Từ Lư Triều đến Nguyễn Tộc

Trần Thị Vĩnh-Tường

Mùa Xuân 2007, Việt Nam bước vào đầu thế kỷ 21. Bàng hoàng trước giang sơn thừa hưởng, với một lịch sử lâu dài được tin tưởng là 4000 năm, không khỏi có mơ ước từng trang lần giở.

Rực rỡ nhất, triều đại nhà Lư. Kiến trúc, âm nhạc, triều chính, quốc pḥng, chính trị... Chỉ trong ṿng 215 năm, Đại Việt thoát khỏi thời kỳ u ám 1000 năm lệ thuộc, vươn lên thành một nước kỷ cương, khai mở một b́nh minh rực rỡ làm tiền đề cho một đất nước hùng cường trong suốt 400 năm, mà dư hương linh thiêng vẫn tỏa ngát không gian Đại Việt đến tận bây giờ.

Việt-cổ-Pre-Chinese- China

Những cư dân nước Việt Nam, từ ngàn xưa cho đến bây giờ, không thể gọi là một chủng. Chỉ là chi của một chủng rất lớn, chủng Việt, có hàng trăm chi. 5000 năm trước, chủng Hoa Hạ (lúc đó chưa gọi là Trung Hoa) chỉ chiếm một vài tỉnh ven sông Hoàng Hà (1): Cam Túc,Thiểm Tây, Sơn Tây. Địa bàn của nơi là nước Trung Hoa ngày nay, sử gia bây giờ gọi vùng đất lúc đó bằng tên Pre-Chinese- China, hiểu bằng từ Việt Cổ, chính xác hơn cả v́ thuộc về chủng Việt Cổ. Chủng Việt (Yue) cổ có mặt khắp nơi trên địa bàn Việt-cổ-Pre-Chinese- China: từ miền Bắc sông Hoàng Hà cho đến mũi đất cuối cùng, mũi Cà Mau bây giờ.

Người Hoa Hạ (Hoa: ư nghĩa ban đầu là “rực rỡ”) gọi tộc của họ la trung tâm, đất của họ là trung nguyên. Những tộc người Yue chung quanh chỉ là người chậm tiến, họ gọi là Man-Di-Nhung-Địch:

- Man: phía Nam sông Dương Tử (2).

- Di: phía Đông Bắc, bán đảo Sơn Đông, giữa sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Chếch với bán đảo Triều Tiên, cách chừng 600km đường biển, bằng khoảng cách Cà Mau và Songkla. Nơi có sông Hoài (3) phụ lưu chảy vào sông Hoàng Hà. Thư tịch cổ của Tầu đều nói có đám Đông Di nhuộm răng xâm ḿnh ở khu Sơn Đông.

- Nhung: phía Tây gồm đất Thục (Tứ Xuyên bây giờ), Cam Túc

- Địch; phía Bắc, gồm Mông Cổ, Tungus, Măn Châu.

Bách Việt cổ

Khi người Hoa Hạ đụng độ với đám Việt phía Nam Dương Tử, họ gọi đám đó là Bách Việt. Bách Việt có hai chi lớn: Lạc Việt bộ Mă ở miền biển, và Âu Việt ở vùng núi. Chi nào cũng có hàng trăm tiểu chi. Cuộc gặp gỡ đầu tiên rất ḥa b́nh của chủng Hoa Hạ với chủng Việt, được ghi lại trong Đại Việt Sử Lược 1120 TCN, khi bộ tộc Việt Thường đến tặng vua Châu Thành Vương con chim Trĩ (Trăi). Kinh đô nhà Châu ở Hảo Kinh (Thiểm Tây bây giờ).

Đông Dzi /Đông Yi

Nhóm Đông Dzi gồm 2 chi lớn: HMông và Lạc Việt bộ Trăi. Cả hai chủng là dân du mục. Họ cũng chia làm cả trăm chi chủng. Trong hàng ngàn năm, hai nhóm HMong và Lạc Việt này di tản từ địa bàn ban đầu nói trên xuống phía Nam sông Dương Tử. Những đợt này cách đợt kia cả trăm năm. Kể từ nhà Tống thế kỷ 13, ở cả xứ Việt Nam lẫn Trung Hoa, nhóm Lạc Việt này được gọi dưới cái tên Hakka = Khách Gia = Các Trú. Hakka và Hmong là hai tộc người có định mệnh khá bi thảm trong các dân tộc vùng Đông Nam Á, không có một quốc gia riêng. Tuy vậy, nhóm Hakka vẫn luôn tự xưng là người Hẹ (9) và căn dặn hậu duệ là tộc nhà LỶ, phải luôn nhớ lấy tên gọi nguyên thủy của bộ tộc Lạc Long Quân là Hẹ mà thôi (9), để ghi nhớ tên của tổ tiên thời c̣n lưu lạc nơi bán đảo Sơn Đông.

Xuy Vưu

Suy Vưu (Xi Vưu, Si Bưu, Chi You), lănh tụ của khối Cửu Lê (4), mà chủ lực là người HMong. Xuy Vưu đă cùng với Hiên Viên Hoàng Đế của Hoa Hạ đánh nhau kịch liệt bên bờ sông Trác Lộc (Thiểm Tây) năm 2879. Suy Vưu thua, bị chặt đầu. Con cháu Xuy Vuu tản mạn. Nhóm chạy xuống phía Nam Dương Tử, nhập vào nước Sở mà dân là Lạc Việt bộ Mă. Nhóm chạy sang bán đảo Triều Tiên. Nhóm ở tại chỗ, bị sát nhập và hợp chủng với Hoa Hạ.

Người Triều Tiên chính thức nhận Xuy Vưu là thánh tổ duy nhất của dân tộc. Sau hàng ngàn năm ngơ ngác, từ ruồng bỏ đến ngại ngần, sử Trung Hoa cũng đă phải nhận Xuy Vưu là một trong ba thánh tổ của Hoa tộc (5), v́ không thể từ chối sự có mặt của chủng Hmong và Cửu Lê trong việc hợp chủng với người Hoa Hạ.

“Canh Th́n, năm thứ 21 (1160) (Tống Thiệu Hưng năm thứ 30). Mùa xuân, tháng giêng, làm đền Hai Bà và đền Xuy Vưu ở phường Bố Cái”. (Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, kỷ Lư Anh Tôn. Sách xưa không dám gọi tên Hai Bà Trưng, chỉ gọi Hai Bà).

Từ Xuy Vưu đến Hai Bà là 3000 năm. Từ Hai Bà đến vua Lư Anh Tôn 1000 năm. Tại sao vua Lư Anh Tôn năm 1160 dựng đền thờ Xuy Vưu cùng với đền thờ Hai Bà? Nhà Lư xây dựng rất nhiều đền, miếu, đ́nh, chùa. Nhưng nếu giải thích nhà Lư xây đền thờ Xuy Vưu là để t́m cội nguồn quyền lực, e không đúng. V́ lúc đó, khoảng thời gian 4000 năm mờ mịt, di tich chỉ là sự linh thiêng truyền miệng. Xuy Vưu lại là một bại tướng bị chặt đầu. Đoạn sử về việc lập đền thờ Xuy Vưu, chỉ được nhắc lần duy nhất trong ĐVSKTT, không cho thêm chi tiết nào khác. Xuy Vưu/Hiên Viên/trận Trác Lộc được nhắc trong Lĩnh Nam Chích Quái,Việt Điện U Linh, như là huyền thoại. Sự thật ở đâu? Đă hoàn toàn bị xóa hay vẫn c̣n tiềm tàng trong ḷng các hậu duệ? Liên hệ giữa tộc người Triều Tiên/Viêt Nam/Trung Hoa thế nào qua khoen nối Xuy Vưu? Sự chiến đấu bi thảm nhưng rất hiên ngang nơi Suy Vưu, lănh tụ đầu tiên của chủng Việt chống lại Hoa Hạ, nằm yên trong huyền sử và chính sử, đă đến lúc người Việt t́m hiểu.

Lư Triều Hậu Duệ

Bài viết của Trần Đ́nh Sơn (6), vào năm 1226, khi bị nhà Trần đoạt ngôi, một nhóm hoàng thân nhà Lư lên thuyền buồm chạy về phía Bắc. 1 chiếc bị đắm, 2 chiếc trôi dạt và tấp vào bán đảo Triều Tiên. Hậu duệ của nhà Lư, vào những năm 1960, trở về Saigon nhờ t́m lại nguồn gốc. Họ cho biết sở dĩ tổ tiên nhà Lư trở về Triều Tiên v́ gốc gác họ ở đó. Họ hàm ư Sơn Đông, địa bàn đầu tiên hay đi lạc sang Triều Tiên, địa bàn thứ hai? Câu hỏi liệu có ch́m trong làn sương của lịch sử. Hay vẫn vọng lại từ tiếng chiêng trống trên đồi Lư Hoa San của Hoàng Tử vong quốc Lư Long Tường? (7)

Năm 1226, sau khi Trần Thủ Độ soán ngôi, những người họ Lư c̣n ở lại, một là bị giết, hai là bị buộc phải đổi thành họ Nguyễn. Vị vua cuối cùng là Lư Huệ Tông, dù đă vào tu chùa Chân Giáo, vẫn bị Trần Thủ Độ bắt phải treo cổ tự sát. Đa số con cháu và viên chức làm việc cho triều đ́nh Lư bị giết hay lưu đày. Trần Thủ Độ c̣n bắt tất cả họ Lư phải đổi thành họ Nguyễn.

Họ Nguyễn/Ngiên/Ruan

Nguyễn = Ngiên, phát âm theo Hakka. Nguyễn = Ruan, phát âm theo quan thoại. Tiếng Hakka gần với âm Việt hơn là âm quan thoại. Ai say mê phim/truyện Tầu, thường nghe Ngiên ca ca, Ngiên muội muội, chưa hề nghe Ruan ca ca, Ruan muội muội,

NGUYỄN: mang nghĩa nguyên-thủy 'một loại nhạc cụ'. Họ 'Nguyễn' (8) xuất xứ lâu đời từ nước Nguyễn ở phía Đông Nam tỉnh Cam Túc, gần tỉnh Tứ Xuyên, địa bàn của Khương tộc, Thái tộc và Việt tộc. Lúc đó Trung Hoa có chừng 2000 nước lớn nhỏ khác nhau. Nước Nguyễn bị Châu Văn Vương sát nhập rất sớm và con cháu tản mác về hướng Hoa Nam hoặc phía Đông, vẫn giữ họ Nguyễn (10). (Thứ sử tại Giao Châu (xứ Việt cổ) thời nhà Trần của Trần Bá Tiên, là một người mang họ Nguyễn: Nguyễn Tá. Trong thời Lục triều (thế-kỷ 3-6) ở phía nam nước Tàu, có anh em nhà thơ Nguyễn Tịch và Nguyễn Hàm, thuộc Trúc Lâm thất hiền. Nhà Minh cũng có vị đại tướng mang họ Nguyễn (Ruan Dacheng), và nhà Thanh, thầy giáo của nhà vua cũng một người mang họ Nguyễn (Ruan Yuan).

Lịch sử: linh thiêng, im lặng và bí mật. Tôn kính tổ tiên không ǵ bằng t́m về nguồn cội, trong ư nghĩa vô cùng lớn của dân tộc học. Có nghĩa là không giới hạn trong hiểu biết chủ quan của ḍng họ, chủ nghĩa, quốc gia, biên giới địa lư. Từ đó mới có thể nói với lịch sử: xin hăy yên nghỉ, những điều bi thảm không bao giờ xảy ra lần nữa. Đó cũng là mơ ước đầu xuân sớm.

Trần Thị Vĩnh Tường

GHI CHÚ

(1) Sông Hoàng Hà, vĩ tuyến 36 - 38. Mỗi vĩ tuyến dài 60 miles hay 111km.

(2) Sông Dương Tử, vĩ tuyến 30.

(3) Thuyền rẽ sông Hoài sóng bạc trôi (cổ thi).

(4) Cửu Lê = Khương + Hmong + Lạc Việt. Chữ Lạc cũng được viết y như chữ Lạc trong Lạc Long Quân.

(5) Hai thánh tổ kia là Hiên Viên, Thần Nông.

(6) Trần Đ́nh Sơn/Hội Chuyên Gia VN/Nguyệt San VN số 10/1997, Những Người Rời Tổ Quốc Để Làm Chứng Nhân Lịch Sử.

(7) Hoàng Tử Lư Long Tường hai lần giúp Cao Tông Hoàng Đế của Triều Tiên đánh bại quân Mông Cổ, năm 1232 và 1253, được Vua Triều Tiên nhớ ơn, tôn xưng ngài là Bạch Mă Tướng Công. Đền thờ ngài hiện vẫn quanh năm hương khói. Mỗi năm vẫn cử hành lễ giỗ, nghi vệ chiêng trống uy nghiêm chỉ dành cho bậc vương công, ở núi Quảng Đại Sơn, cách Seoul chừng 10km.

(8) Nguyên Nguyên (Thử Đọc Lại Truyền Thuyết Hùng Vương).

(9) Nguyên Nguyên (Thử Đọc Lại Truyện Kim Dung: Nguồn Việt và Kim Dung) Trong Thiên Long Bát Bộ và Lục Mạch Thần Kiếm, có một mối u t́nh giữa nữ hiệp khách Nguyễn Tinh Châu và em gái là Nguyễn Tinh Tử cùng Tiêu Phong đại hiệp. Tiêu Phong chỉ yêu cô chị A Châu, nhưng cô em A Tử cũng say đắm Tiêu Phong. Đoạn cuối: Tiêu Phong bồng xác người yêu, năo nề không biết về đâu. Người Khiết Đơn cho chàng là người Trung Nguyên. Người Trung Nguyên cho chàng là con chó Khiết Đơn. Nỗi bi thương của chàng nhỏ ướt xác A Châu, làm lá cây rụng đầy mặt đất. Kim Dung cho nhân vật mang họ Nguyễn, hàm ư Yue tộc cũng là một thành phần tiến tạo nên Hán tộc.

(9) Hẹ: một bộ tộc rợ ở miền Bắc nước Tàu vào thời xa xưa (tự điển của Tiến sĩ Lau Chun-fat & Kai-hui Chang và ê-kíp.

(10) Nguyên Nguyên (Thử Đọc Lại Truyện Kim Dung: Nguồn Việt và Kim Dung) Trong Thiên Long Bát Bộ và Lục Mạch Thần Kiếm, có một mối u t́nh giữa nữ hiệp khách Nguyễn Tinh Châu và em gái là Nguyễn Tinh Tử cùng Tiêu Phong đại hiệp. Tiêu Phong chỉ yêu cô chị A Châu, nhưng cô em A Tử cũng say đắm Tiêu Phong. Đoạn cuối: Tiêu Phong bồng xác người yêu, năo nề không biết về đâu. Người Khiết Đơn cho chàng là người Trung Nguyên. Người Trung Nguyên cho chàng là con chó Khiết Đơn. Nỗi bi thương của chàng nhỏ ướt xác A Châu, làm lá cây rụng đầy mặt đất. Kim Dung cho nhân vật mang họ Nguyễn, hàm ư Yue tộc cũng là một thành phần tiến tạo nên Hán tộc.

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 05/16/07