...... ... .  . .  .  .

Về Một Phong Trào Phật Giáo Nhật Bản Đương Đại:

Từ Nhật Liên Tông Đến Sáng Giá Hội

(Soka Gakkai).
Tâm Hà  Lê Công Ða

Cách đây trên hai ngàn năm trăm năm một vị đã Phật ra đời. Không phải là một ngẫu nhiên mà sự ra đời này lại trùng hợp với sự nở rộ của một loài hoa qúy hiếm, tương truyền hàng ngàn năm mới nở một lần: Hoa Vô Ưu. Tất cả mọi hiện hữu trên thế gian này, như ta biết, đều có nhân duyên của nó, thế nên vượt lên trên tất cả, sự ra đời của Phật chính là một đại sự nhân duyên. Do bởi đại sự nhân duyên này mà đóa hoa Vô Ưu nở từ hơn hai ngàn năm trước cho đến nay vẫn không hề tàn lụi, càng ngày càng tỏa hương ngát khắp mười phương, vượt qua mọi biên giới quốc gia, phủ trùm lên mọi quốc độ thế gian, từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á. Có thể nói một cách khẳng định rằng, đoá hoa Vô Ưu này đã nở ra từ khổ đau của con người để giúp thăng hoa và giải trừ nỗi khổ đau ấy. Nó trực diện với khổ đau và giải phóng con người ra khỏi những khổ đau. Nói đạo Phật gắn liền với xã hội, nhân sinh là như thế, và bởi vì nó gắn bó mật thiết với thời đại và con người thế nên nó  tồn tại và phát triển.

 

Chúng ta hiện đang sống trong một thế giới đang thay đổi và chính chúng ta cũng đang thay đổi trong từng giây phút, nếu không nói là trong từng sát na. Thay đổi là một trong ba pháp ấn của Phật giáo dưới tên gọi Vô Thường. Thế nên vấn đề của chúng ta, những người Phật tử trong thời đại này, là hãy nhổ neo, căng buồm lên, cỡi theo ngọn gió đổi thay để cùng với mọi người mau chóng đến bờ bên kia –đáo bỉ ngạn, thể hiện tinh thần Bát Nhã. “Yết Đế. Yết Đế. Ba La Yết Đế. Ba la Tăng Yết Đế. Bồ Đề. Tát Bà Ha.” Phải đi, phải vượt lên, vượt qua hết, phải thay đổi không ngừng. Ngôn ngữ thế gian gọi sự thay đổi đó là cách mạng. Daisaku Ikeda, chủ tịch đương nhiệm phong trào Soka Gokkai (Sáng Giá Hội) của Phật Giáo Nhật Bản gọi đó là cuộc cách mạng trong mỗi con người –The Human Revolution. Đó là một cuộc cách mạng bản thân hay nói rõ hơn, một cuộc cách mạng tâm linh. Hôm nay, dưới ánh sáng của mùa Phật Đản, chúng ta thử tìm hiểu những nét sơ lược về một phong trào Phật giáo đang để lại những dấu ấn sâu đậm trong mọi hoạt động của xã hội Nhật Bản hiện nay.

 

1. Nhật Liên (Nichiren Shonin),

Người Sáng Lập Nhật Liên Tông

Ngài Nhật Liên (Nichiren Shonin), tục danh là Zennichimaro, sinh ngày 16 tháng 2 năm 1222 tại Kominato, quận Chiba, phía đông Nhật Bản. Trong tự truyện, Ngài Nhật Liên đã nói về mình như sau: “Tôi là con trai của một ngư phủ ở Tojo, một làng chài lưới hẻo lánh vùng duyên hải tỉnh Awa” và rất hãnh diện khi nhận mình là “đứa con của đại chúng”. Đứa con trai của người đánh cá nghèo hèn ở tận cùng của bức thang xã hội này đã lớn lên cùng với tiếng sóng vỗ của biển Thái Bình và nhận ra rằng mình thuộc về cái đám đông không tên tuổi đó và có nghĩa vụ phải cứu độ họ. Niềm khát khao này đã đưa Nhật Liên đến sự khám phá rằng mình là hoá thân của Bồ Tát Tịnh Hành, một người sinh ra từ giai cấp bần cùng và đã phổ truyền bộ kinh Pháp Hoa. Chúng ta nên lưu ý rằng ngài Nhật Liên tuyên bố điều này vào một thời điểm mà xã hội Nhật đang còn ở trong tình trạng kỳ thị do đẳng cấp xã hội, đồng thời cũng là một giai đoạn đang có những thay đổi lớn lao, từ một xã hội của giai cấp quý tộc bước sang một xã hội của giai cấp chiến sĩ.

Xuất gia năm 11 tuổi  và thọ giới tỳ kheo năm lên 15 tuổi với pháp hiệu Rencho, Nhật Liên đã phát nguyện rằng ông phải hoàn thành Phật quả để cứu độ cha mẹ. Tuy còn ở tuổi thiếu niên, nhưng Nhật Liên đã bắt đầu mang một thắc mắc lớn, là tại sao Đạo Phật chỉ có một mà hiện nay lại có đến 9, 10 tông phái? Để tìm câu trả lời đâu là Đạo Phật chân chính, năm 17 tuổi nhà sư trẻ Rencho rời quê hương đi Kamakura, thủ phủ chính trị của Nhật Bản lúc bấy giờ, đến tham học tại chùa Onjo, Kyoto được coi như trung tâm văn hoá của Nhật và một số chùa chiền danh tiếng khác, sau cùng là chùa Tỉ Duệ Sơn (Mt. Hiei,) một Phật học viện hàng đầu của Nhật Bản lúc bấy giờ. Cuối cùng, đến năm 31 tuổi ngài Nhật Liên đi đến kết luận rằng chỉ có kinh Pháp Hoa mới đúng là lời dạy chân thật do chính Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết và tin rằng mình là người mang trọng trách xiễn dương giáo lý của Pháp Hoa để cứu độ nhân sinh. Trong niềm tin tưởng như thế, ngài Nhật Liên đã viết bài pháp luận “Bốn Phê Phán” có nội dung phê bình các tông phái Thiền, Tịnh Độ, Chân Ngôn, và Luật Tông của Phật giáo Nhật Bản lúc bấy giờ.

Năm 1253 ông trở về ngôi chùa cũ ở quê hương, đổi pháp hiệu từ Rencho thành Nhật Liên (Nichiren) và chính thức tuyên bố thành lập giáo phái Nhật Liên Tông, đặt căn bản trên bộ kinh Pháp Hoa. “Nichi” là Nhật, bao hàm ý nghĩa rằng vĩ nghiệp của Đức Phật giống như mặt trời, mặt trăng xoá tan bóng đêm u tối, và “Ren”-Liên, hoa sen, một loài hoa mang phẩm chất “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhật Liên như thế bao hàm ý nghĩa rực rỡ như mặt trời và tinh khiết như hoa sen.

Ban đầu số lượng tín đồ tham dự rất khiêm nhượng, khoảng 2, 3 người lại bị phái Tịnh Độ phản ứng gay gắt tìm cách đuổi ra khỏi chùa, ngài Nhật Liên lên đường đến Kamakura lập một ngôi làng nhỏ tại Matsubagayatsu làm cơ sở hành đạo. Trong thời gian này Nhật Bản đang gặp khó khăn bởi thiên tai và dịch tể tàn phá, thây người chết đói và chết dịch nằm đầy trên khắp các ngả đường. Ngài Nhật Liên liền viết một bài pháp luận dâng lên vị tướng quân nhiếp chính đương thời, cho rằng những vị thần bảo hộ Nhật Bản đã lìa bỏ đất nước này vì dân chúng hiện tin vào tà thuyết, cụ thể như Tịnh Độ tông đã từ bỏ Đức Phật Thích Ca, không tin vào sự cứu độ ở thế gian này mà chỉ mong cầu ở kiếp sau. Đó là lý do tại sao Nhật Bản phải chịu những tai ương ở trong nước và họa ngoại xâm sắp cận kề. Để thoát khỏi kiếp nạn này, dân Nhật không còn một lựa chọn nào khác là quay trở về với Pháp Hoa, tức là với những lời dạy chân thật của Đức Phật Thích Ca.

Bốn tháng sau, để trả lời cho bài pháp luận này, tín đồ phái Tịnh Độ với sự đồng ý của vị tướng quân đã tấn công phóng hỏa ngôi làng Matsubagayatsu và tìm giết Nhật Liên. Ông thoát chết trong vụ tấn công này nhưng sau đó đã bị lưu đày ra đảo Izu trong gần hai năm. Khi được phóng thích ông trở về thăm lại quê hương và rồi trong một buổi thuyết pháp ở đây, ông đã lọt vào một cuộc phục kích khác quy mô hơn của phái Tịnh Độ với một rừng gươm giáo và tên bắn như mưa. Ông lại thoát chết trong trận phục kích này nhưng một số tín đồ đã bị thiệt mạng. Đó là năm 1264. Ba năm sau, đầu tháng Giêng năm 1268, Hoàng đế Mông Cổ sau khi thôn tính xong lục địa Á Châu đã hạ chiến thư với Nhật Bản. Thế là lời tiên đoán của Nhật Liên đã thành sự thật. Nhân dịp này, ông đã gặp vị tướng quân đương nhiệm, Taira Saemon-no-jo, đòi hỏi một cuộc tranh luận công khai với các tông phái Phật giáo khác cùng thái độ đối xử đúng đắn của chính quyền đối với tôn giáo. Vị Tướng quân này đã nổi giận, cho bắt giam Nhật Liên, tuy nhiên hội đồng sứ quân lại muốn mang Nhật Liên ra chém đầu ngay lập tức vào ngày hôm đó để diệt trừ hậu hoạn. Tại pháp trường, một phép lạ đã xảy ra: “một khối lửa tròn như mặt trăng bay đến từ hướng Enoshima, đánh ngã tất cả các binh sĩ tại hiện trường”. Kết quả là không ai còn dám hành hình Nhật Liên nữa. Ông bị lưu đày ra đảo Sado.

Được ân xá vào năm 1274, Nhật Liên trở lại Kamakaru và gặp Tướng quân Saemon lần nữa cùng với những yêu sách cũ. Đây là lần chỉ trích chính quyền lần thứ ba của ngài Nhật Liên, chứng tỏ rằng với một đức tin mạnh mẽ, con nguời không có gì phải sợ hãi trước bạo lực của thế quyền, như ngài đã viết: “Khi một người được sinh ra trong một vương quốc, thể xác y có thể bị bắt buộc phải vâng lệnh kẻ cầm quyền nhưng tâm hồn thì không bao giờ”. Câu hỏi đầu tiên của Tướng quân Saemon là: “Bao giờ thì Mông Cổ xâm lăng Nhật Bản”. Ngài Nhật Liên trả lời dứt khoát: “Chắc chắn nội trong năm này”. Lần này thì hội đồng sứ quân đã phải dịu giọng và tìm cách mua chuộc bằng cách mời ngài về trú trì ngôi quốc tự Aizen tại thủ đô. Ngài Nhật Liên đã từ chối lời đề nghị này và rút  về ẩn cư tại núi Minobu đồng thời xây dựng cơ sở phát triển tín ngưỡng của tông phái mình. Tại đây, vào ngày 24 tháng 11 năm 1281, ngôi chùa đầu tiên của Nhật Liên Tông đã được khánh thành.

Đúng như lời tiên đoán của ngài Nhật Liên, tháng 10 năm 1274 quân Mông Cổ đổ bộ vào Kyushu xâm lăng Nhật Bản, chiếm đóng hai hòn đảo Iki và Tsushima sau khi đánh bại quân trú phòng. Đạo Phật của ngài Nhật Liên là một đạo Phật gắn liền với thế gian, với những khổ đau của nhân sinh, đặc biệt là những đau thương của dân tộc ông trong cuộc chiến đấu chống quân Mông Cổ, điều này đã được ông gởi gắm qua những đoạn văn thể hiện tình cảm yêu nước nồng nàn: “Làm sao tôi có thể quay lưng lại với thực tế khi mà cư dân của hai đảo Iki và Tsushima trong phút chốc đã hoàn toàn biến mất vào hôm tháng Mười năm 1274? Vĩ đại thay là những nỗi buồn đau của người lính chiến phải giã từ cha già mẹ yếu, vợ dại con thơ cùng mái nhà thân yêu để lên đường bảo vệ những vùng duyên hải xa lạ chống lại kẻ xâm lăng. Khi người lính trông thấy những đám mây trời, họ tưởng như đó là cờ xí của quân thù, khi họ thấy những chiếc ghe chài, họ cứ ngỡ như là đoàn chiến hạm của quân xâm lược với xiết bao kinh hoàng. Ngày, một, hai lần trèo lên núi cao; đêm, ba, bốn lần leo lên lưng ngựa, họ không lúc nào rời mắt theo dõi kẻ thù. Họ có cảm giác như mình đang sống trong một thế giới không ngừng tranh chiến, thế giới của A tu la”. (1)

Trải qua những lần bị bách hại và thoát chết cũng như những lời tiên đoán của ông đều trở thành sự thật, ngài Nhật Liên khẳng định niềm tin rằng lịch sử của Phật giáo như được Đức Phật tuyên thuyết trong kinh Pháp Hoa đã được chứng nghiệm bởi chính cuộc đời ông và ông chính là người được Đức Phật chọn lựa trong sứ mệnh phổ truyền giáo lý Pháp Hoa. Suốt một đời hoạt động sôi nổi, không ngừng tranh luận với giới chức quyền thế để bênh vực quyền lợi cho đại chúng dân nghèo, lấy giáo lý Đại thừa để huấn luyện tinh thần dân tộc làm lợi ích cho quê hương xứ sở về phương diện thế gian, dân Nhật vì thế tôn sùng ông như một nhà tiên tri, một vị thánh. Ngài Nhật Liên viên tịch vào ngày 13 tháng Mười năm 1282 tại tỉnh Musashi (Tokyo), để lại lời di chúc: “Xin vui lòng an táng tôi trên ngọn núi Minobu, nơi mà trái tim tôi an trú vĩnh viễn”. (2)

Tương truyền mặt đất đã chấn động và hoa anh đào lập tức nở rộ phủ đầy khắp ngọn núi Minobu như một lời đưa tiễn.  

2. Phong Trào SOKA GAKKAI (Sáng Giá Hội) cuả Giáo Hội Phật Giáo Nhật Liên Tông, Nhật Bản.

Một trong những tổ chức tôn giáo năng động và được coi là thành công nhất trong nỗ lực phổ truyền giáo lý Phật giáo trên thế giới trong thời đại ngày nay là phong trào SOKA GAKKAI (Sáng Giá Hội), một tổ chức cư sĩ hoạt động trong khuôn khổ của Giáo hội Phật giáo Nhật Liên Tông, Nhật Bản. Mặc dầu tổ chức này được hình thành và lớn mạnh tại Nhật do đáp ứng đúng yêu cầu tâm linh của quần chúng, tuy nhiên vì đây là một phong trào Phật giáo, đối tượng cuối cùng của nó vẫn là con người, là nhân loại, thế nên mục tiêu của phong trào SOKA GAKKAI nói chung đã được xây dựng trên một niềm tin vững chắc, rằng sự cải thiện trong mỗi con người không những có năng lực chuyển hoá nghiệp lực của mỗi cá nhân mà còn cả quốc gia và nhân loại nữa. Cho nên ta có thể mô tả một cách ngắn gọn mục tiêu của tổ chức này, đó là vận động thực hiện một Cuộc Cách Mạng Con Người

Tsunesaburo Makiguchi (1871 - 1944) và Josei Toda (1900 - 1958),

Những Sáng Lập Viên Tiên Khởi của Phong Trào Soka Gakkai.

Theo đuổi mục tiêu này hoàn toàn là một hành động thuộc lãnh vực niềm tin tôn giáo. Các nhân vật lãnh đạo tiên khởi của phong trào Soka Gakkai trong thời Đệ Nhị Thế Chiến đã hành xử đức tin tôn giáo của mình một cách đúng đắn qua việc bày tỏ lập trường kiên định là không tán đồng, phục vụ cho một tôn giáo mà họ không tin là chân chính –Thần Đạo- đang đưa nước Nhật vào thảm họa chiến tranh, không lối thoát. Hậu quả là tất cả những nhân vật sáng lập phong trào đều bị chính quyền quân phiệt Nhật bắt giam và vị chủ tịch tiên khởi, Makiguchi, đã bỏ mình  trong tù vào năm 1944 như một kẻ tuẩn giáo. Josei Toda, người kế vị và là vị chủ tịch thứ hai của phong trào, sống sót sau hơn hai năm bị giam cầm, được phóng thích chỉ vài tuần lễ trước khi cuộc chiến kết thúc. Là một nhân vật có đầu óc tổ chức, ông là người đã mở ra một chương mới cho lịch sử Soka Gakkai, thế nên khi nói đến Soka Gakkai, ta không thể không nói đến Josei Toda.

Xuất thân là một giáo viên Tiểu học, cuộc đời của Josei Toda  thực sự thay đổi khi ông gặp Makiguchi vào mùa hè năm 1920, lúc đó đang là Hiệu trưởng của trường Tiểu học Nishimachi tại thủ đô Tokyo. Trong vị trí này, Makiguchi đã giúp Toda giữ một chân giáo viên tại đây và rồi trở thành một vị thầy, một người hướng dẫn tâm linh cho Toda trong suốt cuộc đời còn lại. Thế nên vào năm 1928, khi Makiguchi chính thức quy y Nhật Liên Tông thì Josei Toda cũng lập tức theo bước chân thầy, trở thành một đệ tử trung kiên của giáo phái này. Makiguchi là người đề xướng ra một phương pháp sư phạm mới được gọi là “sáng tạo giá trị”, soka, và lập ra hội Soka Kyoiku Gakkai –Sáng Giá Học Hội, một tổ chức giáo dục chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nhật Liên Tông. Năm 1922 Toda xin từ nhiệm vai trò giáo viên, đem phương pháp của Makiguchi áp dụng vào hệ thống giáo dục lớp đêm do ông sáng lập. Doanh nghiệp này đã thành công rực rỡ cho ông đủ vốn liếng để mạnh dạn đi hẵn vào thương trường, thành lập một loạt các công ty xuất bản, một cơ sở tài chánh cùng một hãng đầu tư chứng khoán. Đến năm 1943 thì Toda đã làm chủ tất cả mười bảy công ty và sắp sửa mua thêm một mỏ than tại Kyushu và một công ty sản xuất dầu tại Osaka. Thế nhưng tất cả đều sụp đổ trong năm này. Tháng 7 năm đó, chính quyền ra lệnh tất cả mọi công dân Nhật Bản phải tôn thờ một đạo bùa chú của Thần Đạo để tỏ lòng trung thành với Thiên Hoàng. Để bày tỏ đức tin tôn giáo của mình, Makiguchi từ chối, không những thế ông còn cấm tất cả hội viên của  Soka Kyoiku Gakkai tuân theo lệnh này. Makiguchi lập tức bị bắt giữ và Josei Toda, với một đức tin vững mạnh cũng đã chấp nhận từ bỏ tất cả tài sản, danh vọng để đứng cạnh và chia xẻ số phận cùng với Makiguchi. Hai ngày sau, Toda cùng hai mươi nhân vật lãnh đạo khác của phong trào Soka Kyoiku Gakkai vào tù.

Ra khỏi tù với một thân thể đau ốm bệnh hoạn, không một đồng xu dính túi, trong bối cảnh của một nước Nhật hoàn toàn đổ nát vì chiến tranh, tuy nhiên Toda đã không một chút nãn chí, vội vàng bắt tay ngay vào việc tái tổ chức, xây dựng lại phong trào. Việc đầu tiên là ông loại bỏ chữ Kyoiku –có nghĩa là giáo dục- trong danh xưng cũ, biến thành Soka Gakkai, một tổ chức thuần túy tôn giáo.  Với sự hoạt động năng nổ của ông và người kế vị, vị chủ tịch đương nhiệm Daisaku Ikeda, phong trào Soka Gakkai với số lượng hội viên lúc ban đầu chưa đếm đủ trên đầu ngón tay, nhưng chỉ trong vòng ba thập niên sau đã thu hút một khối lượng quần chúng đông đảo lên tới mười hai triệu hội viên tại Nhật Bản, và trên 400,000 hội viên ở khắp nơi trên thế giới trong đó tại Mỹ có khoảng 200,000 người. Điều có ý nghĩa hơn cả là phong trào Soka Gakkai đã đạt đến một thành tựu trên lãnh vực tinh thần song hành với sự thành công của dân Nhật về mặt vật chất trong lãnh vực kinh tế.

Và rồi người ta không thể không ngạc nhiên nêu lên câu hỏi: Cái gì đã làm cho một tổ chức cư sĩ Phật giáo chỉ mới được hình thành từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đã đạt đến một thành công nhanh chóng như thế? Thiết tưởng ta có câu trả lời không mấy khó khăn. Nguyên nhân căn bản vẫn là đức tin. Đức tin đã làm cho tập thể và những nhà lãnh đạo phong trào trong thời đại này gắn bó lại cùng nhau hướng về vị sáng lập Nhật Liên Tông, tuy đã qua đời hơn bảy thế kỷ trước nhưng tư tưởng và cuộc đời của ông vẫn là nguồn cảm hứng bất tận. Chính đức tin đã làm cho những thành viên của phong trào Soka Gakkai có đủ can đảm để chịu đựng và vượt qua sự bách hại tôn giáo đồng thời vẫn mở rộng lòng từ hướng đến tha nhân, từ đó khai mở tâm hồn và trái tim họ quay về với Chánh Pháp. Thế nên khi cơn bách hại tôn giáo chấm dứt với sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ độc tài quân phiệt tại Nhật Bản vào tháng Tám năm 1945, Soka Gakkai đã có sẵn một miếng đất thuận tiện để gieo trồng niềm tin tôn giáo.

Hoàn cảnh của Nhật Bản vào năm 1945 cũng gần giống như hoàn cảnh của Đế Quốc La Mã vào năm 311 khi chính quyền La Mã từ bỏ chính sách bách hại nhắm vào người người Cơ Đốc giáo. Trong cả hai trường hợp, xã hội đều bày ra một khoảng trống tâm linh và sự suy sụp trong đời sống vật chất. Đế quốc La Mã lúc đó đã bị tàn phá nặng nề bởi những cuộc xâm lăng, cùng một lúc các giá trị tôn giáo cũ hầu như không còn đủ hấp lực thu hút trái tim lẫn tâm hồn của con người đương thời. (3) Nhật Bản cũng thế, Thần Đạo trở thành quốc giáo –cổ võ và cấu kết quyền lực với thế lực quân phiệt gây hấn- cuối cùng đã không còn ai tin tưởng nữa. Chủ nghĩa quân phiệt, sau những thắng lợi quân sự trong suốt nửa thế kỷ đã cáo chung bằng hai trái bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagasaki. Giấc mộng Đại Đông Á cuối cùng đã tan thành mây khói khi Nhật Hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện vào ngày 15 tháng Tám năm 1945. Dân Nhật thoát khỏi cơn ác mộng chiến tranh nhưng rồi rơi vào cảnh nghèo đói, khoảng mười lăm triệu người đã lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, không có lấy một mái nhà để trú thân. Tuy nhiên điều quan trọng hơn cả là sự mất mát, thiếu vắng niềm tin.  Từ lâu dân Nhật đã được bộ máy tuyên truyền của chính quyền quân sự nhồi nhét vào đầu cho rằng mình thuộc về một giống dân siêu đẳng, có sứ mệnh chinh phục thế giới; nhưng bây giờ thì thực tế ngược lại, lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, quốc gia của họ đã  bị chiếm đóng bởi một lực lượng quân sự ngoại quốc. Đây có thể là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của Soka Gakkai trong kỷ nguyên hậu chiến. Giữa cơn tuyệt vọng, thui chột niềm tin, và tan vỡ ảo tưởng, cái cộng đồng nhỏ bé này –Soka Gakkai- bắt tay ngay vào việc xây dựng lại niềm tin, khẳng định rõ mục tiêu của mình và tin tưởng rằng mình có thể đi đến đích. Đó chính là điều mà không làm ai ngạc nhiên chỉ trong vòng ba thập niên sau, Soka Gakkai đã đạt đến vị trí hiện nay.

Sự phát khởi của phong trào Soka Gakkai trong thời hậu chiến ngay tự khởi thủy không hẵn hoàn toàn là mối quan tâm riêng dành cho Nhật Bản. Soka Gakkai là một phong trào mang tầm vóc quốc tế. Đây là một tổ chức Phật giáo, và Phật giáo là một tổ chức truyền giáo đầu tiên trên thế giới đã gởi thông điệp của mình đến toàn thể nhân loại. Ngài Nhật Liên, cũng như những tín đồ của Nhật Liên Tông hiện nay yêu đất nước Nhật Bản, dĩ nhiên, nhưng chân trời và mối quan tâm của họ không hề hạn hẹp lại trong phạm vi bờ biển Nhật Bản. Ngài Nhật Liên tin tưởng vững chắc rằng Phật giáo là một đại phương tiện để cứu độ chúng sanh ở khắp mọi nơi, mọi thời đại và Soka Gakkai như thế, đang gánh vác trọng trách mà ngài Nhật Liên đề xướng trước đây: vận động, thúc đẩy cho một cuộc cách mạng tâm linh trong mỗi con người. Đây chính là thông điệp của Phật giáo thời đại trong đó có Phật Giáo Việt Nam. Thực hiện trọn vẹn tinh thần của thông điệp này cũng có nghĩa là không ngừng tưới tẩm cho những cây Vô Ưu nở những đoá hoa mới trong lòng mỗi người Phật tử Việt Nam và cho tất cả mọi chúng sanh trên trái đất này. Lịch sử của Phật Giáo là không ngừng đi tới, là con đường đưa nhân loại về chân trời tự do và giác ngộ.

Tâm Hà LCD

 

CHÚ THÍCH:

 

1. Shingyo Hikkei. A Handbook for Members of The Nichiren Order. Pp. 65-66.

2. Shingyo Hikkei. A Handbook for Members of The Nichiren Order. P. 68.

3. Daisaku Ikeda. The Human Revolution. Foreword xi. John Weatherhill, Inc. 1976.

 

[NSLONGHOA]

 

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TRÌNH HỘI ÐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 02/11/08