KINH ĐÔ CŨ CỦA CHIÊM THÀNH:

THÀNH LỒI

 

Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) quyển 1 nói về Kinh sư, trong phần cổ tích có chép chuyện thành cũ Chiêm Thành “Ở xă Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy. Tương truyền chúa Chiêm Thành ở đây, gọi là thành Phật thệ , tục gọi là Thành Lồi, khoảng đời Minh Mạng lập miếu ở đây để thờ. Lại ở xă Thành Trung huyện Quảng Điền cũng có nề thành cũ của Chiêm Thành, dài hơn 300 trượng, nay vẫn c̣n ....”.

Trong sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM) quyển 1 trang 326 chép về Mị Ê trinh phu nhân như sau: “Tháng giêng mùa xuân (1044) Nhà vua tự làm tướng đi đánh và thắng được nước Chiêm Thành ...Một ngày thuận gió, vượt qua băi Đại Trường Sa và Tiểu Trường sa thẳng đến cửa biển Ô Long (cửa Tư Hiền). Chúa Chiêm đem cả quân và voi bày trận bên bờ nam sông Ngũ Bồ để chống cự quan quân ta. Nhà vua ở bên bờ bắc chia tướng sĩ ra từng bộ phận, mở cờ, gióng trống đi tắt ngang sông đánh địch. Chưa giao chiến quân Chiêm tự đă tự vỡ ngay. Quan quân đuổi đánh chém được ba vạn thủ cấp. Quách Gia Di chém đầu chúa Chiêm là Sạ Đẩu tại trận ... Đoạn kéo quân vào thành Phật Thệ, bắt được vợ cả vợ lẽ của chúa Chiêm và những cung nữ giỏi ca múa khúc điệu Tây Thiên ... Đến tháng 9 đế hành điện Ly Nhân, nhà vua cho mời vợ Sạ Đẩu, chúa Chiêm, là Mị Ê lên hầu thuyền ngự, khôn xiết, uất ức căm hờn, lẳng lặng quấn cái chiên vào người, rồi gieo ḿnh xuống sông tự tử ...” Thành Phật Thệ chính là Thành Lồi kinh đô cũ của vua Chiêm, bây giờ ở địa phận xă Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy Tỉnh Thừa Thiên cũng chính là nơi Mị Ê bị bắt.

Trong bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư Bản kỷ quyển 2 trang 266 chép chuyện này như sau: “....Đến cửa biển Tư Khách (cửa Tư Hiền), có con cá trắng nhảy vào thuyền. Vua nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bờ nam sông Ngũ Bồ muốn chống cự lại quan quân, Vua truyền cho quân bỏ thuyền lên bộ, đem quân sĩ lên bờ bắc, thấy quân Chiêm đă dàn sẳn ở bên sông. Vua mới cắt đặt quân sĩ dựng cờ nổi trống, sang tắt ngang sông đánh. Binh lính chưa chạm nhau mà quân Chiêm, quan quân đuổi đánh chém ba vạn thủ cấp. Quách Gia Di chém được đầu của vua Chiêm là Sạ Đẩu đem dâng, đoạt được 30 voi thuần, bắt sống hơn 5000 người... mùa thu tháng 7 vua đem quân vào thành Phật Thệ bắt vợ cả vợ lẽ của Sạ Đẩu.... ”

Phần ghi chú của sách này cho rằng sông Ngũ Bồ là hạ lưu sông Thu Bồn chảy ra cửa Đại và thành Phật Thệ là thành Chà Bàn kinh đô của Chiêm Thành phía bắc Qui Nhơn.

Sách Đại Việt Sử Kư Tiền Biên của Ngô Th́ Sĩ trang 172 chép: “năm 1001, vua Chiêm là Dương Phổ Câu Tỳ Trà Xá Lị tránh quân ta chạy về thành Phật Thệ  cách xa kinh đô cũ 700 dặm ...” với ghi chú Phật Thành là Phật Thệ ở B́nh Định (ĐNNTC ghi chú từ Quảng B́nh đến B́nh Định là 700 dặm).

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí trang 245 chép: “Lư Thái Tông thân đi đánh Chiêm Thành. Sạ Đẩu chống cự, bày trận bên sông Bố Chính. Quách Gia Di xông trận chém được Sạ Đẩu rồi kéo quân vào thành Phật Thệ... ”

Tấn Linh Giang trước là cửa biển Bố Chính, Linh Giang là sông Gianh

Vậy thành Phật Thệ là Thành Lồi ở Huế hay là Chà Bàn ở Qui Nhơn và trận chiến mà vua Chiêm Sạ Đẩu bị Quách Gia Di chém đầu xảy ra ở Bố Chính (Bố Trạch – Quảng B́nh) hoặc Sông Bồ (Ngũ Bồ?) Hương Trà – Phong Điền Thừa Thiên hay là xảy ra ở Thu Bồn – Duy Xuyên - Hội An Quảng Nam ?

Hiện tại khi quan sát Thành Lồi và các di tích của Chiêm Thành ở chung quanh Huế và nghiên cứu lại trong các tài liệu có thể có một cái nh́n bao quát như một bản thông tin đă viết:

Trên đất Thừa Thiên Huế c̣n lại khá nhiều dấu tích và di vật Champa. Con số di tích khảo cổ Bảo Tàng Tổng Hợp Thừa Thiên Huế kiểm kê phổ thông để đề nghị bảo vệ là 44 di tích, khá đa dạng về loại h́nh như: nền móng của các công tŕnh kiến trúc (tháp, đền, thành ... ) bia đá và trụ đá có chữ, những tác phẩm điêu khắc bằng đá (tượng, phù điêu, trang trí cột kiến trúc, đài thờ, linga, yoni)... Tượng Bà Lồi cao gần 80 cm, có đôi vú tṛn căng đang chắp tay ngồi trên ṭa sen bằng đá có phù điêu vị thần với tư thế nâng đỡ, bộ LinGa lớn, phù điêu h́nh cầu bằng đá với h́nh của các vị thần đang cưỡi trên ḅ thần, chim thần, tượng Phật ngồi trên ṭa sen tại chùa Ưu Điềm; Miếu thờ Bà tam tay bằng đá ở thôn Mỹ Xuyên; nhiều dấu tích và hiện vật Chăm ở miếu Cồn Giằng, cồn Đuồi Ruôi với các ngẫu tượng Yoni, mộ, gạch nung, tượng thần Vinus ở Phong Hiền; 58 hiện vật quư t́m thấy sau lần khai quật  phế tích ở Vân Trạch Ḥa (một tháp chàm cổ bị chôn vùi trong ḷng đất), trong đó có những hiện vật quư như hoa sen 6 cánh bằng vàng dát mỏng, bệ thờ...nhiều hiện vật người dân phát hiện được như đài thờ bằng đá h́nh vuông, chạm khắc h́nh người và thú; tượng ḅ Nandin ở Quảng Phú... Nhiều di tích lịch sử văn hóa Champa nay đă thành phế tích như Thành Lồi (Long Thọ), Thành Trung (Huyện Hương Trà), nền tháp ở Liễu cốc thượng (Huyện Hương Trà), ở núi Linh Thái (Huyện Phú Lộc), ở xă Phong Hiền (Huyện Phong Điền) và nhiều địa điểm khác nằm hai bên bờ sông Ô Lâu (huyện Phong Điền) ... Baỏ Tàng Mỹ Thuật Cung Đ́nh c̣n bảo lưu một số lượng khá lớn hiện vật Chăm, chỉ riêng tượng Chàm bằng đá đă có 85 đơn vị gồm các loại như tượng thần Civa, tượng thần Visnu, thần Uma, nữ thần Laksmi, thần Rishi, tượng vũ nữ, chim thần Garuda, voi thần Ganeisha, tượng thần Gaja, tượng sư tử, đầu Makara, tượng khỉ Hanuman, tượng Linga, Yoni, tượng Phật, một bộ phận kiến trúc và mô típ trang trí.... gần đây, Tháp Mỹ Khánh ở Phú Diên Phú Vang được phát hiện. Qua khai quật khảo cổ kiến trúc cổ Chăm bị vùi sâu trong ḷng cát này, tháp có h́nh đồ kiến trúc h́nh chữ nhật hướng Đông Tây, mặt bằng lớp dưới cùng dài 8,22m, rộng 7,12m. Phần cấu trúc xây dựng tháp bao gồm phần móng tháp, đế tháp, chân tháp, thân tháp, riềm mái tháp và ḷng tháp h́nh chữ nhật. Nhận định bước đầu cho thấy tháp Mỹ Khánh thuộc dạng tháp Lùn trong nghệ thuật kiến trúc tháp Chămpa. Đây là nhóm tháp khởi đầu của kiến trúc tôn giáo Chămpa khi chuyển sang xây dựng bằng chất liệu bền vững, và là một trong những kiến trúc tháp có niên đại sớm nhất trong lịch sử kiến trúc tháp Chămpa hiện nay. Những phát hiện sau đợt khai quật đă cho thấy đây là một phát hiện mới nhất về kiến trúc tháp Chămpa không chỉ ở Thừa Thiên Huế và không chỉ giới hạn ở khu vực bắc Miền Trung.

Và một bài khác viết về Thành lồi trên website của Thừa Thiên Huế  như sau :

“ Thành Lồi (c̣n gọi là thành Khu Túc) Thành có dạng gần vuông, với các lũy Hướng Tây (dài 350m, rộng trung b́nh 10m, cao trung b́nh 3,5m), Nam (550m; 9m; 2,3m), Đông (370), và Bắc (750). Khi triều cường nước sông tiến sát chân lũy Phía Bắc. Bao quanh lũy thành Phía Tây , Nam và Phía Đông là khe Long Thọ và khe Đá tạo thành các hào nước. Ở lũy thành Phía Tây có di tích điện Voi Ré và Hổ Quyền; cách lũy thành Phía Nam 50m về Hướng Bắc là miếu quốc vương Chiêm Thành. Ngoài ra, c̣n t́m thấy một số hiện vật như: ṿng bạc, mảnh gốm, đá vỡ có khắc chữ, đá tảng, gạch Chăm, giếng Chăm... ở khu vực trong và ngoài thành. Hiện nay các bờ lũy không c̣n nguyên dạng trừ lũy Phía Tây, Đông. Kết cấu lũy thành trên cơ sở lợi dụng triệt để địa h́nh tự nhiên, thành được đắp bởi 2 lớp đất, kè đá và gạch vỡ, một số đoạn đắp thêm lớp đất trên mặt...

Có rất nhiều giả thiết về tên gọi, vị trí và vai tṛ của Thành Lồi ở Huế và Thành Khu Túc ở Quảng B́nh qua các thời kỳ lịch sử, tất cả đang là những tồn nghi. Theo nghiên cứu của G.S Trần Quốc Vượng, thành có niên đại vào khoảng thế kỷ V - VI (niên đại thành Trà Kiệu).

Nếu gọi Thành Lồi là Khu Túc th́ khi tra cứu trong ĐVSKTT trang 175 và KĐVSTGCM trang 161 th́ Khu Túc c̣n được gọi là thành Khu Lật thuộc châu Bố Chính nơi mà Đàn Ḥa Chi chém tướng Phạm Phù Long của Chiêm Thành năm 446 (436) theo Đào Duy Anh th́ thành này nằm ở Cao Lao Hạ (Hạ Trạch, Bố Trạch - Quăng B́nh) Cao Lao mà có lần Dương văn An trong Ô Châu Cận Lục (OCCL) nói “kẻ dâm phụ làng Cao Lao, ác tâm giết cả chồng”, t́m trong các sách OCCL và ĐNNTC không thấy nhắc đến tên của thành này.

Thành Lồi được xây dựng trên đồi Long Thọ, hiện tại thuộc địa phận làng Thuỷ Xuân, xă Thủy Biều, thành phố Huế.

Đồi Long Thọ cũng c̣n gọi là g̣ Long Thọ nằm về phía tây bắc huyện Hương Thủy, phía bắc nằm kề sông Hương, chênh chếch đối với g̣ Thiên Mụ, khóa giữ thượng lưu sông Hương, các nhà địa lư gọi thế đất là “Thiên quan địa trục” nghĩa là nơi cửa trời, trục đất.

Bao quanh lũy thành Phía Tây là một vùng đầm lầy ước chừng chục dặm kéo dài đến chân núi Ngọc Trản, h́nh thể như một cái chén nên gọi tên như thế, cũng c̣n gọi là núi Hương Uyển, chân núi kề vực sông Hương, nước rất trong và ngọt, người ta gọi là “nước NgọcTrản” thường lấy về dâng cho vua dùng, chỗ đó nay là nhà máy nước Vạn Niên dưới chân đồi Vọng Cảnh, ngược gịng vài dặm bên bờ hữu ngạn là điện Ḥn Chén nơi thờ thần Y Na

Núi Ngọc Trản được mô tả trong sách Ô Châu Cận Lục của Dương văn An năm 1553 như sau: “ Núi Hương Uyển tại xứ Hải Cát, huyện Kim Trà. Từ phía tây bắc các núi tổ, núi tông vươn cao chót vót, như chủ khách đón đưa, tầng tầng, lớp lớp. Hoặc như hổ phục, rồng bay, cho đến vực bên bờ sông cái th́ đứng ... nổi lên hai ngọn h́nh dáng tṛn trịa, cao cao. Ngắm nh́n quang cảnh xanh tươi, hơi mát khỏe người, trong như h́nh cái bát hương”.         

 Thành Lồi phía Nam hướng về Vạn niên cát địa thuộc g̣ Dương Xuân nay là Khiêm Lăng (Lăng Tự Đức) xa hơn nữa là đàn Nam Giao, núi Ba Vành phía tây nam là núi Kim Phụng.

 

 TRÊN ĐỈNH THÀNH LỒI NH̀N VỀ HƯỚNG TÂY

 

      Phía Đông hướng về phía Cồn Giả Viên, Kỳ đài, Cồn Hến....  Hướng Bắc là g̣ Linh Mụ có đền thờ Linh Đa

      Từ ngă ba đường Lê Ngô Cát - Huyền Trân Công Chúa, về hướng đông chừng 1 Km là đến Thành Lồi, đi ngang một khu nghĩa địa, rồi vạch một lối nhỏ để đi lên mặt thành, t́m một chỗ cao nhất trên bức thành đó để nh́n ngắm toàn cảnh khu vực, thật vô cùng ngoạn mục tuyệt vời lẫn khâm phục khi người xưa đă chọn nơi đây làm một chỗ để quan sát bao quát cả một vùng đất đai trù phú bằng phẳng, một địa điểm rất thuận lợi về mặt kinh tế và pḥng thủ quân sự dưới chân nó

      Hiện tại Thành Lồi chỉ c̣n sót lại một đoạn thành đất dài vài trăm thước, có nhiều chỗ bị đào bới, mổ xẻ, san bằng....sạt lở, nhiều người đem mồ mả táng ở nơi đó, xây ép sát vào chân thành. Bây giờ th́ dấu tích khu thành cũ trở nên hoang phế điêu tàn

      Thành Lồi theo cách nh́n của KĐVSTGCM hay của ĐNNTC là thành Phật Thệ, một kinh đô cũ của Chiêm Thành, một trung tâm vương quyền và nếu đứng trên nhận xét này th́ có thể khái quát và h́nh dung diện mạo kiến trúc của kinh đô này theo ư kiến của người viết, dù chỉ với một số di tích ít ỏi c̣n lại trên thực địa và các di chỉ mới khai quật được để làm những cái mốc cho việc phát thảo

      Thành Phật Thệ có thể được h́nh dung như là có một lớp thành bằng đất bao quanh mà Thành Lồi là một trong đoạn trong đó, thành có thể có 4 mặt  theo dạng h́nh thang hơn là h́nh vuông, chữ nhật hay h́nh nhiều cạnh, mặt tiền của thành quay về phía bắc, đối diện với sông Hương để thuận lợi cho việc giao thông, chu vi của nó vào khoảng trên dưới 8 dặm, bên trong thành sẽ có một số cấu trúc dinh thự đền đài, ao, hồ, giếng nước ... để phục vụ cho vương quyền và dân chúng sống trong thành và nếu dự doán này phù hợp th́ trong tương lai các nhà khảo cổ sẽ t́m được dấu vết nền móng của nó khi khai quật.

      Trong khi đi t́m hiểu, khảo sát trong khu vực Thành Lồi và đọc vài tấm bia trên các ngôi mộ cũ chung quanh đó khiến người ta ngạc nhiên thích thú, v́ nhiều ngôi mộ có niên đại từ 150 năm như mộ của cố đạo người Âu tên H.I.C Jacet ghi sinh năm 1850 chết 1895, trên bia của một ngôi mộ khác gần đó có khác một bài thơ chữ Hán được dịch ra như sau:

Thấy cuộc vinh ba chóng đổi dời

Chọn nơi Đất Phước sống đời đời

Dựng cờ Thánh Giá xây bia đá

Đặt lủy Thành lồi nhớ cảnh Hời

Tứ phía B́nh phong che khuất gió

Hằng ngày Xe gía dạo vui chơi

Họ hàng thân thích năng thăm viếng

Gặp cảnh Trường An đặng thảnh thơi

 

            Trong bài thơ này có một từ làm cho ta phải suy nghĩ: Lũy Thành Lồi, có thể nơi này trước kia chỉ đơn thuần là một chiến lũy, một lũy thành, một trường thành hay là một hoàng thành như ĐNNTC mô tả.

 

            Nếu đơn thuần chỉ là một chiến lũy như lũy Trấn Ninh do Nguyễn Hữu Dật đắp ở Quảng B́nh để ngăn giặc biển th́ vai tṛ của nó khác với một lũy có qui mô như Trường Thành Định Bắc được đắp, trên từ núi Đầu Mâu, dưới đến Động Hải, cao 1 trượng 5 thước, dài hơn 30 trượng, xe ngựa có thể đi lại trên mặt lũy; ngoài lũy có sông ng̣i làm hào; núi chắn sông bao rất là hiểm trở làm chỗ ngăn chặn nam bắc, tục là Lũy Thầy v́ do Đào Duy Từ đắp. Về sau lũy này được tu bổ kéo dài dến 4175 trượng cao, cao 7 thước 3 tấc, với qui mô này gọi là Lũy Thành hay là thành của một kinh thành th́ vai tṛ của nó hoàn toàn khác hẳn.

                        Ở đây chúng tôi muốn mô tả những điều đă thấy và dự đoán khi khảo sát đoạn Thành Lồi này: Thành Lồi hiện tại là một đoạn đê đắp bằng đất đỏ dài khoảng vài trăm thước chỗ cao nhất khoảng 5-6 m, thấp khoảng 1m, mặt đáy thành khoảng 4-5 m, mặt trên của mặt lũy có chiều ngang từ 1-3 m, đoạn thành này được đắp kéo dài từ trên một đỉnh đồi thấp thoai thoải xuống triền phía tây, phía đông bị cắt ngang bởi con đường Huyền Trân Công Chúa, mặt bắc của lũy dốc đứng, có nhiều chỗ bị sạt lở gần phân nửa mặt lũy, có thể quan sát kết cấu đất đá bên trong ḷng của thành Lồi, có rất nhiều mồ mả được táng dưới chân lũy và có thể nói dải đất mặt bắc của Thành Lồi là một nghĩa địa.

            Kết cấu và vật liệu đắp thành là đất đá tại chỗ, một loại đất đỏ có lẫn đá có lẽ được lấy bên chân núi Ngọc Trản cách đó khoảng 3 Km về phía Tây hoặc từ phía Nam của g̣ Long Thọ. Kết cấu chất liệu trong ḷng của lũy khi quan sát ở các mặt cắt những nơi bị sạt lở th́ không có chất liệu đặc biệt khác như cọc gỗ, đá tảng, đất sét, mùn, vữa vôi... mà chỉ thuần một loại đất đỏ ở trong phạm vi cách Thành Lồi không xa.

            Cấu trúc mặt trên của Lũy Thành Lồi như thế nào, có thể nó như mặt trên của Trường Thành Định Bắc, nghĩa là xe ngựa có thể đi lại trên mặt lũy. Ngày xưa có thể được lát bằng một thứ gạch nung v́ hiện tại trên mặt lũy vẫn c̣n sót lại nhiều mảnh vỡ của các viên gạch này. Các nhà khảo cổ có thể đánh giá chính xác niên đại của Thành Lồi qua việc phân tích các mẫu gạch này, đặc biệt là các mẫu gạch này chỉ có mặt trên bề mặt của lũy mà thôi.

               

                                                

            Ở đây điều thú vị là chúng ta minh định Thành Lồi là một Lũy Thành hay Thành Quách  kinh đô Phật Thệ. Nếu Thành Phật Thệ không phải ở Thành Lồi xă Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy Tỉnh Thừa Thiên th́ thành Phật Thệ nằm ở đâu?

  BS Hồ Đắc Duy

E-mail : hodacduy@yahoo.com

22 tháng 05 năm 2008

 

 

 Tài liệu tham khảo :
Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ,
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu,
Đại Nam Nhất Thống Chí,
Ô Châu Cận Lục,
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư,
Đại Việt Sử Kư Tiền Biên ...

 

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/30/08