THẤT SƠN MẦU NHIỆM

Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu

 

 

CH. 2

LỊCH SỬ THẤT SƠN

QUA CUỘC NAM TIẾN HOÀN THÀNH

 

 

I. Trong Lúc Thất Sơn C̣n Thuộc Đất Chân Lạp, T́nh H́nh Trịnh-Nguyễn Phân Tranh Và Bước Đầu Cuộc Nam Tiến Ra Sao?

 

Thất Sơn xưa kia nằm sâu trong nội địa Thủy Chân Lạp (nhưng hiện giờ đă thuộc về Nam bộ Việt Nam), và đă từng được thổ dân của nước ấy coi là một lănh vực vô cùng quan trọng: Người tu hành cho là một chốn danh lam huyền bí, có thể vào đó mà tu luyện dễ thành, nhà chỉ huy quân sự th́ coi đó là một vùng hoang địa, lại có thể cứ hiểm trường kỳ mà kinh bang lập quốc; kẻ côn đồ cướp bóc lại cậy vào đó làm chỗ lẫn lút lánh thân, chiêu la đồ đảng. V́ thế, trên bước đường tiến thủ của dân tộc Việt, đất Hà Tiên là một xứ ở biên thùy dị vực (sau lưng dăy Thất Sơn), đă lọt vào nước ta từ năm 1714 mà măi đến 45 năm sau (1759), mức cuối cùng của cuộc tiến binh vào Nam, Thất Sơn mới thu về đất Việt.

 

Muốn hiểu được lịch sử quan trọng của vùng sơn lănh xa xôi ấy, và để hiểu được cả miền đất đai ph́ nhiêu chung quanh đấy đă sát nhập vào bản đồ nước Việt từ năm nào, và như thế nào, chúng ta hăy ngược ḍng lịch sử, xem xét lại t́nh h́nh chánh trị của nước ta từ 100 năm trước ngày hoàn thành cuộc Nam tiến.

 

*

 

Từ khi có cuộc Nam Bắc phân tranh (Trịnh Nguyễn bảy lần đánh nhau trong quăng 45 năm 1627-1672), làm cho dân gian trong nước luôn luôn đói khổ, cho nên có nhiều người bỏ xứ chạy vào vùng Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hoà) để khai mở ruộng đất làm ăn.

 

Năm Mậu Tuất (1658), ở Chân Lạp nhân có cuộc tranh chấp ngai vàng trong hoàng tộc, họ sang cầu cứu với nước ta. Chúa Nguyễn bấy giờ là Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền, 1648-1687) c̣n phải bận o công việc chống giữ họ Trịnh ở phía Bắc, nhưng v́ quyền lợi của dân Việt miền Nam nên cũng chia quân sanh đánh xứ Mỗi-Xuy (nay thuộc tỉnh Biên Hoà), bắt được vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân. Ông Chân xin hàng và hứa sẽ bênh vực người Việt sang làm ăn trong đất họ.

 

Năm Giáp Dần (1674), lại có cuộc giành ngôi trong hai ngành hoàng phái Chân Lạp: Nặc Ông Đài và Nặc Ông Nộn. Trong khi Nặc Ông Đài xuất ngoại cầu cứu với Xiêm La th́ Nặc Ông Nộn sang cầu cứu với chúa Hiền. Chúa Hiền sai Cai cơ đạo Nha Trang là Nguynễ Dương Lâm và Tham mưu Nguyễn Đ́nh Phái đem binh sang đánh Nặc Ông Đài. Binh ta phá được thành Sài Côn (1) rồi tiến thẳng lên vây thành Nam Vinh (Nam Vang: Phnom-Penh). Nặc Ông Đài chống không nỗi quân ta, phải bỏ thành mà chạy (sau chết ở trong rừng), c̣n con là Nặc Ông Thu ră mặt đầu hàng. V́ Nặc Ông Thu là ḍng con trưởng, nên ta cắt cho làm đệ nhứt quốc vương, đóng ở Long Úc, để Nặc Ông Nộn làm đệ nhị quốc vương, đóng ở Sài Côn. Hàng năm, hai vua phải dâng phẩm vật triều cống.

 

Lúc bấy giờ Chúa Trịnh ở mặt Bắc, sau khi tiến binh vào Nam lần thứ bảy (1672) không thắng được chúa Nguyễn, bèn để Lê Hiến ở lại trấn thủ Nghệ An, Lê Sĩ Triệt ở lại làm Đô Đốc trấn thủ Hà Trung, lấy sông Linh Giang (ngày nay là sông Gianh) làm giới hạn rồi rút binh về, không xâm lấn nữa. V́ vậy, miền Nam được rảnh tay, chúa Nguyễn một mặt lo củng cố nội bộ, một mặt lo tiến lần vào Nam.

 

Từ đó dân ta di cư vào Chân Lạp mỗi ngày một đông, thế lực mỗi ngày một mạnh. Năm Mậu Th́n (1688) nhân có sự làm loạn giữa những người khách trú do Hoàng Tiến cầm đầu (trước vào hàng chúa Nguyễn xin làm dân Việt) chống nhau với Nặc Ông Thu (đệ nh1ưt quốc vương Chân Lạp), Nặc Ông Thu bỏ lệ triều cống, không chịu thần phục nước ta nữa, lại đào hào đấp lũy, lập thế chuẩn bị đối địch.

 

Chuá Nghĩa là Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) hay tin xua quân vào đánh, giết được Hoàng Tiến và đồng thời vua Chân Lạp cũng khiếp sợ mà xin thần phục như cũ. Những đất dân ta và người Tàu nhập Việt tịch đă khai thác như Lộc Dă, Ba Lân (tức là đất Đồng Nai thuộc Biên Hoà), Mỹ Tho (thuộc Định Tường) được tự do làm ruộng, lập làng mua bán.

 

Năm Mậu Dần (1698), Quốc Chúa là Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) thấy dân ta làm ăn thịnh vượng và đông đúc, bèn sai ông Nguyễn Hữu Kính làm Kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố ra làm dinh huyện, đặt Trấn Biên dinh (Biên Hoà) và Phiên Trấn dinh (Gia Định) rồi sai quan vào cai trị.

 

Mùa thu tháng 8 năm Giáp Ngọ (1714) (2), có người khách Quảng Đông tên là Mạc Cửu (3) từ lâu sang khai khẩn đất Mang Khảm (Hà Tiên), làm quan Ốc Nha (như chức Tri phủ) cho nước Chân Lạp, nay thấy nước ấy hèn yếu lại hay chia rẽ, bèn thân hành đến Phú Xuân, dâng biểu xin nạp bảy xă của ḿnh đă khai phá được trong nước Chân Lạp (có cả ḥn Phú Quốc), mà quy phục Nam Triều. Chúa Nguyễn ưng chịu và đổi tên đất Mang Khảm lại là Hà Tiên trấn (4), phong cho Mạc Binh giữ trấn Hà Tiên, lại ban ấn triện, măng mạo và cho người đưa về trọng hậu.

 

Xét ra từ năm 1672 là năm đă ngưng hẵn cuộc đánh nhau với Trịnh ở Bắc, chúa Nguyễn mới tiến được vào Nam. Nhưng giai đoạn này cũng chỉ chiếm được miền Đông, và phía Tây, thâu phục trấn Hà Tiên mà thôi, c̣n các vùng rừng sát hoang vu cực nam như Lôi Lạp (ngày nay là G̣ Công); Tầm Bôn (ngày nay là Tân An), vùng các cửa sông như Ba Thắc (ngày nay là Sóc Trăng, Bạc Liêu), Trà Vang (ngày nay là Trà Vinh, Bến Tre), và đất Tầm Phong Long (ngày nay là vùng Thất Sơn chạy dọc xuống một phần sa Đéc), vẫn c̣n thuộc của người Chân Lạp cố thủ. Nhất là vùng Thất Sơn, họ Mạc về sau đă nhiều phen lăm le lấn sang, nhưng gặp phải địa thế hiểm trở và thường có sự chống trả của người Chân Lạp do Nặc Bồn từ phiá Sài Mạt (Cheal Meas) chỉ huy đánh phá hai mặt (Sài Mạt ở phía Bắc và Thất Sơn ở phía Đông Hà Tiên) nên đành phải thôi và chỉ khai thác lần hồi trở xuống miền duyên hải Thủy Chân Lạp (1739).

 

II. Chính sách “Tàm Thực” Đă Áp Dụng Thời Ấy Như Thế Nào?

 

Trong khi chúa Nguyễn lo bành trướng thế lực vào Nam th́ ở Bắc Hà, chúa Trịnh v́ chánh sách tham tàn nên phải bị hăm vào một t́nh trạng bế tắc: các tầng lớp dân chúng trong xă hội từ bần nông, thương nhân đến sĩ phu đều bất b́nh, hoặc theo các tôn thất nhà Lê (Lê Duy Chúc, Lê Duy Quư, Lê Duy Mật), hoặc nổi lên dấy nghĩa hô hào diệt Trịnh Phù Lê, như Nguyễn Cừ ở Hải Dương (1739), Vũ Đ́nh Dung ở Sơn Nam, Nguyễn Danh Phương (Quận Hẻo) ở Tuyên Quang (1740-1750), Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) ở men bể Đồ Sơn (1743-1751), v.v…

 

Năm Giáp Tư (1744), chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) thấy thế lực miền Nam đă có cơ vững chắc, (chiếm thêm đất Long Hồ, Vĩnh Long, 1731), và trong ṿng 8 năm sau, Long Xuyên (miền Cà Mâu), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền Bạc Liêu, Bải Xàu), lại thấy sự suy bại của chúa Trịnh miền Bắc  mỗi ngày một trầm trọng, nên sau sáu năm trị v́, chúa bền xưng vương lấy hiệu là Vũ Vương, rồi phong vương cho các vị tiền bối của chúa là:

 

  1. Nguyễn Hoàng, Thái Tổ Gia Dũ (Chúa Tiên, 1558-1613).

  2. Nguyễn Phúc Nguyên, Hy Tông Hiếu Văn (Chúa Săi, 1613-1635).

  3. Nguyễn Phúc Lan, Thần Tông Hiếu Chiêu (Chúa Thượng, 1636-1648).

  4. Nguyễn Phúc Tần, Thái Tông Hiếu Triết (Chúa Hiền, 1648-1687).

  5. Nguyễn Phúc Trăn, Anh Tông Hiếu Nghĩa (Chúa Nghĩa, 1687-1691).

  6. Nguyễn Phúc Chu, Hiển Tông Hiếu Minh (Quốc Chúa, 1691-1725).

  7. Nguyễn Phúc Chú, Túc Tông Hiếu Ninh (Định Quốc Công, 1725-1738).

 

Với chí làm việc lớn, ngài sắp đạt phẩm trật cho các quan văn vơ. Quan chia làm sáu bộ, bộ về văn học gọi là Hàn Lâm. Đạo về vệ binh th́ đặt là Vơ Lâm.

 

Nước chia ra làm 12 dinh:

 

  1. Chính dinh (Phú Xuân)

  2. Cựu dinh (Ái Tử)

  3. Quảng B́nh dinh

  4. Vũ Xá dinh

  5. Bố Chính dinh

  6. Quảng Nam dinh

  7. Phú Yên dinh                >

  8. B́nh Khang dinh            > Đất thu được của nước Chiêm Thành.

  9. B́nh Thuận dinh            >

  10. Trấn Biên dinh             |

  11. Phiên Trấn dinh            | Đất thu được của nước Chân Lạp

  12. Long Hồ dinh               |

 

Dinh nào cũng đặt quan Trấn Thủ cai trị, duy có đất Hà Tiên th́ đặt làm trấn cho Mạc Thiên Tích làm quan Đô Đốc cai trị như trước.

 

Lúcnày vua Chân Lạp là Nặc Ông Tha (Sothea) nhờ Vũ Vương ủng hộ mà được làm vua ở La Bích (Lovek, 1736-1748) nhưng sau đó, Nặc Ông Thâm (Thomea), chú của Tha, thua chạu trốn sang Xiêm từ năm 1715, lại trở về đánh đuổi Nặc Ông Tha và cướp lấy ngôi (1748). Song chẳng bao lâu, Thâm mất.

 

Mấy người con của Thâm tranh ngôi nổi loạn, có người sang cầu cứu với nước ta. Vũ Vương sai Nguyễn Hữu Doăn làm Thống suất, đem binh đánh dẹp và lập Nặc Ông Tha làm vua trở lại. Được vài tháng, Tha bị con của Thâm là Nặc Nguyên (Ang-nguôn) viện binh Xiêm về đánh (1750). Tha bị thua, phải bỏ chạy sang Gia Định, cầu cứu với nước ta, nhưng việc chưa thành th́ Tha đă chết ở đấy.

 

Nặc Nguyên từ khi tranh được ngôi vua thường đem binh lấn hiếp người Côn-Man là tàn tích dân Chiêm Thành, sang trú ngụ ở Chân Lạp từ năm 1693. Mặt Bắc lại thông sứ với chúa Trịnh Doanh (1740-1767) để lập mưu đánh Vũ Vương mà giành lại đất Thủy Chân Lạp.

Chúa Nguyễn biết t́nh thế ấy, nên mùa Đông năm Qúy Dậu (1753) sai ông Thiện Chính Hầu (khuyết tên) làm Thống suất và ông Nguyễn Cư Trinh làm Tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh (5), đánh Nặc Nguyên. Quân tiến đến Ngưu Chữ (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị rất nhiều để làm kế khai cương thác địa.

 

Đến mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), ông Thiện Chính và ông Cư Trinh chia quân tiến lên. Quân ta trẩy đến đâu, giặc đều quy phục; đi qua đất Tần Lê (?), ra đến sống Lớn (có lẽ là sông Vàm Cỏ) cùng hội quân với ông Thiện Chính ở đồn Lô Yêm (?). Từ đó nhất tề tiến binh. Những phủ Lôi Lạp (Soi Rạp: G̣ Công), Tầm Bôn (Tân An), Cầu Nam (Ba Nam), Nam Vinh đều hàng cả. Quân ta chiêu phục được người Côn-Man theo về rất đông để làm thanh thế.

 

Nặc Nguyên bị mất cả thành tŕ phải chạy trốn với một ít tàn binh xuống vùng Thất Sơn, nhưng sau sợ họ Mạc và binh triều biết tin đánh úp hai mặt, lại bỏ chạy đến gần Vĩnh Long; gặp mùa nước nổi, quân ta phải ngưng đánh đuổi.

 

Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), ông Thiện Chính từ Nam Vinh rút binh về đồn Mỹ Tho, dẫn theo hơn một vạn người Côn-Man mới chiêu phục. Khi đến đất Vô-Tà-Ân (vùng Đồng Tháp Mười), bị quân của Nặc Nguyên bất th́nh ĺnh ồ ra đánh úp, chận bắt lại người Côn Man. Quân của ông Thiện Chính đi hậu tập bị mắc bụi rậm, vũng lầy, không tiếp viện kịp. Ông Cư Trinh mới đem binh của ông đến cứu được lối năm ngàn người, vừa trai vừa gái rồi đem về trú ở núi Bà Đinh (bây giờ là núi Bà Đen, Tây Ninh).

 

Triều đ́nh bắt tội ông Thiện Chính về việc để thất cơ binh và làm mất dân mới về hàng, giáng ông từ chức Thống suất xuống làm Cai đội, cho ông Trương Phúc Du vào thay thế.

Trương Phúc Du hiệp cùng Nguyễn Cư Trinh cho người Côn-Man đi tiên phong đến đánh hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.

 

Nặc Nguyên trận này thua to, binh tướng tan ră hết, cùng đường phải chạy sang Hà Tiên, khẩn thiết yêu cầu Mạc Thiên Tích, nhờ xin hộ với chúa Nguyễn, dâng đất hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp để chuộc tội và bổ vào lệ triều cống đă bỏ ba năm về trước, cùng đẻ xin cho được về nước làm vua lại.

 

Vũ Vương không cho, v́ giận Nặc Nguyên đă nhiều lần phản trắc. Ông Nguyễn Cư Trinh thấy vậy dâng sớ tâu rằng:

 

“Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua là muốn giết đứa cừ khôi, mở mang bờ cơi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đă hối quá, biết nộp đất, hiến của. Nếu không cho nó hàng th́ nó sẽ chạy trốn; mà từ Gia Định đến La Bích, đường xá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cơi, chi bằng hăy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và Trấn Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phúc (Biên Hoà), rồi mở đến phủ Lộc Dă (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ, rồi sau mới mở đất Sài-Côn. Đó là kế “tằm ăn dâu” đó.

 

“Nay từ Hưng Phúc đến Sài Côn đường đi chỉ hai ngày, mà dân cư c̣n chưa yên tập, quân giữ cũng có đứa chưa khoẻ; phương chi từ Sài Côn đến Tầm Bôn, đường đi trong sáu ngày, thú binh trú pḥng thực sự chưa đủ.

 

“Thần thấy người Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đă chột dạ. Nếu cho người Côn Man ở đấy, sai nó ngăn chống, cũng là kế hay. Vậy nên xin cho nước Chân Lạp chuộc tội, lấy hai phủ ấy, cho thần xem xét h́nh thế, đạt lũy đóng quân, cấp điền sản cho quân dân, chia địa giới, lấy châu Định Viễn để thâu cả toàn bức.”

 

Vũ Vương thấy lời tâu hữu lư nên thuận theo nhận lấy hai phủ (1756) và cho Nặc Nguyên về nước.

 

Từ đây, với kế hoạch “tàm thực”, ông Nguyễn Cư Trinh cho người Côn Man mở đất làm ruộng và người Việt lần lần lan ra nhiều nơi. Hồi này, hầu hết đất Thủy Chân Lạp đă rải rác có dấu chân người Việt, duy có đất Tầm Phong Long v́ có vị trí then chốt của Thất Sơn, dân ta chưa tiến lên được.

 

III. Mức Cuối Cùng Của Cuộc Nam Tiến Thất Sơn Mới Thu Về Đất Việt.

 

Năm Đinh Sửu (1757), Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận (Neac Ang Nhuận) làm Giám quốc xin dâng đất Trà Vang và Ba Thắc để cầu được chúa Vũ Vương phong cho làm vua. Song liền sau đó, Nặc Nhuận bị con rễ là Nặc Hinh nổi loạn giết đi mà cướp lấy ngôi vua (1758).

 

Bấy giờ con của Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên cầu cứu với Mạc Thiên Tích. Thiên Tích dâng sớ tâu bày các việc của nước Chân Lạp vừa xảy ra và đề nghị nên ủng hộ cho Nặc Tôn được về nước làm vua, kế vị cho cha. Vũ Vương bằng ḷng và sai tướng sĩ ngũ dinh tại Gia Định hợp với Thiên Tích mà lo việc ấy. Trương Phúc Du vâng lệnh đem binh đánh dẹp. Nặc Hinh thua chạy và sau bị kẻ thuộc hạ giết. Hoàng tử Nặc Non cùng một ít họ hàng nhà vua bôn đào sang Xiêm.

 

Mạc Thiên Tích đưa Nặc Tôn về nước rồi lập lên làm vua và được Vũ Vương sắc phong cho chức Phiên Vương.

 

Để đền lại cái ân rất trọng hậu của Vũ Vương, Nặc Tôn bèn dâng đất Tầm Phong Long (1759), trong ấy có cả vùng Thất Sơn quan trọng mà ngót một trăm năm (1658-1759), từ khi bắt đầu có cuộc đụng chạm với người Việt, lúc nào người Chân Lạp cũng: hoặc dùng làm nơi trú ẩn, hoạc nương vào địa thế hiểm trở mà tiến binh. Ngoài ra, Nặc Tôn c̣n cắt thêm năm phủ: Hương Úc (Kompong-Som), Cần Bột (Kampot), Sài Mạc (Cheal Meas), Chưng Rừm, Linh Quưnh (vùng duyên hải từ  Sré Ambel đến Peam) để riêng tạ ơn Thiên Tích, Mạc Thiên Tích đều đem dâng về cho Vũ Vương. Vũ Vương cho sáp nhập vào trấn Hà Tiên (6).

 

Muốn ngăn ngừa sự khuấy nhiễu của người Xiêm La và Chân Lạp, ta lại đặt ra nhiều đồn lũy để cố thủ.

Về đường bộ, miền đông và miền trung: một đạo (binh Côn-Man) đóng ở Tây Ninh và một đạo đóng ở Hồng Ngự (Châu Đốc), liên lạc nhau do đường tắt vùng biên giới (Đồng Tháp Mười, Soài Riêng) (7). Miền tây: một đạo đóng ở Tịnh Biên để án ngữ Thất Sơn và liên lạc với hai đồn binh Giang Thành và An Giang.

Về đường thủy, lập đồn ở hai bên bờ Cửu Long Giang, gần nẻo biên thùy:

 

  1. Tân Châu đạo ở Tiền Giang (quân đóng tại Cù Lao Giêng).

  2. Châu Đốc đạo ở Hậu Giang (quân đóng ở bến An Giang, liên lạc với Tịnh Biên để pḥng ngự Thất Sơn).

  3. Đông Khẩu đạo ở Sa Đéc (làm hậu thuẫn cho hai đạo tiền phong: Tân Châu và Châu Đốc).

 

Thế là trọn một thế kỷ, đất Thủy Chân Lạp hoàn toàn thuôc về nước Việt Nam ta, và dăy Thất Sơn trùng điệp hiên ngang nằm dọc sau sông Cửu Long kia đến mức sau cùng của cuộc Nam tiến mới “chịu” nhập vào với lũy tre xanh ngàn đời, để tô đấp thêm cho giang sơn thanh tú của con Hồng cháu Lạc.

 

IV. Thất Sơn Với Con Mắt Nhà Địa Lư của Họ Mạc.

 

Theo như nhiều người đă biết, cái ếm ở Bài Bài, thuộc làng Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên (Châu Đốc) do ông Phạm Thái Chung, tục gọi ông Đạo Lập -một đệ tử được phép chơn truyền của Đức Phật Thầy Tây An- khám phá ra được ở quanh miền rừng núi linh thiêng này từ xưa, nhưng ít ai để ư xem tại sao mà có, hoặc do ai làm ra với mục đích ǵ!

 

Căn cứ vào những chữ c̣n sót lại trên mặt cái ếm này mà xét (v́ tấm đá đă bị ṃn chữ đi nhiều): Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán, 皇 清 乾 隆 五 七 年 仲 秋 穀旦th́ biết được cái ếm này chôn vào mùa thu, tháng 8, năm Càn Long nhà Thanh thứ 57, tức là năm 1792 dương lịch. Lúc này chính là lúc con cháu Mạc Cửu c̣n trọng nhậm tại Hà Tiên (Mạc Tử sanh, Mạc Tử Thiêm). Trừ bọn họ ra, vùng này thuở đó không c̣n có đám người Minh Hương nào khác nữa. Như thế, ta có thể nói cái ếm này của bọn họ Mạc, với con mắt nhà địa lư, hoặc v́ thấy vượng khí của vùng sơn lănh linh thiêng, hoặc bởi biết có long huyệt, sợ đất Việt sẽ phát sanh thánh chúa sau này nên họ đă ếm trấn ngay từ sau khi cuộc Nam tiến của nước ta được hoàn thành (8).

 

tại sao họ Mạc đă xin làm dân Việt, đă làm quan cho nước ta mà c̣n sợ vượng khí của non sông anh tú? Điều đó rất dễ hiểu. Xem hai câu thơ thúc kết trong bài “Lư Khê Nhàn Điếu” của Mạc Thiên Tích:

 

Hải thượng tà đầu thời độc tiếu,

Di dân thiên ngoại nhất ngư ông (9).

 

Ta cũng đủ biết cái chí khí của họ Mạc bao giờ cũng nuôi mộng bá vương, chờ cơ vùng vẫy. Hơn nữa, “Mạc Thị Sử” c̣n cho ta biết thêm rằng từ khi chúa Vũ Vương lên ngôi (1744) th́ sự chia dinh định phủ được sắp đặt như thế này: Từ Phú Xuân đến B́nh Thuận là 9 dinh; c̣n phần đất mới lấy được của Chân Lạp th́ từ Trấn Biên đến Long Hồ là 3 dinh. Duy đất Hà Tiên vẫn để y làm trấn, họ Mạc được ba năm một lần triều cống như lệ của nước chư hầu. Như thế, tuy chưa được cái danh nghĩa cô quả, chứ thực đă có cái tư cách bá vương. Lại như nay tại Hà Tiên, trên B́nh San c̣n có nền tế sơn xuyên, nền tế xă tắc, th́ đủ biết họ Mạc bị thúc đẩy đến chỗ không muốn cho Việt Nam có Minh quân Thánh chúa ra đời tại vùng Thất Sơn (điều mà chúng ta cho là việc dĩ nhiên, không chi làm lạ).

 

Hơn nữa, là sau ngày xuống cái ếm này lối 60 năm, vào khoảng 1849-1856, Đức Phật Thầy Tây An đă cho Đức Cố Quản Thành trồng bốn cây thẻ quanh vùng Thất Sơn. Ư chừng Ngài đă biết rơ sự trấn ếm của họ Mạc nên cắm thẻ để trấn áp cho ếm mất thiêng đi, hoặc v́ sự che chở cho anh linh vượng khí hay long huyệt của nước Việ ta mà Ngài có phận sự phải làm! Hiện giờ, ếm c̣n thấy một cây (10) và thẻ chỉ c̣n một vài di tích (nay được cất dinh thờ ở Láng Linh (Châu Đốc) và người đời gọi là dinh ông Thẻ). Âu cũng là một dấu tích kỳ bí, để cho người đời c̣n có thể phăng ra nguồn gốc vậy.

 

Chú Thích:

 

(1)         Sài Côn, chữ Cao Miên là Prei-Kor (rừng bông gạo). Khi người Việt vào ở  th́ người Cao Miên gọi là  Preinokor (rừng kinh đô). Do Sài Côn mà có tên Sài G̣n ngày nay.

(2)         Việt Nam Sử Lược chép là năm Mậu Tư (1708) nhưng xét theo Mạc Thị Sử (Nam Phong số 143, 1929) th́ năm 1714 có phần đúng hơn.

(3)         Mạc Cửu không thần phục nhà Thanh, trốn sang đất Cao Miên và đến mở đất Mang Khảm trước năm 1674, đến năm 1714 mới thần phục nước ta.

(4)         Hai chữ tên trấn Hà Tiên tương truyền là nhân một đêm thanh vắng, người ta thấy trên sông ở đấy (tức Đông Hồ và cưả thông ra biển Kim Dữ bây giờ) có các vị tiên lữ hiện xuống chơi, bày ra cuộc du hồ, nên mới đặt là Hà Tiên, lấy nghĩa là sông có tiên hiện xuống chơi.

(5)         Thiện Chính Hầu thống lĩnh binh quyền hiệp cùng Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh làm Tham mưu điều khiển 5 dinh là B́nh Khang, B́nh Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, đồn binh tại Bến Nghé (theo sách Gia Định Thông Chí).

(6)         Năm phủ này đến đời vua Tự Đức, năm 1848, đă giao trả lại cho nước Cao Miên.

(7)         Hiện giờ c̣n có rất nhiều di tích người Chàm ở Hồng Ngự và Tây Ninh là do cuộc đồn binh này hồi xưa mà ta đă dùng người Côn Man đóng ở đó.

(8)         Sự trấn ếm và muốn đè nén không cho dân Việt có được Thánh nhân ra đời đối với người Tàu là thường. Xem như ngày xưa, tương truyền có Rồng ở lưu vực Hồng Hà, thời Hồng Thủy. Nó theo dơi đường nam tiến để yểm trợ dân Việt. Thầy địa lư của Tàu là Cao Biền đă theo dấu đến xứ Việt Nam, định trấn ếm và giết cho hết, không để cho nó hun đúc tinh thần dân tộc Việt. Nào dè Rồng thiêng đă ẩn ḿnh kịp xuống tại Vịnh Hạ Long.

(9)         Dịch nghĩa:

Trên biển riêng cười cơn xế bóng –

Đem dân ngoài cơi một ngư ông.

(10)     Trường hợp như cây ếm trên đây không phải là một. Tương truyền rằng Đức Bổn Sư c̣n lấy được ở núi Nước một cái ếm khác, trên ếm có trồng ba cây đa để che lấp đi. Khi Đức Bổn Sư phá được ếm ấy th́ những người Tàu ở Hà Tiên rất oán ghét Ngài. Họ mướn người theo dơi để ám hại.

(C̣n Tiếp)

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/13/07