PHẦN THỨ NH̀

CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN

 

 

CHƯƠNG I

Đức Phật Thầy Tây An

GS Nguyễn Văn Hầu.

 

VI. GIÁO LƯ CĂN BẢN.

 

Để cho được thích hạp với tŕnh độ và căn cơ của quần chúng trong thời kỳ Hạ ngươn, Đức Phật Thầy chủ trương đem giáo pháp vô vi của đạo Phật mà truyền dạy trong dân gian. Ngài không cho trần thiết tượng cốt, tụng đọc ó la như trong nhà thiền đă làm; Tại ngôi Tam Bảo chỉ thờ trần điều, tiêu biểu tinh thần vô thượng của nhà Phật mà thôi.

 

Ngài đặc biệt quan tâm đến vấn đề đưa ra những giáo thuyết về việc Học Phật Tu Nhân, bởi hầu hết tín đồ của Ngài hồi ấy là hạng tại gia cư sĩ.

 

Về học Phật ta thấy Ngài gom vào ba điều căn bản trong Phật pháp là Giới, Định, Tuệ.

 

Giới: Là những sợi dây buộc ta vào chánh đạo, không cho ta phạm vào những lầm lỗi xấu xa và để ta đừng làm những điều tàn ác vô minh nữa.

 

Định: Suy nghĩ đến những lạc thú ở đời, cho nó đều là mỏng manh, giả ảo; diệt trừ ham muốn và nghĩ đến cuộc đời vô thường, tập trung tư tưởng để quan sát lư đạo, t́m hiểu chánh chân.

 

Tuệ: Hiểu thấu lư vô thường và sự khổ của con người, không bao giờ bị vô thường và s5ư khổ của con người, không bao giờ bị vô thường và sự khổ năo chi phối ḿnh nữa, nên bao nhiêu sự đau khổ đều được diệt trừ, thấy được Phật tánh (bản lai diện mục).

V́ Ngài đă có nói:

 

Lọc lừa th́ đặng nước trong,

Ma, Phật trong ḷng lựa phải t́m đâu.

Haylà:

Cam lồ rửa được tánh mê,

Nước trong th́ thấy nguyệt kia xa ǵ.

Và:

Dốc ḷng niệm chữ từ bi

Lấy dao trí tuệ cắt đi cho rồi.

 

Ngài quyết đem lại cho quần chúng thấy được ánh sáng của cuộc đời là sống an vui, sống với ḷng yêu thương nhau thân thiết chứ không phải sống để hành hạ nhau. Bởi vậy Ngài luôn luôn ở bên cạnh quần chúng để tế độ và hướng dẫn họ tới chỗ nhận thức rơ rệt sứ mạg đạo Phật, không cho quần chúng hiẻu lầm rằng đạo Phật là chỗ để trốn nợ Đời, hay chỉ sống im ĺm một ḿnh đặng chờ ngày về cơi Niết bàn riêng hưởng an vui.

Tất cả giáo lư ấy chứng tỏ Ngài có óc thực tiễn khác thường.

 

Về tu nhân, Đức Phật Thầy thường khuyến khích các môn nhân đệ tử nên đề đáp lại tứ đại trọng ân. Ngài nói:

 

Loài cầm thú c̣n hay biết ổ,

Huống chi người nỡ bỏ tứ ân.

 

Bốn điều ân ấy, Đức Huỳnh Giáo Chủ có kể ra và giải nghĩa rất rơ rệt:

 

1. Ân tổ tiên cha mẹ;

2. Ân đất nước;

3. Ân Tam Bảo;

4. Ân đồng bào và nhân loại (với kẻ xuất gia th́ ân đàn na thí chủ).

 

   Ân Tổ Tiên Cha Mẹ:

Ta sanh ra cơi đời được có h́nh-hài để hoạt-động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc ; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ-tiên nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ-tiên nữa.

Muốn biết ơn cha mẹ, lúc cha mẹ c̣n đang sanh-tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm-chỉ nghe lời, chớ nên xao-lăng, làm phiền ḷng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều ǵ lầm lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức t́m cách khuyên-lơn ngăn-cản. Chẳng thế ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bịnh-hoạn ốm-đau, gây sự ḥa-hảo trong đệ-huynh, tạo hạnh-phúc cho gia-đ́nh, cho cha mẹ vui ḷng thỏa-măn. Rán cầu cho cha mẹ hưởng điều phước thọ. Lúc cha mẹ quá văng, hăy tu cầu cho linh-hồn được siêu-thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân.

C̣n đền ơn tổ-tiên, là đừng làm điều ǵ tồi-tệ điếm nhục tông-môn, nếu tổ-tiên có làm điều ǵ sai lầm gieo họa đau-thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy sinh đời ta làm điều đạo nghĩa, rửa nhục tổ-đường.


Ân Đất-Nước:

Sanh ra, ta phải nhờ ơn tổ-tiên, cha-mẹ, sống ta cũng nhờ đất nước, quê-hương. Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ-dàng, giống ṇi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn-phận phải bảo-vệ đất nước khi bị kẻ xâm-lăng giày đạp. Rán nâng-đỡ xứ sở quê-hương lúc nghiêng-nghèo, và làm cho được trở nên cường-thạnh, rán cứu-cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống-trị. Bờ-cơi vững lặng thân ta mới yên,quốc-gia mạnh giàu ḿnh ta mới ấm.

Hăy tùy tài tùy sức, nỗ lực hy-sinh cho xứ-sở. Thảng như không đủ tài-lực đảm-đương việc lớn, chưa gặp thời-cơ giúp đỡ quê-hương, ta phải rán tránh đừng làm việc ǵ sơ-xuất đến đổi làm cho nước nhà đau-khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất-nước.

Đó là ta đền ơn cho đất-nước vậy


Ân Tam-bảo:

Tam-Bảo là ǵ ?.- Tức Phật, Pháp, Tăng.

Con người nhờ tổ-tiên cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất-nước tạo kiếp sống cho ḿnh. Ấy về phương-diện vật chất.

Về phương-diện tinh-thần, con người cần nhờ đến sự giúp-đỡ của Phật, Pháp, Tăng, khai mở trí óc cho sáng-suốt. Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác-ái vô cùng, quyết cứu-vớt sanh-linh ra khỏi ṿng trầm-luân khổ-hải. Thế nên Ngài mới truyền lại giáo-pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các chư tăng đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần-thế. Các chư tăng chẳng ai lạ hơn những đại đệ-tử của Đức Phật vậy. Bởi v́ Đức Phật luôn luôn chỉ-dẫn và cứu-vớt quần sanh thoát miền mê-khổ, nên ta hăy kính-trọng Phật, hăy tin-tưởng và tín-nhiệm vào sự-nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các chư tăng cho biết. Tổ-tiên ta đă hiểu rơ sự nhiệm-mầu, ḷng quảng-ái của Phật đối với chúng-sanh, đă kính trọng sùng-bái Ngài, đă hành-động đúng theo khuôn-khổ Ngài đă dạy và đă vun trồng bồi-đắp cho nền Đạo được phát-triễn thêm ra, xây dựng một ṭa lầu đài Đạo-hạnh vô thượng vô song, roi truyền măi măi với hậu-thế.

Nên bổn-phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền-nhân hầu làm cho trí-tuệ minh-mẫn đặng đi đến con đường giải-thoát, dẫn-dắt giùm kẻ sa-cơ và nhứt là phải tiếp-tục khai-thông nền Đạo-đức đặng cái tinh-thần từ-bi bác-ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá-tánh. Như thế mới chẳng phụ công-tŕnh vĩ-đại của Đức Phật và của tiền-nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.


Ân Đồng-Bào và Nhân-loại:

Con người vừa mở mắt chào đời đă thấy ḿnh phải nhờ đến sự giúp-đỡ của những kẻ ở xung quanh, và cái niên-kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ-nhơi càng tuần-tự thêm nhiều chừng nấy.

Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong-vũ. Vui-sướng : ta đồng hưởng với họ. Hoạn-nạn : họ cùng chịu với ta.

Họ và ta cũng một màu da, cũng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thành lại làm một : ấy Quốc-gia đó. Họ là ai ? Tức những người ta thường gọi bằng đồng-bào vậy.
Đồng-bào ta và ta cùng chung một chủng-tộc, cùng một ṇi giống roi truyền, cùng có những trang lịch-sử vẻ-vang oanh-liệt, cùng tương-trợ lẫn nhau trong cơn nguy-biến, cùng chung phận-sự đào-tạo tương-lai rực-rỡ trong bước tiền-đồ của giang-san đất nước. Đồng-bào ta và ta có một liên-quan mật-thiết, không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau, và chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta. Thế nên, ta phải rán giúp-đỡ họ hầu đáp đền cái ơn mà ta đă thọ trong muôn một.

Chẳng những thế thôi, ngoài đồng-bào, ta c̣n có thế-giới người đang cậm-cụi cần-lao cung-cấp những nhu-cầu cần-thiết. Họ là nhân-loại, là những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa-cầu. Nếu không có nhân-loại, thử hỏi dân-tộc ta ra như thế nào? Ta có đủ vật-liệu để dùng chăng? Ta có thể tự-túc một cách đầy-đủ chăng ? Nói tóm lại, ta có thể lẻ-loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn, vời những lúc ốm-đau, nguy-biến, giữ vững cuộc sống c̣n nầy chăng ? Hẳn không vậy. Thế nên dân-tộc ta phải nhờ đến Nhân-loại, nghĩa là nhờ đến dân-tộc khác và phải biết ơn họ. Hăy nghĩ đến họ cũng như ḿnh nghĩ đến ḿnh và đồng-chủng ḿnh.
Vả lại cái t́nh từ-bi bác-ái của Đức Phật mà ta đă nhận-thức, rất thâm-huyền quảng-huợt. Cái t́nh ấy, nó không bến không bờ, không phân-biệt màu da, không phân-biệt chủng-tộc; nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng lớp đẳng-cấp xă-hội, mà chỉ đặt vào một : Nhân-loại Chúng sanh.

Thế, ta không có lư-do ǵ chánh-đáng để v́ ḿnh hay đồng-bào ḿnh, gây ra tai hại cho các dân tộc khác. Trái lại, hăy đặt vào họ một tư-tưởng nhân-ḥa, một tinh-thần hỉ-xả và hăy tự xem ḿnh có bổn-phận giúp-đở họ trong cơn hoạn-nạn.
Đối với những kẻ xuất-gia quy-y đầu Phật, phụ vào những ân-huệ đă thọ như đă nói trên, họ c̣n phải trực-tiếp chịu-ân của các đàn-na thí-chủ, nghĩa là những thiện-nam tín-nữ có hảo tâm cung-cấp những vật dụng cần-thiết cho họ. Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống. Rốt lại họ phải nhờ đến sự nuôi dưỡng hoàn-toàn của những kẻ tốt ḷng.

Với quần sanh, họ mang cái ân rất nặng cho nên họ phải d́u-dắt sinh-linh đi tầm Chân-lư đặng đáp tạ tấm ḷng chiếu-cố của Thiện tín.

Xét qua giáo lư và hành động của Đức Phật Thầy, ta có thể mạnh bạo mà nói ngài là một nhà cách mạng tôn giáo tièn phong trong lịch sử Phật giáo Nam Việt. V́ trong lúc Ngài ra đời, đạo Phật đang đi sâu vào chỗ lu mờ suy đốn, do một số nhà sư làm lệch lạc, sai xa với Pháp giáo chơn truyền. Chính Ngài, trước hơn ai hết, đă cương quyết đứng lên thực hành chánh pháp, phổ hoá quần sanh, gây nên một phong trào đạo hạnh sôi nổi và lan tràn mà từ xưa, lịch sử đă chứng minh chưa từng có.

 

Một ông nguyễn Văn Xuyến với chánh pháp thần thông, hoá dân trợ thế; một ông Phạm Thái Chung với pháp thuật cao kỳ, hoằng dương mối đạo; một Đức Cố Quản Thành với tràn đầy ḷng trung liệt, v́ nước quên ḿnh; một ông Nguyễn Văn Thới với mênh mông hồn ưu ái giang sơn tổ quốc... Ngần ấy điều kiện há không đủ chứng tỏ rằng giáo lư của Đức Phật Thầy là một giáo lư cao siêu vô thượng, không quên đạo, chẳng bỏ đời ("đời đạo liên quan rạng chói...") đó sao?

 

VII. NHỮNG DI TÍCH CÓ LIÊN HỆ ĐẾn ĐỨC PHẬT THẦY.

 

A. Ở Ṭng Sơn

 

Từ chợ Cái Tàu Thượng (Sadec) đi đổ xuống rẽ sang lột đất lối hai ngàn thước, du khách sẽ trông thấy xa xa một ngôi đ́nh lợp bằng ngói, ẩn hiện sau mấy cḥm cổ thụ như trôm, dầu ... đó là đ́nh làng Ṭng Sơn, một dấu vết ở quê hương của Đức Phật Thầy, nơi mà xưa kia, Ngài về nương náu sau mái hiên, sau bao nhiêu năm xa cách.

 

Trải mấy lần đất lở, đ́nh này phải dời đi cất lại đến chỗ ngày nay. Trong đ́nh, tại bàn chánh th́ thờ trần điều, c̣n bàn Thần th́ đặt ngay một hương án ở chính giữa phiá trước. Hai bên: tả ban th́ thờ cửu huyền, hữu ban th́ thờ Đức Phật Thầy, trên bàn có một tấm biển bằng cây, sơn son thiếp vàng, lớn độ một thước bề ngang, một thước rưởi bề đứng, có khắc sâu những chữ: Đoàn Phật Sư ở giữa, và một đôi liễn kiến hai bên, đề:

 

Ṭng Sơn đắc ngộ Phật

Tây An quả giác Sư

 

Hằng năm đến ngày 12 tháng 8 là ngày vía của Đức Phật Thầy, đ́nh này có cúng kiến long trọng như các chùa chiền vậy.

 

B. Ở Cái Nai

 

Mộ Phật Mẫu (thân mẫu của Đức Phật Thầy) hiện ở rạch Cái Nai (thuộc thôn An Thạnh Trung, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (An Giang). Rạch này cách cho Cái Tàu Thượng lối năm ngàn bốn trăm thước. Từ vàm rạch vào đến mộ chừng hai trăm thước nữa, chung quanh mộ có trồng ô môi và có cất một cái nhà thờ, có người ở đây lửa hương phụng tự.

 

Tương truyền rằng trước đây khi chưa có người coi giữ mộ này, trâu ḅ cũng không dám đến gần; có khi người ta cho trâu đi ăn khuya lỡ lạc  lại gần đó th́ trâu bỗng nhiên nghinh lên rồi thụt lui mà chạy, chừng như nó thấy được ai chận đuổi nó vậy. Bởi thế nê ngôi mộ này đến nay, dù đă trải nhiều mưa nắng, nhưng đất vẫn g̣ lên, khách đi thuyền qua đây ḍm lên c̣n thấy cao hơn các chỗ khác.

 

C. Ở Long Kiến

 

Tại làng Long Kiến (tổng Định Hoà, Long Xuyên), phía hữu ngạn sông ông Chưởng, khách đi đường sẽ trông thấy một ngôi chùa lộng lẫy nguy nga, trước sân có một cây dầu, chung quanh có xây bồn bằng gạch, ấy là chùa Tây An Cổ Tự, một di tích của Đức Phật Thầy. Ngày xưa Ngài có về đây để phát phù trị bịnh cho đến khi bị dời về An Giang. Nơi này trước kia là cái cốc của ông Kiến. Tuy đă qua mấy bận hư hao và một lần bị cháy, người ta đều sửa lại cho có chỗ thờ phượng. Đến năm 1952, chùa này mới được dựng lại và sửa sang đồ sộ như ngày nay.

 

D. Ở Núi Sam

 

Từ Chợ Châu Đốc đi vào năm ngàn thước th́ tới núi Sam, rẽ sang phía tả, nh́n lên thấy ngôi chùa lồng lộng nằm trên triền núi, ngoài ngơ có đề ba chữ Tây An Môn, ấy là chùa Tây An (tục gọi là chùa chánh) ở núi Sam. Đây là nơí Đức Phật Thầy nương náu để độ dân cho đến ngày nhập diệt. Trong chùa, Phật cốt rất nhiều, v́ chùa này là của giáo phái Lâm Tế như đă nói ở đoạn trước, nên không có chi là dấu vết của Đức Phật Thầy.

 

Sau chùa, về phia Đông có một ṿng thành vuông rộng 5 thước 45 bề dài, 4 thước 75 bề ngang, nằm trên chín cấp nấc gạch, ấy là mộ của Đức Phật Thầy.

Một không có đắp nấm, trước mộ có một tấm bia khắc những chữ:

 

"Ngươn sanh Đinh Măo niên, thập ngoạt, thập ngũ nhựt, ngọ thời chú sanh.

Tự Lâm Tế gia chư thiên phổ chánh phái tam thập bát thế, thượng Pháp hạ Tạng, tánh Đoàn; pháp danh huư Huyên, đạo hiệu GiácLinh chi văn tọa.

Tịch ư Bính Th́n niên, bát ngoạt, thập nhị nhựt, ngọ thời thị tịch diệt."

 

E. Ở Thới Sơn

 

Trại ruộng ở Thới Sơn cách xa núi Sam trên mười ngàn thước. Ngày xưa, khi lập xong, Đức Phật Thầy giao cho ông Tăng chủ và ông Đ́nh Tây ở giữ. Nơi nầy có hai di tích: Phước Điền Tự và Thới Sơn Tự. Hai chùa này cách nhau đọ hai ngàn thước. Khi Đức Phật Thầy mới vào đây, Ngài để trâu (ông Sấm và ông Sét) và làm ruộng tại Phước Điền, c̣n Thới sơn(ngày xưa là trại ruộng Hưng Thới) th́ cất để thờ phượng và để ở thôi.

 

Tại Phước Điền Tự c̣n có hai đôi liễn thờ ở bàn chánh và dán ngoài cửa ngơ. Người ta bảo là của Đức Phật Thầy chỉ cho tín đồ viết và lưu truyền đến ngày nay.

 

 Liễn ở cửa ngơ:

 

Nhứt trần bất nhiễm bồ đề địa

Vạn thiện đồng quy bát nhă môn

 

Liễn ở bàn thờ chánh:

 

Phước bảo thiền quang thanh tịnh vô vi thường phổ chiếu;

Điền kinh công đức viên dung bát nhă biến thông truyền.

 

Và một linh vị:

 

"Ngươn sanh Đinh Măo niên, thập ngoạt, thập ngũ nhựt, ngọ thời hưởng dương ngũ thập tuế.

Cung thỉnh Lâm Tế chánh tông tam thập bát thế, thượng Pháp hạ Tạng, tánh Đoàn; pháp danh huư Minh Huyên, đạo hiệu GiácLinh chứng minh.

Văng ư Bính Th́n niên, bát ngoạt, thập nhị nhựt, ngọ thời nhi chung."

 

Về sau khi ông Đ́nhTây ttịch, trại ruộng Thới Sơn được sửa sang lại thành một ngôi chùa nguy nga, nhưng qua bao nhiêu lần dâu bể, chùa ngày nay chỉ c̣n mấy nếp lợp thiếc và lá mà thôi. Gần chùa c̣n có mấy ngôi mộ của ông Tăng Chủ và ông bà Đ́nh Tây là những người có công nghiệp rất to tát trong việc mở mang làng xóm dân cư ở đây ngày xưa.

 

G. Ở Láng Linh

 

Từ vàm kinh xáng Vịnh Tre đi vô độ mười ngàn thước th́ tới trại ruộng Bửu Hương Các ở Láng Linh (thuộc làng Thạnh Mỹ Tây, tổng An Lương, Châu Đốc). Chỗ này là một di tích mà Đức Phật Thầy xưa đă rẽ đất rạch hoang để mở cơ hoằng pháp. Ngài giao trại ruộng này cho Đức Cố Quản Trần Văn Thành coi giữ. Ngày nay qua nhiều trận hư hao, nơi đây được chấn chỉnh lại, trang hoàng, lợp ngói, vách gạch và có ông Nguyễn Văn Tịnh, một đệ tử cũ của ông Hai Trần Văn Nhu ở giữ ǵn phụng tự.

 

GS Nguyễn Văn Hầu.
 

[BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 06/04/07