...... ... .  . .  .  .

Phật Giáo Hoà Hảo: Hướng Ði Tịnh Độ , 
Một Giải Pháp Tích Cực của Thời Ðại.

Tâm Hà  Lê Công Ða

 

I. TỪ TINH THẦN LÝ TRẦN ÐẾN PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO

Lịch sử Phật giáo Việt Nam là một giòng chảy liên tục và sinh động, từ  bao đời qua không ngừng tưới tẩm những đợt phù sa tươi mát lên mạch sống tâm linh của đất nước, dân tộc. Khi bước đường Nam tiến của người Việt dừng lại ở vùng châu thổ sông Cửu Long, biến mảnh đất này thành một vựa lúa phì nhiêu, thì đồng thời một bối cảnh văn hóa cá biệt cũng được hình thành, nảy nở và trên cao hết, như một biểu hiệu của nền văn minh, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu thiết tha của quần chúng. Nếu như những thế hệ cha ông người Việt trước đây đã chọn Phật giáo như là một chỗ dựa tâm linh vững chắc thì nay những lưu dân của vùng đất mới dĩ nhiên không thể không hướng vọng về đạo Phật. Thế nhưng, trong một địa bàn xã hội mà thành phần nông dân chiếm đến 85% dân số, quần chúng không cần đến một đạo Phật kinh viện với những triết lý sâu xa, những nghi thức rườm rà mà là một đạo Phật thực tiễn, sống động phù hợp với đạo lý đời thường và nếp nghĩ giản đơn. Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) ra đời chỉ là một hệ quả, một đáp ứng tất nhiên của những khát vọng sâu kín này. 

Tuy nhiên để có một cái nhìn thấu đáo hơn về bản sắc đặc biệt của Phật Giáo Hòa Hảo, cũng như để giải đáp lý do tại sao chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau khi ra đời mà phong trào tôn giáo này đã có sức mạnh thu hút đến hàng triệu tín đồ, ngoài yếu tố nhân cách phi thường của người khai sanh ra PGHH, Đức Huỳnh Giáo Chủ, ta không thể không xét đến những yếu tố khách quan khác đã tác động vào công cuộc vận động tôn giáo rộng lớn có tính cách quần chúng, một phong trào đã tạo nên những ảnh hưởng lớn lao trên hàng triệu cư dân của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long trong nữa thập kỹ đầu của thế kỷ hai mươi và vẫn còn tiềm lực phát triển mạnh mẽ cho đến hôm nay. Trong những yếu tố này, nổi bật nhất phải kể đến phong trào canh tân, chấn hưng Phật giáo bộc phát tại Trung Quốc sau cách mạng Tân Hợi 1911 và bối cảnh lịch sử, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn suy tàn của chủ nghĩa thực dân thống trị. 

Không ai có thể chối cãi rằng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Trung Hoa trên nhiều mặt chính trị, văn hoá, kể cả lãnh vực tôn giáo. Nếu về mặt chính trị, chế độ quân chủ Việt Nam là một sao y bản chánh của mô thức quân chủ Trung quốc thì về mặt tôn giáo, Phật Giáo Việt Nam cũng đã khoác lên người chiếc áo của Phật giáo Trung Hoa qua hàng bao nhiêu thế kỷ. Thế nên bất cứ những chuyển động nào tại Trung Hoa dù lớn hay nhỏ đều có những tác động đến Việt Nam. Tình trạng suy thoái của Phật giáo trong những năm cuối cùng của vương triều Mãn Thanh tại Trung Quốc đã góp phần tạo ra không ít những tệ trạng và bất công  xã hội. Trái với chủ trương từ bi, bác ái của đạo Phật, chùa chiền, tự viện lúc này đã không còn là nơi xiễn dương giáo lý của Đức Thích Ca mà trở thành những trung tâm bòn rút sức người và sức của. Nhà chùa biến thành những chủ điền sở hữu ruộng đất cho nông dân thuê mướn cày cấy. Có nơi trở thành những trung tâm cho vay lãi với tiền lời cắt cổ. Chưa kể là tình trạng mất phẩm chất của hàng ngũ tăng lữ, thay vì phục vụ lý tưởng độ sanh cao cả, đã bị thế tục hóa để trở thành một guồng máy phong kiến, một đẳng cấp mới ăn trên ngồi trước thụ hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi trong xã hội. Núp dưới chiếc áo cà sa, những tăng sĩ biến chất này tha hồ tom góp của cải của bá tánh và theo thời gian tài sản của họ càng ngày càng phình ra trước sự đói nghèo của quần chúng. Tình trạng này không khác gì mấy với khung cảnh của xã hội Âu Châu trước thời kỳ cách mạng Tư Sản Dân Quyền 1789, khi mà hai giai cấp qúy tộc và tăng lữ đã cấu kết chặt chẽ với nhau để thống trị và bóc lột đám nông nô nghèo khổ, suốt đời còng lưng tận tụy phục vụ cho họ. Thế nên khi cuộc cách mạng Tân Hợi thành công, giới trí thức Trung Quốc -phát xuất từ các Đại học Bắc Kinh, và Giang Tô- bất mãn trước những bất công to lớn này, đã vận động một phong trào cách mạng xã hội triệt để mà Phật giáo Trung Quốc cũng là một đối tượng bị đả phá mạnh mẽ. Họ chủ trương “Cần phải đả phá giai cấp tăng phiệt, hãy giải phóng cái khổ của tăng lữ ở dưới chế độ tăng phiệt, hãy tịch thu tất cả những tài sản của tự viện để bổ sung vào sự nghiệp của giáo dục...”(1). Trước áp lực mạnh mẽ của dư luận, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cuối cùng đã phải ban hành đạo luật “Tự miếu đăng ký” để điều tra tất cả tài sản của chùa miếu, và tiếp theo đó là đạo luật “Thần từ tồn phế tiêu chuẩn” để xem xét chùa miếu nào cần được giữ lại và chùa miếu nào cần phải được phá hủy. Phật giáo Trung Quốc lâm vào cơn pháp nạn.

Trước tình hình này, tuy chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã đi hơi quá đà nhưng không phải là không có lý do; những tăng sĩ, trí thức Phật giáo có tâm huyết không thể khoanh tay đứng nhìn mà không phản ứng. Một phong trào hộ pháp mạnh mẽ đã được phát khởi lên trong quần chúng. Tuy nhiên để cho công cuộc hộ pháp có hiệu quả, người Phật tử cũng không thể làm ngơ trước những vấn nạn ngay chính trong nội bộ mình, vì thế việc thanh lọc những con sư tử trùng đang tàn hại cơ thể của Phật giáo trở thành một yêu cầu cấp bách. Thế là kể từ năm 1912, tại Trung Quốc đã bắt đầu nhen nhúm lên ngọn lửa chấn hưng, canh tân Phật giáo.  Ngọn lửa này ngày càng cháy bùng lên mãnh liệt với những khuôn mặt lãnh đạo ưu tú như các ngài Thái Hư, Ấn Quang, Đế Nhàn, Đạo Giai, Viên Anh,... mà nổi bật nhất là ngài Thái Hư Đại sư với phong trào đoàn kết thống nhất Phật giáo, vận động chỉnh lý tăng già, canh tân nền giáo dục tăng lữ.  Đây là một công cuộc cải cách sơn môn rộng lớn mà cho đến khi nhắm mắt, với uy tín lớn lao của mình, Thái Hư Đại Sư vẫn chưa vượt qua được những trở ngại của thành phần sơn môn thủ cựu đang cố gắng bám rễ vào tình trạng “chùa riêng“ để tận hưởng một cuộc sống xa hoa, vị kỹ, và cuối cùng Ngài nhận ra rằng: “Nguồn chủ lực và hướng hổ trợ cho Phong Trào Cách Mạng Tôn Giáo chỉ còn trông cậy vào các hàng cư sĩ hữu tâm, kiên trì và có khả năng.” (2)

Những tệ trạng của Phật Giáo Trung Hoa trong giai đoạn này, cụ thể là tình trạng “riêng Chùa, riêng Phật” cũng là một trong những tệ trạng khá phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là tại miền Nam, nơi mà số lượng những tăng sĩ có phẩm chất không đủ  đáp ứng với yêu cầu của quần chúng. Đây cũng chính là hậu quả trực tiếp của chính sách chia để trị của thực dân Pháp trong ý đồ gây phân hoá chia rẻ làm suy yếu những thế lực dân tộc mà họ nghĩ là có thể tạo nên những nguy cơ cho kế sách thống trị lâu dài. Những biểu hiện của sự mất phẩm chất này đã được người thanh niên Phật tử nồng nàn tinh thần yêu đạo, Huỳnh Phú Sổ,  ghi nhận như sau:
 
Tu còn ham chay to đám bự,

Đặng thế gian dâng cúng bạc tiền.
Dối rằng: lo tu bổ chùa chiền,
Mà làm của xài riêng cho thỏa
Bảo làm sao dân không sa ngã,
Nghe lời rù tông nọ phái kia.
Cả tăng đồ trong nước chia lìa
Riêng Pháp bảo, riêng chùa, riêng Phật. (3)

 
Đứng trước tình trạng suy đốn này, bất cứ những ai nặng lòng với tiền đồ của đạo pháp và dân tộc-dù là ở trong giới tăng sĩ hay cư sĩ- đều không khỏi cảm thấy tủi hổ và đau xót, và đây là động cơ  chính thúc đẩy họ phát khởi hùng tâm đứng lên gánh vác trách nhiệm duy trì lại mối đạo, làm sáng tỏ ý nghĩa giải thoát của nền “đạo diệu mầu (đang) gặp lúc truân chuyên”. Thế nên, kể từ năm 1920, khi ngọn gió canh tân, chấn hưng Phật giáo từ Trung quốc bắt đầu thổi vào đất nước Việt Nam, tất cả những người con Phật có tâm huyết từ Nam chí Bắc đều nhiệt liệt hưởng ứng để cùng bắt tay nhau “khơi ngọn đuốc từ bi chí thiện”, thắp sáng ngọn đèn Chánh Pháp đã bị lu mờ trong suốt gần một thế kỷ qua.
 
Nhìn lại phong trào “Chấn Hưng Phật Giáo” Việt Nam, người ta nhận thấy có hai sự kiện nổi bật đặc biệt có ý nghĩa:

Thứ nhất, hồi trống lệnh bát nhã đầu tiên của phong trào này đã được giục giã gióng lên không phải từ những vùng căn cứ địa lâu đời của Phật Giáo Việt Nam, tức là từ miền Trung hay miền Bắc, mà lại được phát khởi lên từ vùng đất sông nước bao la của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Đây là một sự kiện có ý nghĩa, cho thấy chính từ khung cảnh địa lý chính trị của vùng đất mới này, với tinh thần phóng khoáng và sức sống không ngừng vươn lên mà con người dễ dàng mở rộng vòng tay đón nhận những tư tưởng tự do tiến bộ.  Người góp công đầu của phong trào Chấn Hưng Phật giáo Việt Nam là Thiền sư Khánh Hoà, trú trì chùa Tiên Linh (Bến Tre), và do công sức bôn ba vận động không ngừng nghỉ của Ngài mà Hội Lục Hoà được thành lập (1923), quy tụ những thành phần tiến bộ trong cả hai giới cư sĩ và tăng sĩ.  Phong trào này ngày càng lớn mạnh với sự ra đời của  “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học” (1932) sau đó mà cơ quan ngôn luận của hội, tạp chí Từ Bi Âm đã để lại những tiếng vang và dấu ấn mạnh mẽ trong hàng ngũ trí thức Phật Giáo. Bắt nguồn từ đây mà miền Trung nối gót với sự ra đời của “Hội An Nam Phật Học (1932) và rồi miền Bắc tiếp nối với “Hội Phật Giáo Bắc Kỳ”(1934) tạo một sức đẩy cho phong trào “Chấn Hưng Phật Giáo” Việt Nam tiến lên một bước cao hơn đóng góp những  nhân tố quan trọng cho công cuộc thống nhất  Phật giáo Việt Nam sau này.

Thứ hai, một điều đúng như nhận xét của Đại sư Thái Hư về vai trò của người cư sĩ, chính từ trong lòng của phong trào Chấn Hưng Phật giáo này mà hai khuôn mặt cư sĩ lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam xuất hiện. Một Tâm Minh Lê Đình Thám của miền Trung, người đã góp phần đào tạo nên những tăng tài kiệt xuất cho một thế hệ lãnh đạo mới của Phật giáo Việt Nam sau này như qúy Ngài: Thiện Minh, Thiện Siêu, Trí Quang, Trí Tịnh,... Một Huỳnh Phú Sổ của miền Nam, người đã đại chúng hóa phong trào Chấn Hưng Phật giáo, trở thành một phong trào vận động cư sĩ lớn lao nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà thành quả là sự ra đời của tông phái PGHH. Trong tập “Khuyến Thiện”, Ngài đã đưa ra những lời hiệu triệu, kêu gọi chân thành và khẩn thiết để cổ xúy cho phong trào Chấn Hưng Phật giáo như sau:
 
Cả tiếng kêu cùng khắp chư Tăng

Với tín nữ thiện nam Phật giáo
Nên cố gắng trau thân gìn Đạo
Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành
Làm cho đời hiểu rõ thinh danh
Công đức Phật từ bi vô lượng
Đồng dẹp bớt âm thinh sắc tướng
Lo CHẤN HƯNG Phập pháp mới là... (4)

 
Nếu như nguồn cảm hứng phong trào chấn hưng Phật giáo của Trung Quốc bắt nguồn từ cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 thì phong trào Chấn Hưng Phật Giáo của Việt Nam đã được khai sanh và lớn mạnh trong bối cảnh của cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Trong suốt 80 năm, cả một đất nước, dân tộc bị đọa đày dưới ách nô lệ của thực dân Pháp. Tình trạng lầm than của xã hội thực không bút mực nào tả xiết:

“Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vừa là một quốc gia mất chủ quyền độc lập, lại vừa là một xã hội phân hoá bất công, đồng thời còn là một xã hội đang chuyển hướng văn hóa trong sự giao tiếp của nền văn minh truyền thống phương Đông với nền văn minh duy lý, kỹ thuật mới nhập cảng từ phương Tây. Đây là một xã hội đang bị đè nén dưới sực nặng của bộ máy cai trị thuộc địa. Nhưng cánh cửa đã hé mở đón nhận luồng gió mới thổi đến từ một chân trời mới, hai yếu tố nội tại và khách quan này khích động mạnh mẽ sự bùng nổ của một cuộc cách mạng đáp ứng nguyện vọng vươn lên đòi thay đổi, không những chỉ thay đổi thân phận mà con thay đổi cả lịch sử, thay đổi cả hướng đi tương lai. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại bang thống trị, và cũng là cuộc cách mạng giải phóng con người khỏi tình trạng bất công xã hội.” (5)

Nạn nhân trực tiếp của tình trạng bất công xã hội này không ai khác hơn là những người nông dân, những tá điền nghèo khổ, sống dưới ách một cổ hai tròng, vừa của chủ điền lẫn thực dân thống trị. Thống kê năm 1930 cho thấy tại Nam Kỳ số điền chủ sở hữu trên 50 mẫu đất chỉ có 2.5% nhưng chiếm đến 45% diện tích canh tác, nhiều đại điền chủ có trong tay trên 18,000 mẫu ruộng, trong khi đó có đến 71% nhân dân không có ruộng cày. (6)  Những người nông dân không có mảnh đất cắm dùi này không còn một con đường nào khác hơn là tình nguyện làm công suốt đời cho chủ điền trong tình trạng vay trước trả sau. Thêm vào đó, tình trạng sưu cao thuế nặng biến họ thành một con nợ truyền kiếp từ đời này sang đời khác. “Thuế má nặng nề , nhiều thức, hoặc trực thu, hoặc gián thu, không một ngành hoạt động nào là không chịu thuế, và trong những món đồ thiết dụng hàng ngày như muối, rượu, người dân cũng đã phải trả cho Chánh phủ một món tiền thuế. Ngoài thuế đinh, thuế điền ra, người dân quê phải nạp những thứ thuế mà họ chưa từng thấy ở thời trước: Người đi chợ phải  nạp thuế chợ, kẻ đưa đò phải nạp thuế đò, kẻ buôn bán phải nạp thuế môn bài, kẻ vào rừng làm săn, đốn củi, phải chịu thuế kiểm lâm,...” (7) Tình trạng mù chữ là phổ biến với trên 80% dân số. Đời sống của người nông dân miền Nam càng trở nên bi đát hơn khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1930 bắt đầu lan vào Việt Nam. Năm 1930 giá gạo tốt mỗi tạ (100Kg) là $13.10, thì đến năm 1933 chỉ còn $3.20. Giới lao động, nông dân, thợ thuyền lâm vào cảnh thất nghiệp, đói rách.

Năm 1930, cũng là năm mà cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc Việt Nam bước vào một khúc quanh đẫm máu. 13 liệt sĩ yêu nước của Việt Nam Quốc Dân Đảng hiên ngang bước lên đoạn đầu đài. Màu tang tóc phủ lên trời Yên Bái. Cả đất nước cũng là một trời tang. Người nông dân Phật Tử Việt Nam -cụ thể là ở miền Nam không thể ngồi yên trước thảm cảnh của đồng bào, dân tộc. Noi gương các vị anh hùng cách mạng tiền bối trước đây: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Cố quản Trần Văn Thành,... họ lựa chọn thái độ dấn thân tích cực.  Trong năm này, nông dân của tỉnh Sa Đéc đã đứng dậy biểu tình đối đầu với chính quyền thống trị.  

Tuy cuộc biểu tình bị đàn áp dã man với trên 11 người bị thiệt mạng nhưng đã châm lên một ngòi lửa đấu tranh bất khuất. Ngọn lửa này đã lan đến tỉnh Vĩnh Long với một cuộc biểu tình quy mô hơn với trên 2500 người tham dự (8). Là một tôn giáo dân tộc, Phật Giáo Việt Nam chia xẻ số phận chung cùng với dân tộc. Khi dân tộc bị đọa đày, áp bức, Phật Giáo Việt Nam cũng bị đọa đày áp bức. Khi dân tộc vùng lên quật khởi, Phật Giáo Việt Nam cũng đứng dậy hoà mình vào cuộc đấu tranh chung. Chính trong bầu khí sục sôi này mà PGHH ra đời tiếp nối chủ trương học Phật, tu Nhân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Mà Tu Nhân là gì? Tu Nhân chính là trả nợ Tứ Ân, trong đó ÂN ĐẤT NƯỚC là một gánh nặng vô cùng lớn lao của đạo làm người. Mang tấm lòng son sắt của một người Phật tử nặng lòng vì đất nước, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã  thể hiện bằng một thái độ dứt khoát:
 
Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha
Đền xong nợ nước thù nhà 
Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô. (9)

 
Đây chính là tinh thần của Phật giáo Lý Trần, một thời đại mà có lúc số lượng tăng sĩ đã chiếm đến khoảng một nữa dân số (thiên hạ bán vi tăng), nhưng đứng trước họa ngoại xâm, trước sự điêu linh của dân chúng, giới tăng sĩ cũng không thể không phát khởi tâm từ bi, nổi máu Bồ Tát để  “Cởi áo cà sa khoác chiến bào”, cầm gươm lên ngựa xông vào chốn nước lửa để  cứu vớt sinh linh đang đồ thán. Thế nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy cuộc kháng chiến của dân tộc ba lần đánh bại đội quân xâm lược thiện chiến Nguyên Mông được lãnh đạo bởi hai vị vua thiền sư nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử Phật giáo Việt Nam: Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông.
 
Một cách tóm tắt, có thể nói rằng Phật Giáo Hoà Hảo đã được khai sanh ra từ phong trào vận động CHẤN HƯNG Phật giáo của giới cư sĩ Phật tử Việt Nam, và phong trào này được lồng trong bối cảnh lịch sử của một cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Đức Huỳnh Giáo Chủ luôn luôn xác nhận rằng mình là một đệ tử của Phật gia và Phật Giáo Hoà Hảo là một phong trào của giới tại gia cư sĩ, một thành phần trong tứ chúng:
 
“Đây là hạng người học Phật , tu Nhân.
Bàn xét như trên, thấy rằng toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại gia cư sĩ.” (10)
 
Thế nên cũng có thể kết luận một cách dứt khoát rằng: “Trên phương diện chính danh, PGHH không phải là một tôn giáo mới hay một đạo Phật canh tân. Về mặt tổ chức, PGHH mới xuất hiện từ 1939. Nhưng về mặt giáo lý, PGHH không phải là một tín ngưỡng mới, hay tín ngưỡng cải cách. Giáo lý PGHH chính là đạo Phật, bắt nguồn từ tinh hoa cốt tủy của giáo thuyết mà Đức Thích Ca đã khởi truyền từ trên 25 thế kỷ trước đây.” (11)  Tuy nhiên đứng trên bình diện nhận thức và cảm quan của một người Phật tử bình thường, một câu hỏi sẽ được đặt ra là, nếu ta xem PGHH là một tông phái của đạo Phật thì đây là đạo Phật theo khuynh hướng, truyền thống nào? Căn cứ theo xuất xứ, hành trạng và giáo lý của Đức Thầy còn lưu truyền lại, ta có câu trả lời ngay không mấy khó khăn: Đây là một đạo Phật Việt Nam theo khuynh hướng Đại Thừa, hay nói rõ hơn, PGHH là một tông phái của Phật Giáo Việt Nam theo truyền thống Tịnh Độ, trong đó đặc biệt xiễn dương vai trò của giới cư sĩ .


 
II. KHUYNH HƯỚNG TỊNH ÐỘ TRONG PGHH
 
Trong bất kỳ thời đại nào, trong bất kỳ quốc độ nào cũng đều luôn luôn có những vị Phật, những Bồ Tát, những bậc đại Tăng vì lòng thương xót chúng sinh mà hóa hiện ra đời hoặc tái sanh trở lại cõi trần để tiếp tục sứ mệnh giáo hóa quần sanh. Khái niệm hóa thân, chuyển kiếp tuy không được phổ biến trong truyền thống Phật giáo Việt Nam nhưng là một khái niệm rất phổ quát và quen thuộc trong Phật giáo, đặc biệt là truyền thống Phật giáo Tây Tạng, chẳng hạn như người ta tin rằng nhiều vị lạt ma đã chuyển kiếp tái sanh từ đời này sang đời khác và ngay cả Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm và là chuyển kiếp của vị Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm. Hiểu rõ điều này để thấy rằng Phật Giáo Hoà Hảo chỉ là một sự kế tục của truyền thống Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương và Đức Huỳnh Giáo Chủ là hậu thân của những vị Bồ Tát đã ra đời trước đó như Đức Phật Thầy Tây An, Sư Vải Bán Khoai,... những người đã từng hành hoạt trong địa bàn miền Tây Nam Việt và Cao Miên, đem ngọn đèn Chánh Pháp soi đến tận những vùng thôn dân hẻo lánh sống rải rác dọc theo các kinh rạch của đồng bằng Nam Bộ. Để cho quần chúng hiểu rõ sứ mệnh thiêng liêng này, Ngài đã tiết lộ máy huyền cơ, nêu rõ nguồn gốc xuất xứ của mình: “Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu đạo nơi quốc độ nào thì cũng phải trở về quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân, vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh.” (12)

Thực hiện sự mệnh cứu độ chúng sanh tức là đưa chúng sanh qua bờ giác, thức tỉnh con người đang “say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả” để họ vượt ra khỏi bến mê. Muốn vậy, phải chỉ cho họ một pháp môn tu tập. Đức Thầy, sau khi quán xét căn cơ và trình độ chúng sanh của vùng đất Hậu Giang, Ngài thấy rằng không có pháp môn nào thù thắng, diệu dụng bằng pháp môn Tịnh Độ:
 
Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh Độ

Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh
Nếu như ai cố chí làm lành
Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật quốc. (13)

 
Sở dĩ pháp môn này được xem là thù thắng, diệu dụng vì hành giả hành trì theo Tịnh Độ chỉ cần tu tập trong một kiếp làm người hiện tại này -thông qua pháp môn Niệm Phật Ba La Mật- là có thể trực chỉ Tây phương, không bao giờ còn nổi trôi trong vòng sinh tử luân hồi nữa. Pháp môn này tuy sâu thâm, uyên áo không thể nghĩ bàn, nhưng về mặt thực dụng lại rất dễ thực hiện, trong bất kỳ không gian, thời gian, hoàn cảnh nào cũng đều có thể áp dụng được: “Yếu chỉ của môn Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hạnh. Muốn vào cửa pháp này, trước tiên hành giả phải tin cõi Cực Lạc có thật, và Đức A Di Đà luôn luôn hộ niệm, sẵn sàng tiếp dẫn chúng sanh nào quy kính, niệm sáu chữ hồng danh kêu gọi đến Ngài. Lòng tin như thế gọi là Tín. Sau khi đã có lòng tin, hành giả phải phát tâm chơn thiết cầu thoát ly cõi Ta Bà đầy khổ lụy chướng duyên, mong muốn sanh về miền Cực Lạc an vui, sự thanh tịnh trang nghiêm vô lượng, để tu tiến hoàn thành mục đích tự độ độ tha. Đó gọi là Nguyện. Và khi đã phát nguyện như thế, lại cần phải thiết thật xưng niệm danh hiệu Đức A Di Đà cho đến trình độ tâm - Phật tương ưng, để được tiếp dẫn. Đây gọi là Hạnh... Tín, Nguyện, Hạnh còn gọi là ba món tư lương của môn Tịnh Độ.” (14) Đối với người Phật tử thuần thành, lòng tin không phải là một vấn đề. Trên cơ sở niềm tin sâu sắc vào Tam Bảo, người Phật tử không có lý do gì để phủ nhận sự hiện hữu của Đức Phật A Di Đà và cõi Tây Phương Tịnh Độ đã từng được Phật thuyết trong các bộ Kinh A Di Đà hay Quán Vô Lượng Thọ,... Còn chuyện trì danh niệm Phật thì bất cứ ai nghèo hèn sang giàu, già trẻ lớn bé đều cũng có thể thực hiện được một cách dễ dàng nếu như họ muốn Tu. Chẳng thế mà Đức Thầy đã công nhận rằng “Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh”:
 
Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật

Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh
Cứ nhất tâm tín nguyện phụng hành
Được cứu cánh về nơi an dưỡng
Chỉ một kiếp Tây phương hồi hướng
Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi. (15)

 
Chính hiểu rõ được công năng vi diệu của pháp môn Niệm Phật mà ngày xưa ngay cả những vị Bồ tát, Tổ sư , Luận sư lừng lẫy của Phật Giáo Đại Thừa, có những vị là những tổ sư chánh truyền của môn phái Thiền Tông, nếu không hết lời lên tiếng ca tụng pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ thì cũng đã dùng những lời lẽ hết sức trân trọng để nói đến pháp môn này. Bồ Tát Mã Minh trong bộ Luận nổi tiếng, “Đại Thừa Khởi Tín Luận”, đã dạy rằng:
 
 “Nếu có xhúng sanh nào lo sợ ‘ở cõi Ta Bà không thường gặp Phật, nghe pháp và cúng dường, sợ e long tin của mình không thành tựu’, muốn thối chí, thì những chúng sanh ấy, nên biết rằng: Phật còn có phương tiện thù thắng, bảo đảm tín tâm của hành giả được thành tựu Phương tiện ấy là “nhân duyên chuyên tâm niệm Phật, cầu sanh về cõi Phật ở phương khác, để thường được thấy Phật, nghe pháp”, thì chắc chắn xa lìa được ác đạo. 
Trong Khế Kinh, Phậtdạy : “Nếu người chuyên tâm niệm Phật A Di Đà ở thế giới Cực Lạc phương Tây, và đem công đức tu hành  hồi hướngphát nguyện cầu sanh về đó, thì quyết định  sẽ sanh về thế giới Cực Lạc, được thường thấy Phật và nghe Pháp, không bao giờ thối chuyển.” (16)
 
Tại sao pháp môn Niệm Phật được coi là một pháp môn thù thắng, vượt trội hơn hết? Bồ Tát Long Thọ một vị Tổ Sư Thiền, đồng thời cũng là người sáng lập trường phái Trung Quán, trong bộ Luận  “Đại Trí Độ Luận” đã giải thích như sau:
“Niệm Phật Tam Muội có thể trừ các thứ phiền não và những tội đời trước. Các pháp tam muội khác, có môn trừ được nghiệp dâm, không thể trừ được nghiệp sân. Có môn trừ được nghiệp sân, không thể trừ được nghiệp dâm. Có môn trừ được nghiệp si, không thể trừ dâm, sân. Có môn trừ được ba độc tham, sân, si, không thể trừ các tội đời trước. Môn Niệm Phật tam muội có thể trừ các thứ phiền não và các thứ tội chướng. Lại nữa, niệm Phật tam muội có phước đức lớn, hay độ chúng sanh. Chư Bồ tát muốn mau diệt tật chướng, được nhiều phước đức, sớm độ chúng sanh, không chi hơn tu môn Niệm Phật tam muội...” (17).
 
Và Bồ tát Thế Thân, tổ sư của trường phái triết học Phật giáo Duy Thức, một người có kiến thức quảng bác, uyên thâm về Phật pháp cho nên cách nhìn, cách tu của Ngài đối với pháp môn niệm Phật cũng đã đưa những kiến giải rất độc đáo. Ngài đã sáng tác ra bộ luận “Vãng Sinh Tịnh Độ Luận” để tuyên xưng cõi Tịnh Độ Di Đà và giải thích lý do:
 
“Con làm luận nói kệ
Nguyện gặp Phật Di Đà
Cùng khắp các chúng sinh 
Sanh về An Lạc quốc.
...
Luận rằng: Các nguyện kệ này muốn nói lên nghĩa gì ? Vì muốn quán thế giới an lạc, muốn gặp Phật A Di Đà, muốn nguyện sinh về cõi nước kia.
Làm sao quán? Làm sao sinh tín tâm? Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, người nào tu “năm thiện môn” thành tựu, rốt cuộc sẽ được sanh về nước An Lạc, gặp Phật A Di Đà kia.
Những gì là “năm niệm môn”? Một là lễ bái môn, hai là tán thán môn, ba là tác nguyện môn, bốn là quán sát môn, năm là hồi hướng môn.
Thế nào là lễ bái ? Thân nghiệp lễ bái A Di Đà Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, do vì ý muốn sanh về nước kia.
Thế nào là tán thán? Xưng danh của Như Lai  kia, đúng như trí tướng quang minh của Như Lai kia, đúng như danh và nghĩa kia, vì muốn như thật tu hành cho được tương ưng.
Thế nào là tác nguyện? Tâm thường tác nguyện: Một lòng chuyên niệm rốt cuộc sẽ vãng sanh về cõi nước An Lạc, bởi muốn như thật tu hành samatha vậy.
Thế nào là quán sát?  Dùngtrí huệ quán sát, chính niệm quán nước kia, bởi muốn như thật tu hành Tỳ bà xá na vậy.
Quán sát cõi nước kia có ba loại. Những gì là ba loại ?  Một là quán sát sự trang nghiêm do công đức của cõi nước Phật kia. Hai là quán sát sự trang nghiêm do công đức của Phật A Di Đà. Ba là quán sát sự trang nghiêm do công đức của các Bồ Tát.
Thế nào là hồi hướng? Không bỏ tất cả các chúng sinh khổ não, tâm thường tác nguyện, hồi hướng làm đầu, do để thành tựu tâm đại bi vậy”. (18)
 
Khi nói đến pháp môn tức là nói đến phương pháp. Pháp môn Tịnh Ðộ đặt nền tảng trên việc niệm Phật thì câu hỏi được đặt ra là phải niệm Phật như thế nào cho đúng? Nếu công phu niệm Phật phải đạt đến trình độ tâm-Phật tương ưng, nhất tâm bất loạn thì đâu phải là chuyện dễ dàng, chắc gì ai cũng có thể làm được?  Mà nếu không đạt được đến tình trạng này thì phải chăng những người tu theo pháp môn Tịnh Độ cuối cùng đã bỏ phí cuộc đời tu tập của mình một cách vô ích? Không phải như thế. Đức Phật A Di Đà trước khi thành chánh quả có phát 48 lời đại nguyện cứu độ chúng sinh, trong đó có lời nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, chúng sinh trong mười phương, chí tâm tin chịu, muốn sanh về trong nước của ta, nếu niệm danh hiệu ta đến mười lượt mà không được vãng sinh thì ta thề không làm Phật”. Mà đôi khi cũng không cần phải đến mười lượt, trong những giây phút cận tử, chỉ cần một niệm tưởng đến Ngài, Phật A Di Đà cũng sẽ hiện ra để tiếp dẫn thần thức của người lâm tử về cõi Tây phương Tịnh Độ. Pháp môn niệm Phật quan trọng như vậy cho nên một danh tăng hiện đại của Trung Hoa, Ngài Ấn Quang đã đưa ra lời khuyên: “Môn niệm Phật ước có bốn pháp: trì danh, quán tưởng, quán tượng và thật tướng. Tựu trung chỉ có pháp trì danh  nhiếp cơ rất rộng, đã dễ tu lại không khởi các việc ma.” (19)
 
Đức Thầy cũng nhận thấy hiệu năng của việc trì danh niệm Phật cho nên Ngài đã khuyến khích tín đồ thực hành phương pháp này một cách rốt ráo, nghĩa là phải “Rạch tim đem để nó vào”, phải “Niệm Di Đà rán niệm cho rành”, bất luận ngày đêm sớm tối, bất cứ lúc nào mà ta có thì giờ đều phải nên chuyên tâm trì tụng danh hiệu Đức Phật A Di Đà, làm sao để cho từng nhịp đập của trái tim, từng giòng máu luân lưu trong cơ thể của hành giả đều chuyên chở một tâm niệm duy nhất, A Di Đà Phật:
 
Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối

Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà
...
Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp. (20)

 
Vì cứu cánh của pháp môn niệm Phật là giải thoát, ta thấy phương cách niệm Phật của Đức Thầy chỉ dạy không hề chú trọng về mặt hình thức mà cốt yếu là làm sao cho nó được đơn giản hóa, dễ thực hành và có kết quả để mọi người có thể mang áp dụng một cách dễ dàng vào cuộc sống đời thường, phù hợp với đặc tính thực tiễn của người nông dân Nam bộ. Trong “Cách Thờ Phượng, Hành Lễ Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo”, Ngài cũng đã nhắc lại rằng:  “Nam Mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên, không đợi gì thời khắc”. Tu theo pháp môn này hành giả không cần phải xuống tóc, vào chùa, ăn chay trường, ngồi thiền, tụng kinh,... cho nên rất thích hợp với đời sống của người cư sĩ tại gia, đặc biệt  là đối với người nông dân, rất diệu d ụng, dễ dàng cho họ trong việc thực hiện tu tập, như Ngài đã từng căn dặn bổn đạo: “Đi làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá bốn hướng”.
 
 
Xem Kệ này tu tỉnh tại nhà
Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà
Phật chẳng chấp chắng nài thời khắc. (21)

 
 Đến đây lại nảy sinh ra một vấn đề: Nếu tu hành nhắm mục đích đạt đến giải thoát, và điều quan trọng nhất là giải thoát ngay trong kiếp sống này -ngay bây giờ và tại đây- thế thì tại sao phải cầu cho được vãng sanh về Tây phương Tịnh Độ? Điều này đã được giải thích như sau: “Tuy công phu niệm Phật trong hiện kiếp đã đặt nền tảng vững vàng cho sự nghiệp giải thoát, nhưng sau đó phải vãng sinh Tịnh Độ, lãnh thọ  sự giáo hóa của Phật và Thánh Chúng cho tới khi thành tựu Vô-Sinh-Pháp-Nhẫn. Sau đó mới đủ năng lực hiện thân khắp mười phương hành Bồ tát đạo, ra vào sanh tử mà không trói buộc, trở lại chốn ác trược mà chẳng nhiễm ô, cứu độ chúng sanh không có hạn lượng.” (22)
Kinh Niệm Phật Ba La Mật. HT Thích Thiền Tâm dịch. Chùa Đức Viên xb. 1997. Tr. 30.
 
Thấy được yêu cầu này, hành giả  một mặt phát tâm tinh tấn tu hành đồng thời nương nhờ vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà để được tiếp dẫn về cõi về Tây phương Tịnh Độ. Danh hiệu của Phật A Di Đà có nghĩa là VÔ LƯỢNG, bởi vì hào quang của Ngài chiếu dọi khắp mười phương thế giới không có hạn lượng, không bõ sót một chúng sinh nào:

- Nơi nào có chúng sinh phát tâm niệm Phật thì không một chúng sinh nào mà hào quang của Ngài không soi đến, nên gọi là Vô Lượng Quang Phật;

- Tuổi thọ của Đức Phật cùng nhân dân ở trong cõi này đều không có hạn lượng, không bao giờ cùng tận nên gọi là Vô Lượng Thọ Phật.

Với thệ nguyện và công năng lớn lao của Phật A Di Đà thế nên khi một người khởi lên chí tâm tín kính, niệm đến danh hiệu của Ngài thì lập tức sẽ cảm đến cõi Tây phương Cực Lạc, và trong ao Thất Bảo sẽ mọc lên một đóa hoa sen, đến lúc lâm chung thần thức của người niệm Phật sẽ thác sanh vào đóa sen này, không còn bị luân hồi sanh tử nữa. Đức Thầy đã giải thích khái niệm vãng sanh Tịnh Độ một cách cụ thể như sau:
 
Ôi! cả sang hèn chẳng ai thong thả,

Sao nhơn sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng tu thân đặng dựa Phật Đài
Cho thong thả hưởng mùi sen báu
Thần thức nhập Thai Sen tinh hảo
Nên khỏi màng lo nổi khổ sanh... (23)

 
Như trăm nhánh sông đều chảy về một biển cả, trăm ngã đường tu đều dẫn đến một con đường duy nhất:  Tịnh Độ. Nói một cách rõ ràng hơn, mọi xu hướng của Đại thừa, một khi đi sâu vào chân ý nghĩa của Đại Thừa, ắt hẵn sẽ gặp nhau nơi Tịnh Độ, và như vậy “Tịnh Độ không phải chỉ là lý tưởng của Tịnh Độ tông, mà còn là khuôn mẫu lý tưởng chung cho mọi tông phái của Đại thừa Phật giáo.” (24) Mà lý tưởng của Đại Thừa là gì?  Là vươn tới cứu cánh giải thoát để độ thoát chúng sinh. Tịnh Độ A Di Đà giúp hành giả thực hiện lý tưởng này một cách triệt để vì Đức Phật A Di Đà đã phát lời thệ nguyện rằng: “Nếu chúng sinh nào đã sinh vào nước ta rồi, bấy giờ muốn sinh sang nước khác cũng được như nguyện, sẽ không còn sa đọa trong ba đường ác”. Thế nên cầu vãng sanh Tịnh Độ không phải là hành vi chạy trốn, đi tìm cõi Niết bàn, cực lạc, giải thoát cho riêng bản thân, cá nhân mình. Do phát tâm dõng mãnh cứu độ chúng sinh, cầu vãng sanh Tịnh Độ tức là cùng đáp lên chiếc thuyền Đại Nguyện của Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí, vượt qua biển sinh tử luân hồi, trực chỉ Tây phương, gặp Phật và tu hành đắc đạo rồi trở lại cõi Ta Bà độ thoát chúng sinh đang đắm chìm trong bể khổ. Đây chính là khía cạnh tích cực của Tịnh Độ. Đây chính là mầu nhiệm trong sự hoá hiện của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, như Ngài đã từng xác nhận nhiều lần trong các Sấm giảng rằng mình là người “vâng lệnh Tây phương Phật Tổ” cùng với Bồ Tát Quán Âm mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui, trong đó niềm vui Tịnh Độ mới chính là một niềm vui đích thực, hoàn toàn, và triệt đáo:
 
Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại:

Ta bà khổ, Ta bà lắm khổ
Có bao người xét cho tột chỗ,
Tịnh độ vui, Tịnh độ nhàn vui
Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi
Nào ai rõ cái vui triệt đáo. (25)

 
Một cách tóm tắt, pháp môn giải thoát mà Ðức Thầy đã rao giảng cho đại chúng trong suốt bảy năm hành hoạt tại vùng đồng bằng Nam Việt là pháp môn Tịnh Ðộ. Có một số ý kiến đã căn cứ vào câu “Theo Lục Tổ không theo Thần Tú” trong Sấm Giảng để cho rằng Ðức Thầy chủ trương “Thiền Tịnh Song Tu”, thật ra khi khuyên Phật tử theo gương Lục Tổ, Ðức Thầy chỉ có dụng ý phê phán lối tu chạy theo hình thức “âm thinh, sắc tướng” của tăng, chúng đương thời mà quên mất đi phần nội dung, thực chất của Ðạo Phật chứ Ngài không hề bảo mọi người phải tu tập theo môn phái Thiền tông. Một điều rất rõ ràng là, căn cứ vào những sám giảng giáo lý mà Ðức Thầy còn lưu lại, ta không hề thấy Ngài chỉ ra một phương pháp tu Thiền như thế nào, vì một điều dễ hiểu, Ngài biết rất rõ rằng pháp môn Thiền tông  không khế hợp với căn cơ, trình độ của người nông dân.
 


III. PGHH: Hướng Ði Tịnh Độ Cư Sĩ,
    Một Giải Pháp Tích Cực của Thời Ðại 
 
Thấy được yếu tính của Phật Giáo Hòa Hảo, tức là thấy được khả năng thù thắng, vi diệu của pháp môn Tịnh Độ cũng như thấy được vai trò quan trọng của giới cư sĩ trong sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp ở bất kỳ thời đại, và quốc độ nào. Hai yếu tính phổ quát này là những nhân tố tích cực và là nền móng cơ bản cho PGHH phát triển trong tương lai để có thể hoà mình vào sự phát triển chung cùng với các khuynh hướng Phật giáo khác trên toàn thế giới -đặc biệt truyền thống Tịnh Độ Cư Sĩ. Nếu sứ mệnh chính của tôn giáo là phục vụ nhân sinh, tôn giáo không thể tách lìa khỏi bầu khí xã hội cưu mang nó. Thế nên để PGHH có thể chắp cánh bay ra khỏi địa bàn của vùng châu thổ sông Cửu Long, trở thành một tông phái Phật giáo có tầm vóc quốc gia lẫn quốc tế, cống hiến cho nhân sinh, xã hội những giải đáp tích cực, cũng như giúp cho con người một con đường tu hành đạt đến giải thoát trong một kiếp, tự thân của PGHH cũng phải có những chuyển biến, canh tân để phù hợp với những đổi thay của thời đại. 

Như ng khi nói đến chuyển biến và canh tân, ta không thể không nhìn lại mình và một vấn đề cơ bản được đặt ra là chúng ta nên bắt đầu từ đâu và canh tân như thế nào? Thế kỷ 20 với những thành tựu vượt bực của khoa học, đặc biệt trên hai lãnh vực Tin học và Sinh học một mặt đưa con người lại gần nhau hơn nhưng đồng thời cũng tạo ra những khủng hoảng mới trên cả ba phương diện ý hệ (ideology), bản sắc (identity) lẫn cơ cấu (structure). Khi ngành Sinh học có thể tạo ra con người bằng kỹ thuật nhân giống (cloning), vai trò của Thượng Đế đã bị thách đố. Bên cạnh đó,  sự lung lay của những ý hệ một thời đã là chỗ dựa của một phần nhân loại góp phần tạo nên những khủng hoảng về niềm tin. Ngành Tin học với sự phát triển của xa lộ thông tin cùng với sự lớn mạnh của xu hướng Toàn cầu hóa, con người của thời đại ngày nay càng ngày càng đánh mất dần những bản sắc độc đáo của truyền thống văn hoá cá biệt. Chúng ta hiện đang chứng kiến  những cơ cấu cũ đang trên đà rung chuyển trước những đổi thay nhanh chóng này. Như vậy, đặt vấn đề chuyển biến và canh tân cũng có nghĩa là xác định những giá trị tích cực của PGHH khi đối mặt với ba cuộc khủng hoảng này, và những đóng góp của tôn giáo này trong việc giải quyết những thách thức của thời đại.
 
1. Vấn nạn khủng hoảng niềm tin:

Niềm tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng vì tôn giáo là gì nếu không phải  là sự chia xẻ niềm tin? Tuy nhiên ta không thể chia xẻ được niềm tin cho người khác nếu như ta không thấu hiểu, không có niềm tin sâu sắc vào tôn giáo của mình. Trước những đổi thay lớn lao của thời đại, những tín đồ của tôn giáo độc thần đã ngày càng mất dần niềm tin vào Thượng Ðế, từ xưa đến nay được quan niệm như là một nhân vật siêu nhiên. Hình ảnh Thượng Ðế này nay bị các nhà canh cải Cơ Ðốc, tiêu biểu là Giám Mục John Shelby Spong, Hoa Kỳ, cho rằng là hình ảnh tiêu biểu còn sót lại của nhữ ng “tôn giáo bộ lạc” (26). Tiếp nối công cuộc vận động canh cải của Giám Mục John Arthur Thomas Robinson (Anh) khởi đi từ những năm của thập niên 60, Giám Mục Spong trong các tác phẩm mới xuất bản hồi gần đây đã đưa ra một khẩu hiệu quyết liệt cho những người Cơ-Ðốc: “Thay Ðổi Hay Là Chết” trong bối cảnh của những niềm tin cũ đã tàn lụi, những niềm tin mới chưa hình thành.  

Khi đối diện với vấn nạn khủng hoảng niềm tin, con người thường có khuynh hướng tìm về với những giá trị, truyền thống tinh thần đã được thử thách trong quá khứ, trong đó có Phật giáo. Không phải tự khoa trương quá lố về mình, nhưng nếu nhìn vào thực tế, với số lượng gia tăng đáng kể của những người Tây phương đang tìm về với Phật giáo trong những thập niên gần đây, ta có  thể  thấy được rằng con người của thời đại hôm nay -một con người của lý trí và thực tế- đã nhìn thấy Phật giáo như là một giải đáp tích cực về mặt  trí tuệ, không những giúp cho cá nhân tạo được trạng thái quân bình tâm linh mà đồng  thời cũng cống hiến cho xã hội những giải pháp thực tiễn, hữu ích. Niềm tin này hoàn toàn được xây dựng trên những cơ sở hợp lý có tính thuyết phục bởi lẽ giáo lý Phật giáo không hề được xây dựng trên những niềm tin mù quáng.  

Trong một dịp đối thoại, thảo luận với giới trí thức phương Tây về vấn đề “Lý trí và Ðức Tin”, một nhà lãnh đạo hàng đầu của Phật giáo hiện nay, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, đã đưa ra nhận định rằng: 
 
“Từ cốt lõi của đạo Phật, đặc biệt là Phật giáo Đại thừa, sự phân tích thuần lý chiếm một vị trí rất quan trọng. Quan điểm này cho rằng ta không nên chấp nhận giáo lý của Đức Phật nếu như trong đó có ẩn chứa những điểm sai lầm thiếu sót hoặc mang tính cách mâu thuẫn, không hợp lý. Bởi vậy bạn luôn luôn được khuyến cáo là nên giữ một thái độ hoài nghi và một tinh thần cảnh giác, ngay cả đối với những lời dạy của Đức Phật. Chính Ngài đã từng phát biểu trong lời pháp cú sau đây: “Hỡi các Tỳ kheo, như vàng được thử nghiệm bởi chà xát, cắt ra, và nung chảy, chỉ nên chấp nhận lời dạy của ta thông qua đầu óc phân tích chứ không phải bởi lòng kính trọng.” Đây là một lời khuyên quan trọng cần nên được noi theo.”

Ngài cũng đã giải thích thêm vấn đề này một cách rõ ràng: 

“Ta cũng có thể nói đến hai loại đức tin căn bản. Loại thứ nhất đặt nền tảng trên lý trí, qua đó khi ta khảo sát những nền tảng chân xác của đức tin này, được tìm thấy trong số những người có trí thông minh sắc bén nhất. Loại thứ hai có tính cách tự phát và đơn giản hơn được khai sinh do một số ước lệ trong những người có khả năng tinh thần yếu kém hơn. Trong hai loại này, loại đức tin được xây dựng trên lý trí là quan trọng hơn cả. Thế nên ta có thể thấy được rằng trong Phật giáo, đức tin và lý trí quan hệ rất mật thiết với nhau, bởi vì đức tin được sản sinh trên căn bản của lý trí hoặc nhận thức thuần lý.

Có rất nhiều cách để ta có thể tiến hành sự phân tích hợp lý hóa, tuỳ thuộc vào ba loại đối thể mà ta quán sát. Trong trường hợp đầu tiên, đối thể phân tích là một hiện tượng giới rõ ràng. Trong trường hợp thứ hai, đối thể được ẩn tàng và trong loại thứ ba nó được ẩn dấu một cách vi tế  hơn. Ba loại đối thể này tương ứng với ba loại hiện tượng giới. Ta nắm bắt loại hiện tượng giới biểu kiến do những nhận thức sơ khởi được biết như là trực giác; thấu hiểu loại hiện tượng giới ẩn tàng do những nhận thức suy luận đặt cơ sở trên chứng cớ không thể bác bỏ được; còn loại hiện tượng giới thứ ba cũng do những suy luận đặt căn bản trên giá trị được công nhận trong các kinh điển.

Ta khó có thể xác định ý nghĩa của hiện tượng giới ẩn dấu một cách vi tế ngay lập tức bằng luận lý thuần lý và càng khó hơn nếu dùng cảm quan. Chúng ta chỉ có thể thấu hiểu được ý nghĩa của nó dựa vào những gì được phát biểu bởi một nhân vật thứ ba đáng tin cậy, tín nhiệm và không thể sai lầm mà những lời của họ, để được tin tưởng, dĩ nhiên cũng phải hợp luận lý và không mâu thuẫn lẫn nhau. Lý trí vốn không tham dự trực tiếp vào việc hình thành loại hiện tượng giới thứ ba, thế nhưng đã đóng một vai trò giúp ta xác định độ tin cậy của một người trong việc khám phá ra loại hiện tượng giới này.” (27)
 
PGHH hoàn toàn được xây dựng trên giáo lý nhiệm mầu của Ðức Thích Ca mà nét đặc biệt chính yếu là khế thời và khế cơ thế nên những người Phật tử đã không bị cuốn hút vào cơn lốc khủng hoảng niềm tin. Vấn đề còn lại chỉ là việc củng cố xây dựng niềm tin của mình thêm vững chắc, trên cơ sở những lời dạy của Ðức Thầy còn truyền lại trong giáo lý:

- Tin rằng “Tịnh Độ là pháp môn cứu cánh”;

- Do tin rằng “Tịnh Độ là pháp môn cứu cánh”, nên tin rằng có cõi Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ;
-Từ niềm tin có cõi Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà , người Phật tử  Hòa  Hảo tin rằng 
-Đức Thầy là một vị Bồ Tát, trong hằng hà sa số những vị Bồ Tát từ cõi Tây phương Tịnh Độ, đã vâng lệnh Bồ Tát Quán Âm thị hiện xuống cỏi trần để cứu độ chúng sinh.

Người Phật tử Hòa Hảo tin chắc vào những điều trên vì không những đã được Phật thuyết trong kinh điển mà còn được lập lại bởi một nhân vật khả tín, Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Chính trên cơ sở của niềm tin rằng Ngài là một vị Bồ Tát xuống trần, ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy được trí tuệ và viễn kiến của Đức Thầy, người đã có một cái nhìn xuyên suốt tương lai, thể hiện qua một số công trình, sự nghiệp mà Ngài để lại trong khoảng thời gian 7 năm hành hoạt ngắn ngủi. Một cách cụ thể, Ngài cổ xúy việc thành lập “Việt Nam Phật giáo Liên Hiệp Hội” nhằm “liên hiệp các tôn phái đạo Phật” để “nâng cao tinh thần đạo Phật” và “bênh vực quyền tự do tín ngưỡng”. Những chủ trương, tôn chỉ này như ta thấy cuối cùng đã được những thế hệ Phật tử Việt Nam sau này thể hiện, cụ thể là phong trào tranh đấu cho Tự Do Tín Ngưỡng của Phật giáo năm 1963 mà kết quả là sự hình thành của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Ðặc biệt hơn, Ngài cũng đã nhìn thấy được trào lưu dân chủ sẽ là xu hướng chính của thời đại và nền dân chủ mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo phải là nền dân chủ xã hội cho nên đã đứng ra thành lập “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng”, là “một đảng dân chủ thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân. Đã chủ trương ‘toàn dân chánh trị’ thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào” để đi đến mục tiêu tối hậu là “làm cho mọi người đều được hưởng phúc lợi cân xứng với tài năng và việc làm của mình”, từ đó một nước Việt Nam độc lập sẽ “Căn cứ vào Hiến chương của Liên Hiệp Quốc (O.N.U.) và sự bảo vệ chung nền hoà bình, cọng tác với các dân tộc khác trên lập trường tự do và bình đẳng.” (28)
 
Những tinh thần chủ đạo, những nền móng dân chủ thắm đượm tinh thần nhân bản Phật giáo này, ngày hôm nay, gần 50 năm sau, đã được lập lại bởi một nhà lãnh đạo tên tuổi của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Hòa Thượng Thích Minh Châu. Trong bài tham luận “Ðạo Phật và nền trật tự đạo đức mới” đóng góp vào Hội Nghị Hoà Bình, tổ chức tại Mông Cổ vào năm 1989, Ngài đã phát biểu như sau: “Chúng tôi tha thiết hy vọng rằng tiến trình dân chủ hóa và nhân bản hóa chính trị trong mối quan hệ giữa các nước, cũng như trong tình hình nội bộ mỗi nước, sẽ được tăng cường và đi sâu hơn nữa từ nay cho đến năm 2000. Như vậy, chúng ta chuẩn bị cho một kỷ nguyên thật sự hòa bình, hòa bình cho toàn thể hành tinh, không phải chỉ cho một số khu vực, hòa bình cho toàn thể loài người, không phải chỉ cho dân chúng sống trong một vài địa danh. Mọi hình thức chiến tranh, không phải chỉ chiến tranh hạt nhân, cần phải loại bỏ. Tất cả mọi biểu hiện bạo lực cần phải bị diệt trừ một cách vĩnh viễn.” (29)
 
Xã hội của Việt Nam trong tương lai theo xu thế của thời đại sẽ phải là một xã hội mở, một xã hội dân chủ. Những nỗ lực của PGHH vì thế phải được chuẩn bị để đóng góp trên bình diện tôn giáo cho việc xây dựng một xã hội dân sự  này.
 
2. Vấn Nạn Khủng Hoảng Bản Sắc:

Nói đến khủng hoảng bản sắc tức là nói đến cuộc khủng hoảng văn hóa được phát sinh khi nhân loại bước vào kỷ nguyên toàn cầu hoá trong một nền trật tự thế giới mới đang trên đường hình thành. Xương sống của toàn cầu hóa là nền kinh tế thị trường, hiện nay đã như một làn sóng mạnh mẽ tấn công ồ ạt vào các quốc gia, dân tộc yếu kém về kinh tế. Nền kinh tế thị trường luôn luôn được đi kèm theo với nền văn hoá thị trường. Nền văn hoá này đặc biệt được thể hiện qua nếp sống, nếp nghĩ đã được cổ vũ, phổ biến ồ ạt qua các phương tiện truyền thông hiện đại, ngày càng có khuynh hướng chiếm lĩnh cuộc sống tinh thần của con người trên toàn thế giới.  Những truyền thống văn hoá cũ, những nét đặc trưng của các dân tộc ngày càng bị xói mòn, lung lay có khi đã bị nhổ bật đến đến tận gốc rễ. Trước nguy cơ này, một số các dân tộc, quốc gia trên thế giới –trong đó có cả Trung Hoa và Việt Nam- hiện đang có khuynh hướng quay trở về nguồn, tức là phục hồi lại những giá trị, tinh hoa của dân tộc mình trong quá khứ. Ðó là một cách thế đi tìm lại bản sắc của chính mình một cách bất bạo động. Tuy nhiên không phải là không có chuyện con người sử dụng cả phương tiện bạo động, tức là chiến tranh để giải quyết vấn đề xác định bản sắc. Những nhà phân tích và tiên đoán thời cuộc thế giới đã đưa ra nhận định rằng, sau kỷ nguyên đối đầu tranh chấp ý thức hệ của thời kỳ chiến tranh lạnh, nhân loại sẽ bước vào một thời kỳ xung đột mới trên nền tảng của tôn giáo, chủng tộc và sắc dân. Các cuộc chiến tranh xảy ra gần đây tại vùng Balkans, châu Phi mà rõ nét nhất là cuộc tranh chấp giữa Mỹ và thế giới Ả Rập, cũng có nghĩa là giữa Hồi Giáo và Cơ Ðốc là một minh thị cho nhận định này và là một biểu trưng mạnh mẽ nhất của cuộc khủng hoảng bản sắc.

Ðối diện với cuộc khủng hoảng này, nhân loại bắt đầu nói đến chuyện hợp tác, đối thoại mà qua đó các nhà lãnh đạo tinh thần, tôn giáo hiện đang đóng vai trò tiên phong, chủ lực.  Ngay từ năm 1970, Giáo hội Tin Lành Lutheran của Mỹ đã lên tiếng cổ võ cho việc thành lập những học viện thế giới và khu vực để nhân loại cùng bắt tay nhau đi vào một trật tự thế giới mới. Tinh thần này sau đó đã được Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã nồng nhiệt cổ võ qua “Hội Nghị Tôn Giáo và Hoà Bình Thế Giới Lần Thứ Hai” do Vatican bảo trợ được tổ chức tại Louvain, Bỉ, vào năm 1974 dưới sự chủ tọa của Giáo Hoàng Paul VI. Hội nghị Louvain kết thúc với một bản tuyên bố chung nội dung có đoạn như sau: “Những người Phật giáo, Cơ Ðốc, Khổng giáo, Ấn giáo, Do thái giáo, Kỳ Na giáo, Hồi giáo, Sikhs, và những tôn giáo khác cùng tụ hội ở đây để lắng nghe thông điệp tinh thần của những truyền thống tôn giáo cá biệt… Chúng ta hiện đang nắm bắt với những vấn đề trọng đại của xã hội cần phải được giải quyết hầu có thể mang lại hòa bình, công lý, và phẩm chất tốt đẹp của đời sống đến cho mọi người, mọi dân tộc…
Chúng tôi hân hoan khi thấy rằng một kỷ nguyên lâu dài chiếm lĩnh bởi niềm kiêu hãnh, và ngay cả thiên kiến cố chấp cục bộ của những tôn giáo của nhân loại, hy vọng rằng bắt đầu từ hôm nay sẽ được cáo chung vĩnh viễn.
Chúng tôi kêu gọi toàn thể cộng đồng tôn giáo của thế giới hãy xem mình như là những công dân của hành tinh trái đất này.” (30) 
Cũng trong tinh thần này, một nhà lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng đã phát biểu rằng: “Vấn đề đoàn kết tôn giáo được cổ vũ bởi Ðức Thánh Cha Gioan Phaolồ II và đồng thuận bởi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma không phải là một mục tiêu được đạt đến trong một sớm một chiều, tuy nhiên một ngày nào đó sẽ đến khi mà tình thương yêu và lòng từ bi vốn được cả Ðức Phật lẫn Ðức Chúa Giêsu tuyên xưng một cách nồng nhiệt sẽ hợp nhất thế giới trong một nỗ lực chung ngỏ hầu cứu vãn nhân loại ra khỏi sự hủy diệt vô nghĩa để đi đến một ánh sáng chung mà tất cả mọi người cùng tin tưởng”. (31)
 
 Tinh thần của hợp tác, trao đổi, đối thoại có nghĩa là có cho và có nhận. Ta không thể hợp tác, trao đổi, đối thoại nếu như ta không có gì để cho. “Cái để cho” này chính là bản sắc độc đáo riêng của mỗi cá thể mà nếu không có nó, cá thể sẽ không tồn tại lâu dài. Như vậy, vấn đề đặt ra là Phật Giáo Hòa Hảo có bản sắc gì đặc biệt để có thể bước vào kỷ nguyên mới một cách mạnh dạn? Như mọi người đều thấy, ngoài đặc tính phổ quát là pháp môn Tịnh Ðộ, nội dung giáo lý PGHH có rất nhiều nét độc sáng làm nổi bật được nét đặc thù chính yếu của tông phái này. Ðặc tính chính yếu này có thể được tóm gọn lại trong câu nói của Ðức Thầy xác định tính chất của người tín đồ  PGHH: “Đây là hạng người học Phật , tu Nhân… Toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại gia cư sĩ.”. Tu theo pháp môn Tịnh Ðộ thì điều rõ ràng là người tại gia cư sĩ PGHH đã không chọn con đường giải thoát trong kiếp sống này làm cứu cánh, thế nên:

Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái ÐẠO LÀM NGƯỜI.

Nhưng mà để làm cho tròn cái “ÐẠO LÀM NGƯỜI” này cũng không phải là chuyện dễ dàng đơn giản, còn khó hơn cả chuyện xuống tóc đi vào chùa tu nữa là khác. Chẳng thế mà ca dao Việt Nam khi sắp hạng các mô thức tu hành đã cho rằng:

Thứ nhất là tu tại gia
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa!

Tu tại gia quả là rất khó thế nên Ðức Thầy đã chỉ ra cho mọi người một con đường, một mô thức hành hoạt độc đáo của riêng PGHH, đó là  HỌC PHẬT để TU NHÂN. Tu Nhân là gì nếu không phải là đi trên con đường Bát Chánh Ðạo để hoàn thành Tứ Ðại Trọng Ân: Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, Ân Ðất Nước, Ân Tam Bảo, Ân Ðồng Bào và Nhơn Loại. Ðây là lối tu tích cực, nhập thế mà nói cho rộng ra, khi người Phật tử hoàn tất được gánh nặng Tứ Ân thì cũng có nghĩa là họ đã hoàn thành chặng đường đầu tiên của con đườngBồ Tát Ðạo để nhập vào giòng Thánh . Giáo lý TỨ ÂN là nội dung chính yếu của truyền thống Phật giáo Bữu Sơn Kỳ Hương do Ðức Phật Thầy Tây An khai sáng mà Ðức Huỳnh Giáo Chủ đã kế thừa và phát huy một cách hoàn chỉnh, trong đó hai trọng ân Tổ Tiên Cha Mẹ và Ðất Nước như đã  hoà lẫn, quyện chặt vào nhau, phản ảnh đầy đủ nhân cách lý tưởng của con người Việt Nam, hai vai gánh nặng món nợ TRUNG - HIẾU vẹn toàn. Ðây là mẫu người thương dân yêu nước mang sắc thái dân tộc tính cá biệt, phảng phất đâu đây trong câu thơ của Ðồ Chiểu:

Thà đui mà giữ đạo nhà,
Còn hơn có mắt ông cha không thờ.

Mẫu người trung hiếu vẹn toàn này đã được thể hiện qua một nhân vật được người Phật tử Hòa Hảo kính ngưỡng, tôn thờ: Vị anh hùng Nguyễn Trung Trực, được tôn xưng là Thượng Ðẳng Ðại Thần, và hàng năm tế tự theo nghi lễ PGHH. Tước hiệu Thượng Ðẳng Ðại Thần này mới thoạt nghe người ta tưởng lầm là một tước hiệu phong kiến của vua ban, nhưng thật ra không phải như vậy, Ðức Thầy đã giải thích rằng chính Phật tổ đã ban cho Ngài Nguyễn Trung Trực danh hiệu này vì cảm thương tấm lòng trung với nước, hiếu với mẹ của Ngài. Chọn Nguyễn Trung Trực như là một nhân vật biểu trưng để thờ phượng tức là muốn nhấn mạnh đến tính chất yêu nước của người tín đồ PGHH, thể hiện qua câu nói bất hủ của Ngài khi ung dung bước chân ra pháp trường thọ hình:  “Khi nào không còn cỏ mọc trên trên đất nước Việt Nam thì mới hết người Việt Nam yêu nước.”

Tiến sĩ Lê Hiếu Liêm, một nhà nghiên cứu về PGHH, trong cuốn sách mới xuất bản gần đây của ông, “Bồ Tát Huỳnh phú Sổ và Phật Giáo Thời Ðại”, đã nêu bật tính chất này như sau:


“Giữa bao chia rẽ, phân hóa, nồi da xáo thịt bởi ý thức hệ, chủ nghĩa, tôn giáo, đảng phái, địa phương, chính kiến, giai cấp… xé nát, phân thây các thế hệ Việt Nam suốt nửa thế kỷ nay, Huỳnh Phú Sổ đã cất lên cao ý thức hướng về cội nguồn tổ tiên để hợp nhất quốc dân và ý thức đồng bào để đoàn kết dân tộc.
 
Và đi xa hơn nhân loại, đi trước cả những nhà nhân bản tiến bộ nhất, với tâm thức cứu độ bình đẳng tất cả nhân loại chúng sanh của Ðạo Phật, Ông đã gieo truyền ý thức nhân loại là anh em một nhà, ý thức thế giới là ngôi làng chung của tất cả chúng ta, trái đất là đất mẹ chung của tất cả loài người.

 
Thuyết Tứ Ân  xa xưa của Phật giáo được Huỳnh Phú Sổ cầm đến, một cách nhẹ nhàng, sơ lược như không cầm đến, đã trở nên mới tinh và có giá trị thời đại, giá trị toàn cầu, giá trị toàn diện, sâu sắc, không những cho việc Học Phật Tu Nhân của người Phật tử Việt Nam, mà còn cho mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi người không phân biệt biên giới, chủng tộc -những công dân bình đẳng- của thế giới hiện đại.
 
Thuyết Tứ Ân đã đưa đạo Phật cao siêu đến tầm tay của quần chúng, đưa đạo Phật vi diệu đến ngưỡng cửa cuộc đời và con đường giải thoát tâm linh huyền bí, tối thượng trở thành con đường giải phóng dân tộc và xã hội và cá nhân một cách hiện thực, mà vẫn không mất đi bản chất siêu thoát của đạo Phật.
 
Với thuyết Tứ Ân, người Phật tử được trao cho những trách nhiệm làm người, làm cha mẹ, làm vợ chồng, làm con cái, làm công dân ngay trong cuộc đời, đưa Phật pháp đi vào thế gian để phụng sự gia đình, cuộc đòi, quê hương dất nước cũng như chúng sanh nhân loại. Học Phật – Tu Nhân mà căn bản là thực hành Tứ Ân, quả thật là một đường lối tu hành thích hợp với người Phật tử tại gia, biến cải, thăng hoa họ thành những người con có hiếu với cha mẹ, ông bà; thành những người cha, người mẹ có trách nhiệm với con cái; thành những vợ chồng biết thương yêu lo lắng cho nhau cũng như thành những công dân đạo đức, yêu nước, hữu dụng.
 …
 
Nhập thế triệt để, hành động tích cực và dấn thân toàn diện trong mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội, đó là đặc tính của nền Phật giáo thời đại, và đó cũng là lời kêu gọi của thuyết Tứ Ân, của chủ trương Học Phật – Tu Nhân, những đặc tính quan trọng nhất của PGHH, mà Huỳnh Phú Sổ đã tiếp nố và thành tựu huy hoàng di sản qúy giá từ Ðức Phật Thầy Tây An, và của hai ngàn năm Việt-Phật.” (32) 

Tất cả những điều này đã nói lên được bản sắc độc đáo của PGHH, cái truyền thống Việt-Phật  mà người Phật tử Hòa Hảo sẽ rất hãnh diện và tự hào khi giới thiệu tôn giáo mình với thế giới rằng, đây là một Ðạo Phật Việt Nam.
 
3/- Vấn Nạn Khủng Hoảng Cơ Cấu 

Và Nhu Cầu Ðào Tạo Mục Sư Hoà Hảo (Minister).
 
Khung cảnh xã hội của thời đại hôm nay không còn khung cảnh xã hội của Phật giáo HH thời tiền bán thế kỷ 20. Những Phật tử của PGHH thế hệ hôm nay không còn là những tá điền của thế hệ với phương tiện canh tác cổ lổ của con trâu đi trước cái cày. Người nông dân của thời đại ngày nay đã sở hữu những tiện nghi văn minh tối thiểu. Thế hệ con cái họ có rất nhiều người đã tốt nghiệp Đại học hoặc trên Đại học. Nói chung, trình độ nhận thức của cư dân vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long và điều kiện kinh tế của Việt Nam nay đã khác biệt rất xa so với bối cảnh thời đại mà PGHH mới khai sanh. Thế nên tất cả những phương tiện hoằng truyền giáo lý của PGHH đều cũng phải canh tân, thay đổi cho thích nghi với thời đại. Hãy lấy một thí dụ cụ thể, nếu như trước đây, tiếng ngâm của Sấm Giảng vọng lên từ những Độc Giảng Đường vào những buổi chiều tà có thể thấm đậm vào hồn người bằng những vần thơ lục bát chuyên chở đạo lý nhiệm mầu, thì ngày nay, trong một xã hội dân sự, phương tiện này đã không còn thích ứng, bởi lẽ nó xâm phạm đến tự do cá nhân của người khác, vì không lý do gì chúng ta có thể bắt những người không cùng một tôn giáo với mình phải nghe những tín điều khác với niềm tin tôn giáo của họ trên những loa phóng thanh công cộng.

Chỉ từ một thí dụ điễn hình này, người ta đã thấy rằng không phải chỉ một chuyện đơn giản như phương tiện phổ thông giáo lý cần phải thay đổi cho thích nghi với thời đại mà cao hơn thế nữa, mặt cơ cấu tổ chức của PGHH cũng phải canh cải để phù hợp với nhu cầu truyền đạo và giữ gìn mối đạo. Từ trước đến nay, tất cả mọi tôn giáo, để tồn tại và phát triển hầu có thể đóng góp những lợi ích thiết thực cho xã hội, và nhân sinh không thể không có những cán bộ toàn thời. Tuy mang những tên gọi khác nhau như Tăng sĩ, Linh mục, Mục sư,... nhưng tất cả những  người này đều có một mẫu số chung là chấp nhận hy sinh trọn đời cho lý tưởng phục vụ tha nhân theo tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Ở những tôn giáo khác, tất cả những cán bộ toàn thời này đều được đào tạo một cách chính quy và có hệ thống thông qua những Đại, Tiểu Chủng viện, những Trung Tâm Thần học hay là những Phật học viện. Nhìn lại Phật Giáo Hoà Hảo, tuy được xem như là một tôn giáo, hơn thế nữa, một tôn giáo dân tộc, nhưng cho đến nay, một sự thực đáng buồn mà bất cứ ai quan tâm đến tiền đồ của PGHH đều không khỏi nặng lòng suy nghĩ là, từ trước đến nay PGHH mới chỉ có các cơ cấu Ban Trị Sự để giải quyết những công việc thế tục nhưng vẫn chưa có được một trung tâm đào tạo tu sĩ cho riêng tôn giáo mình. Thế nên, để lấp đầy khoảng trống lớn lao này, để PGHH không bị lâm vào tình trạng tụt hậu so với các bộ phận dân tộc khác, một Phật Học Viện Phật Giáo Hòa Hảo (PHV-PGHH) phải được hình thành đặt nền móng khởi đầu cho việc đào tạo chính quy một thế hệ Tu sĩ, Mục sư  PGHH hoạt động toàn thời có trình độ căn bản trên cả ba mặt Thế học, Phật học và Giáo Lý Phật giáo Hoà Hảo. Đây là một yêu cầu cấp thiết và sinh tử của PGHH trong giai đoạn hiện nay và Phật Học Viện Phật Giáo Hoà Hảo vì thế sẽ đóng vai trò như là chiếc cầu nối liền hiện tại với tương lai, đưa PGHH tiến lên một vị thế tôn giáo ngang tầm thời đại.
 
Là một tu viện Phật giáo, Phật Học Viện PGHH đặt trọng tâm phát huy hai phẩm tính căn bản của đạo Phật là TỪ BI và TRÍ TUỆ. Tuy nhiên tinh thần từ ái bao dung của đạo Phật phải là yếu tố chủ đạo trong việc đào tạo một thế hệ lãnh đạo tinh thần có năng lực và phẩm chất, một mẫu người biết thực hiện trọn vẹn tinh thần từ bi và trách nhiệm đối với đồng loại, muôn loài và môi trường sinh sống. Thể hiện tinh thần nhân bản, tự do, và khai phóng của đạo Phật, Phật Học Viện PGHH cũng sẽ là nơi tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người tu sĩ PGHH tương lai triển khai tinh thần nghiên cứu, phân tích và phê phán một cách độc lập. Đây chính là yếu tố cơ bản cho sự  phát triển TRÍ TUỆ, phù hợp với tinh thần chung của Đại Học trên toàn thế giới, và là một nỗ lực đóng góp tích cực nhất của cộng đồng Phật Giáo Hoà Hảo vào sự tiến bộ chung của đất nước và của cả khu vực, bây giờ và mai sau. Để đạt được mục đích này, nội dung đào tạo của Phật Học Viện PGHH sẽ được khai triển đồng đều trên cả ba mặt: Thế học, Phật học và Phật Giáo Hoà Hảo học, đặc biệt là nỗ lực vận dụng giáo lý PGHH vào đời sống thực tiển như đã được vạch ra trước đây bởi Ðức Thầy khi trả lời một cuộc phỏng vấn dành cho báo “Nam Kỳ” ngày 29-11-1946: “Theo sự nhận xét của tôi về giáo lý nhà Phật do nơi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai sáng lấy chủ nghĩa từ bi bác ái đại đồng đối với tất cả chúng sanh làm nòng cốt thì tôi nhận Ngài là một nhà cách mạng triệt để về tư tưởng... Giáo lý đó, Đức Thích Ca Mâu Ni không áp dụng được một cách thiết thực trong đời của Ngài là do nơi hoàn cảnh của xã hội Ấn Độ xưa không thuận tiện. Ngày nay, trình độ tiến hóa của nhơn loại đã tới một mực khả quan, đồng thời với tiến bộ về khoa học thì ta có thể thực hành giáo lý ấy để thiệt hiện một xã hội công bằng và nhơn đạo. Thế nên với cái tâm hồn bác ái, từ bi mà tôi đã hấp thụ, tôi sẽ điều hoà với phương pháp tổ chức xã hội mới, để phụng sự một cách thiết thực đồng bào và nhân loại”. (33) Đây chính là tinh thần thể hiện Đạo vào Đời, hay nói một cách khác, “Học Phật đạo, hành Bồ Tát đạo”. Tinh thần này chính là yếu tính của Phật Giáo HH, bàng bạc trong suốt các thi, kệ còn lưu lại của Đức Huỳnh Giáo Chủ: Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm, Kệ Dân Của Người Khùng, Sám Giảng, Giác Mê Tâm Kệ, Khuyến Thiện, và Các Thi Văn Giáo Lý Khác của Đức Huỳnh Giáo Chủ... 
 
Thật ra công việc đào tạo những nhà mục sư Phật giáo (minister) cũng không phải là điều gì quá mới mẻ. Gần một ngàn năm trước đây, một tông phái Phật giáo Nhật Bản có những nét rất tương đồng với PGHH đã làm công việc này và làm rất thành công, đó là tông phái Tịnh Ðộ Chơn Tông  (Jodo Shinshu). Thành lập năm 1224 bởi Ngài Thân Loan (Shinran, 1173-1263), giáo phái Tịnh Ðộ Chơn Tông đã tách rời khỏi truyền thống Phật giáo kinh viện cổ điển để hướng vào tầng lớp quần chúng đông đảo tại nông thôn và đã được sự đáp ứng nồng nhiệt của họ. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, phong trào Tịnh Ðộ cư sĩ này đã được truyền đi nhanh chóng từ người này đến người khác, làng nọ đến làng kia, thu hút hàng trăm ngàn Phật tử  chỉ trong vòng vài tháng. Tông phái Tịnh Ðộ Chơn Tông hiện có hàng chục triệu tín đồ tại Nhật Bản và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, kể cả các quốc gia phương Tây.

Ngài Thân Loan nguyên là một tăng sĩ Phật giáo thiền tông, đệ tử của ngài Jichin, một thiền sư nổi tiếng vào bậc nhất của Phật giáo Nhật Bản thời bấy giờ. Sau hơn hai mươi năm tinh tấn tu tập tại tu viện trên núi Hiye nhằm hướng đến con đường giải thoát, Ngài đã không tìm thấy một ánh sáng kết quả nào nên đến năm thứ ba mươi, sau hơn một trăm đêm thiền định, đã dứt khoát quyết định cởi áo xuống núi. Trên đường đi, Ngài đã gặp lại một người bạn cũ cũng là một tăng sĩ, môn đệ của Thánh giả Pháp Nhiên (Honen), được coi như là vị tổ sư đương thời của tông phái Tịnh Ðộ Nhật Bản, truyền cho pháp môn này và rồi sau đó đã trở thành một đệ tử hữu hạng của Ngài Pháp Nhiên. Sau này khi phái Tịnh Ðộ Chơn Tông ra đời, Ngài Thân Loan đã cho biết sứ mạng của mình là nhận chịu sự ủy thác của hai vị Bồ Tát Quan Âm và Thế Chí để rao truyền hạnh nguyện nguyên thủy của Ðấng Giải Thoát là pháp môn Niệm Phật. Ngài Thân Loan còn đi một bước quyết liệt hơn khi cho rằng ý nghĩa và giá trị đích thực của sự truyền thừa giới  luật đã hoàn toàn mất dấu trong hàng ngũ Tăng già Nhật Bản, mà theo ông “Tỳ kheo chỉ còn trong danh nghĩa chứ không còn trong giới luật” vì “nếu thọ giới mà không giữ giới thì thà là không thọ giới.” Chính bắt nguồn từ nhận định này mà Ngài Thân Loan cổ xúy cho một loại hình tu sĩ Phật giáo mới, “không phải Tăng mà không phải tục”, tức là hình thái Mục sư Phật giáo (Minister) như ta thấy hiện nay. Nét đặc thù chính yếu của vai trò Mục sư được bắt nguồn từ cách nhìn của Ngài Thân Loan khi nhận ra tính cách tiêu cực của khuynh hướng HƯỚNG NGÃ của một vị Thầy trong khi giảng pháp. Ông đã nhận ra một điều là mặc dù chúng ta lúc nào cũng tự cho rằng mình là người đại diện cho chân lý, nhưng trong thực tế chúng ta lại luôn luôn đem cái NGÃ của mình ra để áp đặt lên tha nhân. Ý nghĩa quan trọng nhất của vai trò Mục sư Phật giáo vì thế là sự canh cải trong tương quan đối đải giữa người giảng đạo và bổn đạo: KHÔNG XEM HỌ NHƯ LÀ NHỮNG VẬT SỞ HỮU CỦA MÌNH, mà tất cả đều chỉ là những ÐỒNG ÐẠO, đều bình đẳng trong niềm tin vào Ðức Phật A Di Ðà. Chính bản thân của Ngài Thân Loan cũng không có đệ tử vì không nhận đệ tử.
 
PGHH đã không có một thái độ quyết liệt như Tịnh Ðộ Chơn Tông của Nhật Bản là hoàn toàn phủ nhận vị trí của Tăng Bảo. Ðức Huỳnh Giáo Chủ trong khi thuyết giảng về Tứ Ân đã nhấn mạnh đến ÂN TAM BẢO (Phật - Pháp- Tăng) như là một trong những nền tảng cơ bản của giáo lý PGHH. Tuy nhiên như đã nói ở trên, do nhu cầu truyền đạo và giữ gìn mối đạo, PGHH cần có một loại hình tu sĩ hoạt động toàn thời mà mô thức Mục sư (Minister) của Tịnh Ðộ Chơn Tông Nhật Bản là một trong những khuôn mẫu đáng noi theo. Ngoài những đặc tính chính yếu nói trên, người Mục sư PGHH trong thời đại ngày nay, bên cạnh chức năng tôn giáo, còn đóng vai trò như là một nhà cố vấn (counselor) cho những đồng đạo của mình trong các lãnh vực tâm lý, xã hội… Ðược quyền lập gia đình, sống hòa mình với xã hội đầy sinh động, người Mục sư PGHH có những mặt thuận lợi hơn một vị Tăng sĩ Phật giáo là họ có thể nắm bắt dễ dàng những ước mơ, nguyện vọng của con người trong cuộc sống đời thường, sống gắn bó với họ để hướng dẫn họ một cách tích cực trên con đường tiến dến giải thoát. Ngoài ra một khía cạnh tích cực khác của vị Mục sư, là do được lập gia đình, họ không bị lâm vào cuộc khủng hoảng tình dục gây nên bởi giới luật bắt buộc độc thân của đời sống tu sĩ. Cuộc khủng hoảng và những tai tiếng về tình dục trong giới tu sĩ Thiên Chúa Giáo La Mã tại Hoa Kỳ hiện nay, như mọi người đều biết hiện đang làm rung chuyển Toà Thánh Vatican. Với trên 2,000 Linh mục bị cáo buộc về tội sách nhiễu tình dục (34) và trước áp lực mạnh mẽ của dư luận, Ðức Hồng Y Bernard Law của giáo phận Boston không những đã phải bỏ ra 30 triệu đồng để dàn xếp những vụ thưa gởi mà rồi cuối cùng cũng đã phải từ chức vì dư luận kết án rằng Ngài đã bao che cho tệ trạng này. Không phải chỉ riêng Thiên Chúa giáo mà giới Tăng sĩ Phật giáo cũng không thoát khỏi tình trạng tai tiếng về tình dục. Mới đây, hai vị sư Chủ tịch Ðiều hành lẫn vị Tổng Thư Ký của Giáo Hội Phật giáo Thái Lan, hai nhân vật thực sự có quyền hành nhất của Giáo hội được coi như  là  Quốc giáo của Thái Lan đã bị tố cáo về các tội  biển thủ, thâm lạm hàng chục triệu đô la của công qũy để bao gái, hoặc có vợ riêng, hoặc đi chơi điếm… và ngay tại Hoa Kỳ, chỉ nội trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam cũng không thiếu những tăng sĩ người Việt đã bị đưa ra tòa, vào tù về tội sách nhiễu tình dục, tai tiếng về mặt này đã liên quan đến cả những hàng giáo phẩm cao cấp, ngôi vị Hoà Thượng! Trong tình hình này, vấn đề đào tạo mục sư cho PGHH lại càng trở nên một nhu cầu cấp bách và có nhiều thuận lợi hơn.
 
Đáp ứng đúng những yêu cầu của thời đại, lịch sử và tôn giáo, cũng như lòng mong chờ khát vọng của đại khối quần chúng PGHH, sự ra đời của Phật Học Viện PGHH là một đáp số tất yếu. Đây là một xu hướng tất nhiên, một kết quả chín mùi của một tôn giáo có quá trình phục vụ cho lợi ích của nhân quần, xã hội, Phật Học Viện PGHH do đó chắc chắn sẽ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của toàn thể Phật Giáo đồ chứ không phải chỉ riêng tín đồ PGHH và nhất định sẽ tiến những bước vững chắc vào tương lai, tiếp tục duy trì ngọn đuốc thiêng trí tuệ và sứ mệnh tôn giáo mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã khai sáng gần bảy mươi năm qua. Ðể đạt được mục tiêu này, người Phật tử Việt Nam không thể không nhớ lại lời khẳng định của Ngài Thái Hư Đại Sư trước đây trong phong trào Chấn Hưng Phật Giáo: “Nguồn chủ lực và hướng hổ trợ cho Phong Trào Cách Mạng Tôn Giáo chỉ còn trông cậy vào các hàng cư sĩ hữu tâm, kiên trì và có khả năng.”
 
Tâm Hà Lê Công Ða


CHÚ THÍCH

(1)    Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc. HT Thích Thanh Kiểm. Vạn Hạnh xb, 1965. Tr. 263-264.

(2)     Lịch Sử Tranh Đấu Phật Giáo Việt Nam. Tập I. GS Kiêm Đạt. Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản. 1981. Tr. 50.
(3)    Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr. 118.
(4)    Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr. 118
(5)    Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc. Nguyễn Long Thành Nam. Tr. 161-162.
(6)    “Một vài ý kiến về việc cải cách điền địa ở Bắc Việt.” Tri Tân. Số 3. 1951.
(7)    Việt Nam Pháp Thuộc Sử. Phan Khoang. Tr. 451.
(8)    Việt Nam Pháp Thuộc Sử. Phan Khoang. Tr. 480.
(9)    “Tặng Thi Sĩ Việt Châu”. Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr. 454.
(10) Những Điều Sơ Lược Cần Biết của Kẻ Tu Hiền. Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr. 145-146.
(11) Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc. Nguyễn Long Thành Nam. Tr. 235.
(12) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Sứ Mạng của Đức Thầy. Tr. 19.
(13) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr. 123.
(14) Niệm Phật Thập Yếu. HT Thích Thiền Tâm. Tiết 21. Tr. 117.
(15) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr. 123.
(16) Luận Ðại Thừa Khởi Tín. Bồ Tát Mã Minh. HT Thích Thiện Hoa dịch. Hương Ðạo xb, 1962. Tr. 190.
(17) Mấy Ðiệu Sen Thanh. HT Thích Thiền Tâm dịch. An Tường tái bản, 1997. Tr. 11.
(18) Vãng Sinh Luận. Bồ Tát Thế Thân. TT Nhất Chân dịch. Chùa Ðức Viên xb. Tr. 5.
(19) Lá Thư Tịnh Độ. Đại sư Ấn Quang. Liên Du dịch. Chùa Đức Viên Xb. 1997. Tr. 151.
(20) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
(21)  Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Giác Mê Tâm Kệ 105.
(22) Kinh Niệm Phật Ba La Mật. HT Thích Thiền Tâm dịch. Chùa Đức Viên xb. 1997. Tr. 30.
(23) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr. 126.
(24) Vãng  Sinh Luận. TT Nhất Chân.  Chùa Ðức Viên xb. Lời Tựa.
(25) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr. 123-124.
(26) A New Christianity for a New World. John Shelby Spong. HarperCollins xb. 2001. Lời Nói Ðầu. Tr. xxi. Ðồng thời xem thêm Tr. 1-2-3.
(27) Beyond Dogma. HH The Dalai Lama. Rupa & Co. India xb. Tr. 184-185. Xem thêm bản dịch Việt ngữ “Vượt Khỏi Giáo Ðiều” của Tâm Hà Lê Công Ða: http://www.quangduc.com/triet/47vkgiaodieu.html
(28) Xem Tuyên Ngôn và Chương Trình của Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng. Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Tr. 468-469.
(29) HT Thích Minh Châu. Trích lược bài phát biểu“Ðạo Phật và nền trật tự đạo đức mới” tại cuộc hội thảo "Ðạo Phật và sự lãnh đạo về hòa bình" 
tổ chức tại Ulan Bato, Mông Cổ, từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 8 năm 1989. http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-vbud/vbpha064.htm
(30) Catholic Register. Toronto, Canada. Sept 21, 1974.
(31) Tibetan Review, được trích dẫn lại bởi Catholic World, số tháng 5/6 năm 1989, Tr. 140.
(32) Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và Phật Giáo Thời Ðại. Lê Hiếu Liêm, Tr. 182-183-184.
(33) Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr. 481. Trích lục bài phỏng vấn của tác giả Hồn Quyên, báo “Nam Kỳ” ngày 29-11-1946
(34) Báo cáo của Tuần báo Time, Số 1-4-2002, Tr. 30.

[BANTIN]

 

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TRÌNH HỘI ÐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 04/12/07