồng hóa vô cùng thâm độc và hơn 10 thế kỷ giao lưu văn hóa, (từ năm 939 cho đến ngày nay) đa số nho sĩ, khoa bảng, trí thức, một số dân chúng sống trong các đô thị chịu ảnh hưởng sâu đậm sách vở văn hóa Tàu, nhưng làng xă ở nông thôn vẫn tiếp tục duy tŕ truyền thống nhân bản qua ca dao, tục ngữ trong quá tŕnh học ăn, học nói, học gói, học mở (giáo dục nhân bản tâm linh) của nền văn hóa Việt.

T́nh người c̣n được thể hiện qua ḷng thương dân của các vua dưới thời Lư, Trần, thời kỳ phục hồi được phần nào tinh hoa của văn hóa Việt.

Vua Lư Nhân Tông, vị Hoàng đế độc nhất trong lịch sử nhân loại, với di chiếu cho hoàng tộc và quần thần không được xây lăng. Ḷng thương người thể hiện qua ḷng thương dân như thế vô cùng vĩ đại.

Vào mùa đông năm 1052, vua Lư Thánh Tông nói với đ́nh thần: Trẫm ở trong cung sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn c̣n rét thế này, nghỉ đến người tù bị giam trong ngục khổ sở về gông cùm, chưa rơ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ v́ gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, Trẫm rất thương xót. Vây lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu, cấp cơm ăn ngày hai bữa (ĐVSKTT 1 trang 271)

Sự việc trên cho thấy vua coi người bị giam là vô tội cho tới khi có bằng chứng ngược lại và được đối xử nhân đạo. Lề lối tư duy pháp lư của vua không khác với nguyên tắc của luật nhân quyền hiện đại về sự phỏng đoán vô tội cho tới khi bị kết tội trong một phiên ṭa xét xử. Đây là niềm tự hào của dân tộc trong lịch sử nhân quyền tại Việt Nam.

Trong lịch sử nhân loại, không có ông vua nào so sánh “thân ḿnh” với thân của người tù đang bị giam trong ngục. Đó là một viên ngọc quí trong nền văn hóa Việt.

Năm 1126, vua Lư Nhân Tông ra chiếu chỉ “cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây” (Đạo Việt Sử Kư Toàn Thư, trang 294)

Nh́n lộc non vừa nhú lên trong mùa xuân đầy nhựa sống với biết bao niềm vui. Chặt cây cối trong mùa xuân là diệt mầm sống, là phá hoại thiên nhiên, tức ḿnh tự hủy diệt đời sống của ḿnh. Chỉ có những con người trưởng thành trong nền văn hóa đặt nền tảng trên sự cảm nhận Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất (thiên nhiên) mới có lề lối cảm xúc với cỏ cây cùng vạn vật muôn loài.

Năm 1371, vua Trần Nghệ Tông xuống chiếu rằng xây dựng cung thất cốt sao cho giản dị, mộc mạc chỉ lấy các tản dân tôn thất phục dịch, không phiền nhiễu đến dân (Đạo Việt Sử Kư Toàn Thư II, trang 240)

T́nh người được thể hiện qua ḷng thương dân của vua đến thế là cùng.

Truyền Thống Nhân Bản: đă được kế thừa và phát huy rực rỡ nhất với bộ luật Hồng Đức năm 1843 dưới đời vua Lê Thánh Tôn. Hầu hết các luật gia trên thế giớ đều đánh giá cao tính chất nhân bản trong bộ Luật Hồng Đức.

Chính tinh thần nhân bản với ḷng thương người sâu sắc như thế, cùng với nhân sinh quan coi mọi người như anh em ruột thịt cùng một mẹ sinh ra qua cách xưng hô (chú, bác, cô , d́...) giải thích lư do tại sao Việt Nam không có chế độ nô lệ trong suốt chiều dài lịch sử.

Nỡ ḷng nào thiết lập chế độ nô lệ với chú, bác, cô, d́, anh, chị em ḿnh như Tây phương và Trung Quốc hoặc phân chia đẳng cấp khắc nghiệt như Ấn Độ và Nhật.

Như đă tŕnh bày ở trên, t́nh người bắt đầu từ tinh thần nhân bản trong nền văn hóa trồng lúa nước được thể hiện đậm nét trong việc cứu giúp nạn nhân băo lụt một cách nồng ấm qua hai cơn băo Katrina và Rita vừa qua của cộng đồng Việt Nam tại Houston (năm 2005) đă được báo chí Mỹ đánh giá cao.

Mặt khát, nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông/ 4 thể hiện nhân sinh quan của dân Việt:

May ta ở chốn b́nh yên,
Thấy người hoạn nạn, nỡ quên sao đành.

Chiều hôm trước, chuẩn bị nếp, đậu, đường, dừa v...v... bà mẹ đă để hết tâm tư t́nh cảm vào hành động ḿnh; sáng hôm sau, dậy sớm nấu nồi xôi với t́nh người...Tất cả hành động đầy t́nh người đó khiến người trong gia đ́nh học được bài học về t́nh thương một cách cụ thể thiết thực, không qua sách vở kinh điển.

Thấy người hoạn nạn th́ thương,
Thấy người đói khát th́ nhường miếng ăn.
Thương người, bớt miệng mà cho

Nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông 4 nhắc nhở lời dạy của tổ tiên:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.”
“Lá lành đùm lá rách”
“Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

Nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông 4 là biểu tượng của văn minh nhân loại. Văn minh là t́nh người, là ḷng tương trợ, là chia xẻ, là chấp nhận dị biệt, là chung sống hài ḥa, chứ không phải vũ khí bom đạn đủ loại, không phải là bạo lực, chiến tranh khắp nơi, giành giật nhau từ vật chất đến linh hồn.

Nồi xôi ở giữa chợ Hồng Kông 4 là h́nh ảnh nói lên người Việt cần phải đem t́nh người gieo rắc khắp nơi trên hành tinh đầy mâu thuẫn này.

Đạo lư của người Việt Nam là thương người như thể thương thân.

N.V.An: Xin anh cho biết ư kiến về sự liên quan giữa thiên nhiên, con người và thần linh?

T.N.Anh: Từ ngàn xưa, ông cha ta đă hóa giải được mâu thuẫn giữa con người, thiên nhiên và thần linh. Đó là vấn đề mà người Tây phương hiện nay vẫn c̣n tranh cải quyệt liệt đến tàn sát lẫn nhau.

Tư tưởng Việt từ ngàn xưa đă khẳng định:

Thiên nhiên: Thời tiết bốn mùa, mưa, nắng, nóng, lạnh v.v...là hiện tượng luôn luôn biến động, theo qui luật của thiên nhiên, ngoài khả năng chi phối và hiểu biết tận cùng của con người. Con người thích nghi, hài ḥa với thiên nhiên đề tồn tại và phát triển, ḥa cúng vũ trụ.

Đất, nước, núi, sông, rừng, biển là phương tiện tạo dựng nên cuộc sống, lẽ sống, cách sống, đời sống của con người. Khí thiêng sông núi, tinh hoa đất nước, khí hậu địa phương ḥa hợp với lối sống, cách sống với cuốc sống chung đúc tạo nên bản chất và phong hóa ảnh hưởng đến phong cách sống và lẽ sống của đời người.

- Con người: Lấy sự sống làm căn bản cho suy tư, tư tưởng. Thực tại là tiêu chuẩn của chân lư con người nhỏ bé trước thiên nhiên bao la, giông tố, nóng lạnh, băo lụt v.v...

V́ sự sống c̣n, con người cần hợp quần (quần cư hài ḥa trong xóm làng) đổi công/vần công, có việc th́ đến hết việc th́ đi, tương trợ nhau để xây dựng cuộc sống và bảo vệ trường tồn đời sống.

Thực tế cho thấy những vấn nạn của con người chỉ có con người tự giải quyết. Đời sống con người vui tươi hay đau khổ, ḥa b́nh hay chiến tranh đều do con người tự quyết định và tạo lập lấy. Tất cả sự sống, lẽ sống, cách sống tiềm ẩn trong cuộc đời đều bắt nguồn từ con người và cho con người.

Không có con người th́ không có ǵ cả, không có kinh tế, chính trị, đạo đức, tôn giáo v.v...Không có con người, vũ trụ có đó nhưng có cũng như không, không có ư nghĩa ǵ cả, sống thực chứ không phải sách vở kinh điển. Sống thực, sống trọn vẹn với thực tại mới ư thức tự chủ và sáng tạo.

Sự sống luôn luôn sinh động, cho nên ông cha chúng ta không bao giờ giáo lư hóa (tôn giáo hóa) hay hệ thống hóa “cái biết” mà chỉ sống trọn vẹn với cái biết để luôn luôn cảm nhận với cuộc sống, với con người nói riêng và với Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất (Thiên nhiên) nói chung.

Điều đó giải thích lư do tại sao trong nền văn hóa Việt “Không có khuôn mẫu”, không có công thức hóa, không có “Tử viết”, không có sách vở về triết học, mà chỉ có triết lư sống (triết lư sống Tiên Rồng, tức triết lư sống hài ḥa - ḥa cả làng) và chỉ có tiếng nói tâm thức của dân tộc qua ca dao, tục ngữ, huyền thoại...Văn hóa Việt là văn hóa truyền miệng, văn hóa xóm làng.

Như trên đă nói, chỉ có sống thực mới ư thức tự chủ và sáng tạo; sáng tạo mới cảm nhận với con người và sự sống trên nền tảng thực tại là tiêu chuẩn của chân lư và tiếp tục sáng tạo theo nhịp của đời sống.

Cảm nhận thiên nhiên (Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất) và đời sống để học. Học để biết. Biết để làm. Làm để sống. Rồi vừa làm vừa học, làm đến đâu học đến đó. Biết đến đâu làm và sống đến đó. Sống và làm để cảm nhận. Cảm nhận để biết. Biết rồi “bảo nhau” cùng biết để thăng tiến con người.

Thăng tiến con người đồng nghĩa với thăng tiến xă hội, và ngược lại. Sống thực như thế mới ư thức được cuộc sống hiện tại, báo đáp được công đức của tổ tiên đồng thời định hướng cho con người trong tương lai.

V́ sống phải làm, mà làm th́ tặng sự hiểu biết. Sống - Làm - Biết và ngược lại Biết - Làm - Sống. Chính sự hiểu nghiệm (sự hiểu biết được chứng nghiệm bỡi kinh nghiệm sống), cái tri thức thực nghiệm trong đời sống nông nghiệp trồng lúa nước ổn định lâu đời, đă xây dựng triết lư sống Việt: Đạo sống Việt, minh triết đời sống

Thần linh: Con người lúc sống phục vụ lợi ích cho mọi người, cho xóm làng, cho dân, cho nước, nói chung là cho mọi người, chết trở thành thần linh trong ḷng kính trọng và biết ơn của con người. Triết lư sống đó lâu dần trở thành tín ngưỡng nhân thần của dân tộc Việt và h́nh thành hướng phát triển tâm linh với biểu tượng thăng hoa như Tiên Rồng. Người thờ người, thờ nhân tính th́ không có ǵ nhân bản hơn.

Thần linh đối với dân tộc Việt là “nhân thần” Đức Thánh Trần, Hai bà Trưng v.v...) do khí thiêng sông núi và địa linh sản sinh nhân kiệt.

Thần là con người, lúc sống có công ơn cụ thể, thiết thực với con người, chết được người dân tôn vinh là nhân thần . Thật là nhân bản, văn minh nhân loại. Phải chăng điều này giải thích lư do tại sao thờ Quốc Tổ Hùng Vương mà không thờ vua cha là Kinh Dương Vương? Thờ là thờ cái công đức của vua Hùng trong việc thực hiện cuộc cách mạng văn hóa và phát triển đất nước.

Chính v́ thế mà Trần Hưng Đạo được người dân tôn vinh là Thánh, mà vua Trần th́ không được phong Thánh.

Xưa nay dân Việt vinh danh nhân thần đều không có sự tranh căi đến gây chiến tranh như Tây phương. Hiện nay mâu thuẫn về tôn giáo vẫn c̣n xảy ra ở Anh Quốc, ở Trung Đông, ở khắp trời Tây.

Tóm lại, theo tư tưởng Việt coi thiên nhiên, con người và thần linh là ba yếu tố phối hợp hài ḥa trong triết lư sống thái ḥa: đó là “minh triết đời sống” (minh triết đời sống, chứ không phải minh triết kinh điển hay minh triết “Tử viết, sách vở...)

Ư thức Trời - Người - Đất (đầu đội trời chân đạp đất) cùng một thể , từ đó manh nha đặt cơ sở cho ư thức phát triển tâm linh, vốn đă nhen nhúm trong sự gắn bó của con người với thiên nhiên và thần linh (nhân thần) cũng như mối liên hệ thiêng liêng nối liền các thế hệ qua tục thờ cúng tổ tiên.

Nền văn hóa trồng lúa nước là một thể nghiệm sống của sự ḥa điệu Trời - Người - Đất trong đó sức cần lao cũng như tri thức thực nghiệm của con người được ứng dụng và điều hợp một cách sáng tạo sao cho ḥa nhịp và kết hợp với thời tiết (Trời) và đất đai để cho lúa được tốt tươi. Mối liên hệ giữa Trời - Người - Đất thật gần gũi, đồng cảm và đồng đẳng. Từ đó manh nha và lâu dần h́nh thành tinh thần nhân bản và nhân chủ.

Nền văn hóa trồng lúa nước là một thể nghiệm cụ thể của triết lư Trời - Người- Đất cùng một thể

Hiếm thấy và chưa có một nền đạo học nào trên thế giới diễn đạt được nhân sinh quan “Trời - Người - Đất” cùng một thể, một cách ngắn gọn mà đầy đủ ư nghĩa như triết lư sống của nền văn hóa trồng lúa nước qua bài thơ của ông Trần Cao Vân:

Trời Đất sinh Ta có ư không,
Chưa sinh Trời Đất có Ta trong.
Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh,
Trời Đất in Ta một chữ đồng.
Đất nứt Ta ra Trời chuyển động
Ta thay Trời mở Đất mênh mông
Trời che Đất chở Ta thong thả,
Trời Đất Ta đây đủ hóa công. 

T.V B́nh: Anh nghĩ thế nào về tôn giáo ở Việt Nam?

T.N. Anh: Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng “loài người có thể sống khá tốt đẹp mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng” ... “Một người có đức tin tôn giáo hay không cũng không quan rọng cho lắm. Điều quan trọng hơn nữa chính họ phải là người thiện lành” ( Đạt Lai Lạt Ma, Đạo Lư Cho Thiên Kỷ Mới, NXB Văn Nghệ, Linh Thụy chuyển ngữ, tr 34).

Emile Durkheim, một nhà xă hội học Pháp trong cuốn The Elementaryforms of the Religions Life đă tiên đoán sự tàn lụi của tôn giáo trong tương lai: Tôn giáo sẽ được thay thế bỡi tinh thần dân tộc v́ không những nó có các yếu tố có tính hợp nhất thu hút của tôn giáo mà lại c̣n là một hệ thống tín ngưỡng đi trực tiếp vào tâm hồn người dân, không cần qua trung gian một tôn giáo nào.

Trong tương lai, biên giới quốc gia và chủng tộc sẽ bị xóa mờ v́ không c̣n dân tộc nào thuần chủng mà chỉ c̣n những nét đặc thù của mỗi dân tộc. Trong xu hướng này ông cha ta sớm ư thức nên không nói con cháu Bách Việt mà tự xưng là con Hồng cháu Lạc hay con Rồng cháu Tiên.

Theo như lời tiên đoán của nhà xă hội học nói trên, tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng sẽ tàn lụi. Có thể đúng, nhưng “Phật Đạo” “Lư duyên khởi” “vô thường” “không” vẫn tồn tại v́ đó là những nguyên lư thường hằng của vũ trụ. Có Đức Phật hay không có, những nguyên lư đó vẫn thế . Đó là lời tiên đoán trong tương lai: có thể đúng, có thể sai. Nhưng sự việc đang xảy ra th́ Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng “không có tôn giáo nào có thể thơa măn được toàn thể nhân loại (sđd, tr 34).

Trong một nước cũng vậy, không một tôn giáo nào có thể thơa măn được toàn thể người dân. Trong hiện t́nh, phải có nhiều tôn giáo trong một nước. Đó là lẽ đương nhiên. Vậy phải chấp nhận dị biệt, tôn trọng lẫn nhau mà tồn tại trong ḥa b́nh để hoàn thành tốt dẹp vai tṛ và nhiệm vụ cao đẹp của tôn giáo đối với nhân loại. Ông cha ta đă dạy:

Trống làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ

Chủ trương tự do hành đạo, nhưng không nên truyền giáo. Người nào truyền giáo th́ chính người đó đang xâm phạm tự do tín ngưỡng của người khác. Khi có mâu thuẫn th́ chủ trương “đối thoại” để tránh bạo lực và chiến tranh tôn giáo.

Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời. Đâu cần thiết phải quá tích cực trong việc truyền rao giáo hệ (truyền giáo) v́ “loài người có thể sống khá tốt đẹp mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng tôn giáo (sđd, tr 34).

Chúng ta có thể ném bỏ hết tất cả các thứ khác: tôn giáo, lư tưởng, tất cả trí thức thọ nhận, nhưng chúng ta không thể tránh khỏi sự cần thiết của t́nh thương.

Trong ư nghĩa đó, không c̣n cần đến chùa chiền hoặc giáo đường, điện thờ hay ṭa thánh, cũng không cần các triết lư, giáo lư hoặc chủ thuyết phức tạp. Tự tâm ta, tự thức ta chính là đền thờ. Chủ thuyết là t́nh thương (sđd, trang 279).

Thực tế cho thấy các tôn giáo du nhập vào Việt Nam đă và đang kiến lập những ốc đảo trong ḷng dân tộc, tạo điều kiện cho người dân có quá nhiều cái thấy khác nhau. Chính sự xung đột về cái thấy mà gây ra mâu thuẫn, xung đột v.v..., khiến cho t́nh tự gia đ́nh, t́nh tự dân tộc bị sức mẻ; t́nh người bị ngăn cách v́ ai cũng cho tôn giáo ḿnh nắm bắt được chân lư. Từ cơ sở đó, không thành thật trong tương giao, giao tiếp.

Tôn giáo đă là cái ách vô h́nh làm sao con người tháo gỡ được; và qua tôn giáo, không ít th́ nhiều, con người (một thiểu số) đă t́m được b́nh an. Có thể họ sống trong b́nh an giả tạo, nhưng dù là gỉa tạo, c̣n hơn không bờ bến nương tựa, cho những người chưa trưởng thành.

L.V.Hà: Xin cho tôi đặt một câu hỏi ngắn, không đi ra ngoài vấn đề anh Anh đang tŕnh bày. Thế nào là con người trưởng thành?

N.V.Nam: Trong nền văn hóa Việt, con người trưởng thành có nhiều khía cạnh. Hôm nay, tôi xin chỉ nói về con người trưởng thành ở góc độ tôn giáo

Tôn giáo, thật sự đă làm thui chột sinh lực con người, tập cho con người ỷ lại, rồi trở thành kẻ nô lệ. Nô lệ cho thượng đế hay cho ông Phật bên ngoài cái tâm hoặc nô lệ cho tên nô lệ hay bất cứ ai, tinh thần nô lệ không khác chỉ khi nào con người thật sự thênh thang trong mọi kích thước, chỉ khi nào con người có thể ư thức được thể mệnh và tính mệnh của ḿnh, con người đó mới đúng ư nghĩa là người trưởng thành đích thực.

Tôi xin trở lại ư kiến của tôi về tôn giáo. Các tôn giáo ở Việt Nam hăy tự phá vơ ốc đảo của ḿnh trở về với tinh thần khai phóng, bao dung, hài ḥa của dân tộc Việt. Trên b́nh diện tôn giáo, không nên thuyết phục người khác tin theo điều ḿnh tin mà thể hiện điều ḿnh tin qua ư nghĩ, lời nói và việc làm để hạt giống t́nh thương trong nội tâm nẩy nở và phát triển. Một khi t́nh thương phát triển hồn nhiên trong sáng th́ chúng ta sẽ biết phải làm ǵ cho chính ḿnh, cho gia đ́nh, cho tha nhân, dân tộc và nhân loại. Mọi mâu thuẫn, mọi nghịch lư, mọi cái nh́n khác nhau sẽ sụp đổ cùng lúc với t́nh thương phát triển hồn nhiên trong sáng: Thương nhau củ ấu cũng tṛn.

Tôi (Đức Đạt Lai lạt Ma) quan tâm đến việc cố gắng t́m ra một con đường phục vụ toàn nhân loại mà không cần kêu cầu đến tín ngưỡng (sđd, tr 35)

Ông J. Krishmamurti đă nói “ cái mà Phật gọi là Niết Bàn; Jesus gọi là Thiên Đàng, tôi gọi là cuộc sống”.

Cho nên “cần phải có một cuộc cách mạng, chắc chắn là thế. Điều tôi đề xướng là cuộc cách mạng tâm linh (sđd, tr 31). Tôi tin rằng có một sự phân biệt rơ rệt giữa tôn giáo và tâm linh.

Một sự trùng hợp kỳ lạ, như đă tŕnh bày ở phần trên, triết lư sống Việt chú trọng đến việc phát triển tâm linh, chứ không quan tâm đến việc xây dựng một triết thuyết (để có Tử viết) hay một ư thức hệ hoặc một hệ thống giáo lư. Ông cha ta quan tâm đến việc xây dựng nếp sống, sống trọn vẹn với cái biết để luôn luôn cảm nhận với “cuộc sống”, với con người nói riêng và với Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất (thiên nhiên) nói chung.

T.T. Nam: Xin nhắc anh Anh, chỉ c̣n 15 phút nữa là chấm dứt buổi hợp.

T.N. Anh: Xin lỗi các anh, sở dĩ trên đây tôi phải dài ḍng tŕnh bày chỉ nhằm mục đích minh xác một điều là tôi chia xẻ với các anh rất nhiều điểm, nhưng không đồng ư việc các anh đă bỏ quá nhiều th́ giờ để thảo luận về học thuyết này, tư tưởng nọ, trích dẫn Tứ Thư Ngũ Kinh, kinh điển Phật giáo, các triết gia Tây phương v. v...rồi triết học Đông phương, Tây phương v.v..Sư Viên Minh trong “Vi Tiếu” đă định nghĩa “triết học chỉ là một hệ thống ngôn ngữ phức tạp nói về những điều rất giản đơn”. Chúng ta đừng để kẹt nơi rừng văn tự, chữ nghĩa, chỉ có sống thực, sống trọn vẹn với thực tại mới ư thức tự chủ sáng tạo và mới cảm nhận được cuộc sống, chứ không phải xông xáo trong rừng văn tự chữ nghĩa.

Chúng ta hăy b́nh tâm nh́n lại chính ḿnh có phải chúng ta cần sự hài ḥa không? Hài ḥa giữa thân và tâm để tâm hồn yên ổn, thân thể khỏe mạnh. Hài ḥa với mọi người trong gia đ́nh để có một gia đ́nh yên vui hạnh phúc, thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Hài ḥa giữa mọi người, ḥa mục trong xóm làng (ḥa cả làng) đến sự thái ḥa của đất nước; hài ḥa giữa các dân tộc để chung sống yên vui trong thanh b́nh, cùng nhau kiến lập một nền văn hóa mới: nền văn hóa ḥa b́nh, nhân bản và dân tộc, mang tính khai phóng và dung hóa trong giao lưu qua lăng kính nhân chủ và dân chủ, dung hợp được tự do và công bằng.

Điều thứ hai chúng ta cần là t́nh thương hồn nhiên trong sáng. T́nh thương sẽ hóa giải mọi mâu thuẫn, nghịch lư ở nội tâm, trong gia đ́nh và ngoài xă hội: thương nhau củ ấu cũng tṛn.

Điều thứ ba là “trí tuệ” (khôn cũng chết, dại cũng chết, biết th́ sống); thứ tư là “thượng tôn luật pháp”; luật pháp mang tính nhân bản, phục vụ con người. 

L.M. Hoàng: Tôi xin đặt một câu hỏi với anh Anh: bắt đầu từ đâu?

T.N. Anh: Nói th́ các anh sẽ phiền. Mà không nói thật ḷng ḿnh cảm thấy áy náy, khó chịu. Như vậy, ba tháng nay chúng ta đă thảo luận vô ích sao? Hóa ra là hợp nhau lại để phô bày kiến thức, tỏ ra chúng ta là những người thông kim bác cổ...

Đa số chúng ta thường đề cao Đạo Sống Việt, Việt Nho, Việt giáo, Việt đạo v.v... vượt qua giai đoạn “bái vật” tiến đến giai đoạn “nhân chủ”, vượt hẳn triết lư Tây phương v.v...ca ngợi văn hóa Việt đến tận mây xanh trong các buổi hợp hoặc viết báo, viết sách. Nhưng trong cuộc sống, chúng ta không sống thực với điều chúng ta nói hay viết. Chúng ta sống với đầu óc đă bị điều kiện hóa bỡi văn hóa Tàu, Ấn Độ hay Tây phương từ suy tư, dưỡng sinh đến tôn giáo.

Nếu tôi nhớ không lầm, tuần lễ thứ ba của tháng đầu, chúng ta đă đồng thuận làm bất cứ việc ǵ cũng phải có con người tốt, nếu không th́ mọi kế hoạch, mọi chương tŕnh dù có hay đến đâu cũng sẽ vô dụng, hoàn toàn thất bại.

Chúng ta đă đồng ư bắt đầu từ hiện tại, ngay tai đây và bây giờ, nghĩa là từ hơn hai tháng nay rồi. Bây giờ, các anh lại hỏi tôi bắt đầu từ đâu. Té ra, chúng ta đă quyết định mà không làm được ǵ cả sao?

H́nh như trong biên bản buổi hợp anh Minh đă ghi rơ ràng là bắt đầu từ hiện tại ngay tại đây và bây giờ, mỗi người trong chúng ta phải ư thức tầm quan trọng của cuộc cách mạng tâm linh, cuộc chuyển hóa tâm thức, một cuộc chuyển hóa thật sự về toàn bộ cơ cấu tâm lư con người mà khởi điểm là trở về với chính ḿnh, tự hiểu ḿnh (trăm hay là xoay vào ḷng (v́) ngọn đèn được tỏ trước khêu bỡi ḿnh), xây dựng nếp sống tỉnh thức, qua quá tŕnh “học ăn, học nói, học gói, học mở” để thay đổi cái nh́n tiến đến thống nhất tri thức và tâm thức với định hướng BIẾN – HÓA – Thăng hoa – Hoa đồng.

Tôi đề nghị trong những buổi hợp tới, chúng ta nên thay đổi lề lối sinh hoạt, tránh phô bày kiến thức Đông Tây Kim Cổ mà chỉ trao đổi kinh nghiệm sống tỉnh thức.

Chỉ có sống thực, sống trọn vẹn với thực tại, với hiện tiền mới ư thức “tự chủ” và ”sáng tạo”, mới cảm nhận được với cuộc sống và con người nói riêng và với Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất nói chung. Từ cơ sở đó tâm thức tự nó chuyển hóa, chứ không phải do ư muốn của chúng ta, và cũng không phải do người nào đó chuyển hóa hộ cho chúng ta được.

Không thể t́m thấy sự hiện hữu của tâm linh ḿnh trong đôi bàn tay rộng mở của người khác.

Chiều sâu của tâm linh tương ứng với mức độ thời gian bỏ ra để tự biết ḿnh. hăy bỏ thời giờ ra để trở về với chính ḿnh mỗi ngày để cảm nhận và thấu hiểu nhiều hơn về chính ḿnh.

Đó là nền tảng để xây dựng nếp sống tỉnh thức, tỉnh thức trong cuộc sống hàng ngày, tức nhận biết trọn vẹn, đầy đủ những ǵ đang diễn biến trong nội tâm hay ngoại giới và nhận biết đúng y như chúng đang là, không phân tích, phê b́nh, lên án hay tán dương cũng không lẫn tránh.

Càng tự hiểu ḿnh, nguồn sáng nội tâm càng dễ phát sinh, tạo sự b́nh an và an lạc trong tâm hồn; đó là nền tảng, là giây phút cảm nhận với Thiên Thư Vô Ngôn của Trời Đất, nơi chứa đựng hằng số của văn hóa Việt, tạo điều kiện cho hạt giống t́nh thương và trí tuệ nẩy nở, phát triển hồn nhiên trong sáng đó là giây phút tâm người hội nhập ḥa đồng với tâm vũ trụ.

 

 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 07/12/07