Ngày Xuân nói chuyện chơi chữ

Du Lam

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.


Ngày trước, không có Tivi, chẳng có nhạc Hip-hop, mỗi gia đ́nh thường thường bậc trung có bộ phản vuông được trịnh trọng kê giữa nhà, dù nó choán chỗ ghê gớm nhưng chính sự choán chỗ ấy là cái sự "chănh” của gia chủ. Nó cho thấy gia chủ là người biết chơi, có nhà năm gian, hay chí ít cũng tam gian tứ vị và cũng là người lịch lăm hay có chút chữ, hoặc biết trọng cái chuyện chữ nghĩa. Thường khi nhà có giỗ chạp, hay lúc trà dư tữu hậu các cụ khăn đen áo dài ngồi tứ trụ, giữa là bộ kỹ trà hoặc mâm rượu thịt. Và không dễ ǵ chuyện đám tiệc lại ít người, nhưng chỉ có 4 cụ được ngồi ở đó gọi là chiếu giữa, c̣n lại th́ chỉ dám mon men, xớ rớ gần đó để nghe, hay để châm thêm mồi, rượu hoặc thay ấm trà.

Thế mới biết ngày xưa, người Việt Nam ít có cơ hội để học hành, cho dù ngày ấy, các cụ đồ không thu học phí mà chỉ dạy cho xóm giềng hay bà con và thù lao th́ tùy hỉ, kẻ con gà trống, người mớ gạo nếp, có kẻ lại con cá khô, gọi là trả công thầy.Thế mà người ta lại hay chữ tới mức dùng chữ nghĩa để mà chơi. Ấy là cái chuyện CHƠI CHỮ. Những câu đối của một thời c̣n lưu truyền trong sách vở chính thống, hay cả trong truyền miệng dân gian quả là một kho tàng văn chương của tiền nhân, đáng để chúng ta trân trọng lắm thay.

Tôi vốn sinh ra trong một gia đ́nh nhà Nho, cả hai bên nội ngoại, bên cạnh chuyện chữ nghĩa th́ các cụ nhà tôi sống chính bằng nghề làm thầy (cũng dính tới chuyện Nho nhe) là thầy thuốc Bắc và thầy địa lư. Tuổi thơ tôi quá nhiều những bữa hầu hạ cho các vị nên c̣n nhớ như một thứ kư ức khó quên. Cái bộ phản bằng gỗ Mít và bốn cây cột nhà cho tới bây giờ c̣n in hằn dấu ngồi và dấu tựa lưng của những người đă khuất lâu rồi. Cứ mỗi lần nhà Ngoại tôi có việc, là y rằng lại có bốn người ngồi từ rất sớm, chuyện cúng kính không làm bận ḷng, mà các cụ cứ bộ ḷng, chai rượu ngồi bàn chuyện chữ nghĩa.

Ngày đó cũng không có cái máy chém (quạt trần) hay cái quạt xoay rồi gió đâu chạy theo đó cho mát. Nhóc con như tôi cầm cái quạt bồi bằng giấy dó, chạy quanh quạt hầu, nhờ như vậy mà tôi nghe chút chút, và đâm ghiền. Nhưng dù là hủ nho, đồng nghĩa với phong kiến, tôi vẫn nh́n nhận rằng các cụ rất dân chủ và văn minh. Dân chủ thế nào? Bốn vị ngồi phản vuông chiếu giữa không phải là già nhất ở đó, có nghĩa không phải sống lâu lên lăo làng như cái xă hội tôi đang sống trong thế kỷ 21 hôm nay, mà là các vị có tài, tài ở đây là hay chữ. Bằng chứng có một số cụ già hơn, râu tóc bạc phơ, nhưng có mời cũng không dám ngồi, kể cả vai vế trong gia tộc có lớn hơn cũng ngồi chiếu bên. Chỉ v́ yếu cái Chữ. Quả là chốn trọng dụng nhân tài! C̣n văn minh là trong câu chuyện, có khi chữ dùng đụng chạm tới nỗi đau của ai đó, hay phạm tên, phạm húy, nhưng mà hay th́ vẫn vui vẻ, xuê xoa, khi xong tiệc ra về không ai cay cú với ai tới mức t́m cách rửa hờn, chứ nói chi tới móc c̣ng số tám ra mà dọa. Quả học lùi lại cái sự dân chủ, văn minh của các cụ c̣n lâu chán!

Có một lần, tôi nghe ngoại tôi kể lại một câu chuyện thật hoàn toàn. Trong làng có một bà cũng đă góa già, làm mới một cái khóm thờ, nhưng không biết chữ ǵ ghi chính giữa cho hay và trịnh trọng, ư nghĩa. Nhân có ông thầy đi qua, bà mời vào xin chữ. Nễ t́nh, ông thầy cho hai chữ Bách Ḥa, trăm sự ḥa thuận, nghe ra th́ quá ư là hay, bà đem giấy hồng đơn, mài giùm thỏi mực nhờ thầy viết luôn cho tiện. Lại một hôm khác, ngoại tôi đi ngang nhà, chỗ bà con nên bà nhờ ngoại tôi xem giúp thầy viết chữ ǵ? Ngoại tôi đọc và hỏi bà có biết chữ ǵ đây không? Đây là hai chữ Bách Ḥa, chỗ nầy thờ Bách Ḥa, là thờ Bà Hoách, là thờ bà đó (bà ta tên Hoách). Khi đó bà chủ nhà té ngữa mà không giận được c̣n ph́ cười, bà c̣n sống mà đă thờ hóa ông thầy chơi… ngạo.

Những câu chuyện tương tự trong tàng thư cổ Việt Nam th́ không thiếu, cả chuyện quốc gia đại sự, cho tới chuyện gái trai chọc ghẹo nhau (ngày nay gọi là tán tỉnh) chuyện ra các vế đối với nhau không chỉ là văn chương bác học của những vị đỗ đạt hay chữ nghĩa cùng ḿnh, Hán rộng tới mang tai, mà người b́nh dân cũng thường dùng với nhau mỗi khi có dịp, để hiểu được tinh thần và bản sắc người Việt.

Thời xưa, chuyện quốc sự của Việt Nam thường chỉ dính với Tàu. Họ ỷ mạnh rồi xâm lược và muốn đồng hóa dân tộc Việt. Tuy nhiên cũng phải nh́n nhận, quân Tàu xâm lược thuở ấy c̣n liêm sỉ và hiểu biết gấp bao nhiêu lần hơn các vị hiện nay, nhổ ra rồi liếm lại, hay chưa nói đă nuốt lời, giữa đôi bên, chiến tranh thúc ép, nhưng nhận một câu đối hay, dù cay cú, cũng tôn trọng nhau mà ḥa giải hoặc rút quân, thế mới biết, lời nói quan trọng nên có câu: Quân tử nhất ngôn, tứ mă nan truy,chứ không phải câu: Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn. Nói thích sự thật, chuộng sự thật, mà tay chỉ làm sự giả, hay xúi tả hữu làm sự lưu manh, người xưa không có.

Sử chép lại rằng, có ông Mạc Đĩnh Chi, đi sứ sang Tàu,trời mưa gió ông trễ mấy ngày mới tới Ải Nam quan, người Tàu đóng cổng không cho qua và ra câu đối, nếu đối được th́ sẽ mở. Ra đối rằng:

Quá quan trị, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.
Nghĩa là: Qua ải chậm, cửa ải đóng, mời quá khách qua ải.

Ông đối lại rằng:

Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối..
Nghĩa là: Ra đối dễ, đối lại khó, xin tiên sinh đối trước.

Đó chỉ là một ví dụ chuyện câu đối,và hiệu quả của nó với những người có học, và biết trân quí giá trị của sự học, nhưng thường những câu đối chính thống lại không hay, hoặc dí dỏm như tinh thần trào phúng của người Việt, những người sống trong một đất nước, một môi trường bị đô hộ của người Tàu. Nhờ tính trào phúng lạc quan độc đáo mà trường tồn. Nói tới câu đối, không thể không nhắc tới bà Đoàn Thị Điểm, một phụ nữ tài hoa, mà nhiều phen ngạo như Trạng Quỳnh c̣n bó tay.Có lần bà Điểm đang tắm, trạng Quỳnh biết nhưng cố ghẹo, đ̣i vào cho bằng được, bà th́ giăy năy kiên quyết và bà bèn ra điều kiện là nếu đối được th́ cho vào, câu ấy như sau:

Da trắng vỗ b́ bạch

Khi vỗ vào da th́ có tiếng b́ bạch, mà hai chữ da trắng của tiếng Việt là chữ b́ bạch của chữ Hán, Quỳnh ngọng không đối được đành tiu nghỉu rút êm. Nguyên trạng Quỳnh ở nhà cụ Bảng là thân phụ bà Điểm, nên có lần hai người cùng ngồi trong nhà cách nhau bức vách, trông ra sân từ hai của sổ, bà đọc ngay cho Quỳnh một câu mà Quỳnh đành chịu:

Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song.

Quả ngày xưa nhiều chuyện thi vị qua cái kiểu chơi chữ, c̣n ngày nay cũng tương tự th́ có bài hát rằng: ”…ước ǵ nhà ḿnh chung vách, hai đứa ḿnh khoét vách chui sang…”

Một lần khác Quỳnh lên Phố Mía thuộc Sơn tây chơi về, gặp bà Điểm liền ra câu đối:

“Lên phố mía, gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo lại hỏi thăm đường.

Thật quá tài t́nh nên trạng đành ngậm miệng, theo người viết không chừng thuở ấy hai người cũng thầm cảm nhau lắm, nhưng v́ khúc mắc thế nào nên anh chị hay dùng câu chữ mà nhắc hay trách khéo nhau không chừng. Bởi khi Quỳnh đang bí th́ bà Điểm lại bồi tiếp hai câu làm cho Quỳnh c̣n biết xin hàng mà thôi:

“Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, gị đến hàng nem, chả muốn ăn.

Chữ gị ở đây thật lắm nghĩa, gị là chân (cặp gị) cả là ḍ (t́m đường) mà lại là gị chả, một món ăn của người Việt, cố đánh cho anh chàng gục luôn tại trận bà tiếp:

“Bà nứa đi vơng tre, đến khóm trúc thở dài hi hóp.

Không chừng chính anh Quỳnh ḍ dè bà Điểm, nhưng v́ sở học và linh lợi c̣n kém bà nên bị bà cho de chăng? Để rồi nghe đồn sau đó, anh Quỳnh mớm cho anh chàng nào đó một câu làm bà Điểm thua mà chịu lấy làm chồng. Nhưng giai thoại về bà Điểm không chỉ chuyện sau tấm phên với anh Quỳnh, mà có lần bà được Vua cho giả làm cô lái đ̣ đưa sứ Tàu sang sông, t́nh cờ sứ Tàu xả hơi (đánh rắm) vừa ngựơng với cô lái, anh ta ra đối: Sấm dậy Nam bang (sấm làm dậy cả xứ Nam, ư là Việt Nam thời bấy giờ). Không chịu thua, bà Điểm ra mạn thuyền, phạch…(không rơ thời ấy bà mặc cái ǵ, quần hay là cái một ống đi kèm áo tứ thân) ra đái xè xuống nước sông rồi đọc: ”Vũ tuông Bắc quốc” có nghĩa cả đối ư và đối chữ cùng với chơi cho biết tay, sấm mà dậy Nam bang th́ mưa tuôn bên xứ Bắc (ư chỉ nước Tàu, phía Bắc nước Việt). Lần khác cũng bà Điểm, cũng sứ Tàu, lần nầy bà đóng vai cô hàng nước, sứ đi qua hàng trêu ghẹo:

An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh.

Nghĩa là: Xứ An nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày.

Bà đối lại rằng:

Bắc quốc đại trượng phu, giai do thử đồ xuất.

Nghĩa là: Các trượng phu xứ Bắc, cũng từ chỗ đó mà ra cả.Quả là đau hơn hoạn!

Chuyện nhắc tới bà Điểm mà chỉ một chiều nói anh Quỳnh thua th́ không phải phép, anh Quỳnh t́m cách đến với bà là hai năm rơ mười, nhưng v́ than thế hai bên chệnh lệch, bà là con cụ Bảng, danh giá, cụ từng hạnh họe anh Quỳnh khi đứng trước ngơ nhà cụ trông vào, hạch anh cho chừa cái tật ngấp nghé cô Điểm.

Thằng quỉ ôm cái đấu, đứng cửa khôi nguyên.

Quỳnh ứng khẩu đọc luôn:

Con mộc dựa cây bàng, ḍm nhà bảng nhăn.

Khôi nguyên là người đỗ đầu, nhưng chữ Khôi tách ra th́ một bên có chữ quỉ, một bên có chữ đẩu (đẩu là cái đấu) trong câu có ba chữ quỉ, đấu, khôi vào một chữ "khôi".

Bảng nhăn, là đỗ dưới trạng nguyên, chữ bảngtách ra một bên có chữ mộc, một bên có chữ bàng, trong câu của Quỳnh có đủ ba chữ mộc, bang, bảng vào một chữ "bảng".

Chẳng nghe ai nói v́ sao biết thóp như vậy mà anh Quỳnh lại được vào ở nhà cô Điểm là chuyện lạ. Cái thời mà "nam nữ thụ thụ bất thân" ấy mà cụ Bảng không run cho anh ta tá túc, dù biết đem mỡ để miệng mèo th́ cũng lạ lắm. V́ anh Quỳnh không chỉ thua mà cũng có lần thắng, và cũng táo tợn không kém thời nay.

Có một lần tối trời, Quỳnh lẻn vào pḥng riêng cô Điểm, chui vào màn nằm trước dựng ”cột buồm” lên. Cô Điểm vào vô t́nh ”sờ” phải, biết Quỳnh nghịch mới ra một câu đối :

Trướng nội, vô phong phàm tự lập. (Trong màn không gió mà dựng buồm). Quỳnh liền đối lại rằng:

Hung trung, bất vũ thủy trường lưu (Trong bụng không mưa mà nước chảy xiết).Cô Điểm lại đọc luôn câu khác:

Cây xương rồng, giồng(rồng) đất rắn, long vẫn hoàn long.

Th́ Quỳnh lại đáp:

Quả dưa chuột, chuột thẳng gang, thử chơi th́ thử.

Ha ha ha…quả là cao thủ kỳ phùng.

Chuyện trào phúng văn chương mà không ghé thăm Hồ Xuân Hương hay cụ Tú Xương là một khuyết điểm của bất cứ ai nhắc tới chuyện văn học Việt Nam. Trong chuyện Chơi chữ hai vị cũng không chịu kém ai. Ta thử lướt qua hai vị nầy trứơc khi tới với một số những câu đối độc đáo khác.

Thuở trước Chiêu Hổ có quen biết với Xuân Hương, do ông đi làm quan lâu ngày, bà gửi thư cho ông. Ông Hổ đáp lại có hai câu:

Nay đă mần cha thằng xích tử
Rầy th́ đù mẹ cái hồng nhan .


Nhận thư bà tức quá viết lại gửi cho ông Hổ như sau:

Mặc áo giáp, dải cài chữ đinh, mậu, kỷ, canh khoe ḿnh rằng quí.

Ông Hổ cũng chẳng vừa, đối lại bà:

Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm, tốn, ly, đoài khéo nói rằng khôn.

Quả kẻ tám lạng người nửa cân, bên lấy thập nhị chi làm đối, bên lại lấy tám phương trong Chu dịch làm vế đối. Cũng tiếp chuyện Chiêu Hổ và Xuân Hương, có lần ông tới chơi, chờ măi nhà trên, sốt ruột ông đi xuống, qua sân th́ vướng áo quần bà phơi, khi giáp mặt bà ra câu đối:

Tán vàng, tán tía, che đầu nhau khi nắng cực.

Th́ Chiêu Hổ đối lại rằng:

Thuyền rồng, mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo.

Ngày xuân, bà c̣n viết câu đối tết dán trước nhà, câu đối tết như sau:

Tối ba mươi, khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỉ tới.
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ bế xuân vào.

C̣n cụ Tú làng Vị xuyên th́ sao? Nàng Xuân Hương là phụ nữ, ở không cũng nhiều v́ nàng có chút chữ nghĩa, nên chẳng chịu bằng ḷng ai, và ai cũng sợ nên bài thơ câu đối có phần thanh, tục. Cụ Tú th́ lại thiếu cái món khoa bảng mà không phải là người dở, nhà th́ nghèo, vợ con đùm đề mà thích chơi ngông, câu dán tết của cụ rằng:

Thiên hạ xác rồi c̣n đốt pháo
Nhân t́nh bạc thế lại bôi vôi.


Hay để giúp cho cô bán cau, góa chồng mà c̣n trẻ đẹp:

Thiếp v́ ḷng trắng không thay hạt
Khách muốn môi son phải mượn màu.


Trong cuộc sống xă hội có muôn vàn sự việc,mà cần phải dùng tới câu đối, v́ đó là truyền thống dân tộc, cả những người không hề biết chữ, khi có việc cũng cố xin đôi câu đối, để ghi nơi đ́nh chùa, miếu mạo. Câu chuyện sau đây là một ví dụ. Có một chiếc thuyền đánh cá xứ Quảng nam bị băo, chết mất mười người đàn ông, bỏ lại mười người vợ, tất cả mới chung nhau làm một miếu thờ chồng chung, khi khánh thành, nhờ cụ Trần Quí Cáp, người Quảng nam, có tham gia phong trào Duy Tân xin đôi câu đối, cụ phóng bút viết rằng:

Chích bóng gương loan, một thảm, một sầu, mười bực tức.
Gẫy con chèo quế, ba ch́m, bảy nỗi, chín lênh đênh.


Thật là tài t́nh và ư nghĩa, vế trên tả đầy đủ nỗi khổ đau của mười góa phụ, mất chồng. Vế dưới tả đủ sự bất hạnh của những người ngư dân, nhất là chết nước, v́ chết nước thường dân gian hay có câu ba ch́m bảy nỗi chín lênh đênh là vậy.

Bên cạnh những hàng tên tuổi và có tính văn chương bác học, th́ câu đối cũng là một phương tiện cho giới b́nh dân, khuyết danh, người Việt chúng ta thích thơ phú ḥ vè, hẳn câu đối cũng là một cách tế nhị trong đời sống mọi mặt của xă hội.

Ngày trước có lần trùng tu đền Cổ loa, có người ra câu dối rằng:

Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim ḷng đă Trọng

Kiều vừa là tên riêng nhân vật của Nguyễn Du, lại là chiếc cầu, Kim Trong là tên của người yêu nàng Kiều, mà khi tách ra để hai nơi lại có nghĩa khác, câu nầy không có người đối, cho tới măi sau, có một người lữ khách đi ngang, thấy câu đối c̣n bỏ trống, người ấy mới đối lại một câu rằng:

Trọng Thủy nḥm vào nước, thoáng nh́n nàng Mỵ mắt rơi Châu.

Câu đối rất chỉnh, cả một điển tích và một mối t́nh như câu trên, cũng đối cả chữ từng vị trí trong vế đối.

Người Việt, thường rảnh rỗi ba ngày tết, dù ngày xưa, dân ta cũng nghèo, nhưng v́ truyền thống có câu, có đói cũng ngày tết, có hết cũng ngày mùa, nên ngày tết thường đi chúc tết, thăm viếng nhau, chén trà, chung rượu ngồi hàn huyên sinh ra đối, một vài câu đối khuyết danh, không chỉnh lắm, nhưng cũng nói ra rằng chuyện chơi chữ không chỉ giới hay chữ:

Tết có ǵ, cũng viết loài viết soài, cũng chữ hoài, dửng với họ ra điều học hiệc

Xuân th́ chơi, nào câu đối câu điếc, nào pháo nào phiếc, chán cho đời cái sự Tết tung

Hay như một cái nghề nghiệp người ta cũng mựơn ra làm chuyện đối với nhau, dường như giai đoạn văn học ấy nước Nam thịnh chuyện đối chữ, hăy xem bà thợ Nhuộm khóc chồng, mà tôi nghĩ rằng đây là một người khác thấy bà thợ nhuộm khóc chồng nên tức đối:

Thiếp kể từ lá thắm se duyên, khi vận tía lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ.
Chàng ở dưới suối vàng có biết, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh.


Quả là tài t́nh hết chỗ, thiếp đối với chàng, c̣n lại toàn là màu với màu của nhà thợ nhuộm, e rằng thời buổi bây giờ, chữ nghĩa cùng ḿnh, máy móc xử lư thông minh không dễ mấy ai dễ mà ra vế đối hay như vậy. Cả chuyện một đám dốt, mà vô t́nh cũng được câu đối hay. Đó cũng là chuyện ngày tết, có năm tên hương lư đi tết quan, tính toán măi không biết làm sao cho tiện, và lợi, bèn xúm nhau bàn rằng, một người đi th́ tốn quá nhiều, chi bằng năm người chung lại mà tết quan, nhưng tốn th́ phải t́m cách gỡ gạt nên hẹn nhau đi vào buổi trưa, thế nào quan cũng phải mời cơm, có rượu, có thịt, th́ cũng đỡ bữa. Trưa hôm đó, lũ hương lư tới nhà quan như dự tính. Bao năm làm quan, quản lư bọn cấp dưới nầy quan cũng nhăo nhoẹt rồi, nhưng phải bấm bụng chơi khăm chúng một mẻ. Quan lấy thực tế trên ra liền vế đối:

Bay sống văn lợi giấy.

Nghe câu đối th́ thấy quan cũng chẳng giỏi ǵ, chỉ là nói thực rằng lũ bây mà sống viết văn cũng lợi giấy, ư chỉ là quá hà tiện. Quan mà đă vậy th́ hương, lư của quan lại giỏi ǵ? Chúng hoảng hốt bèn tính rằng, đă đi chung th́ đối cũng chung, mỗi tên một chữ:

Tên đầu tiên chữ Bay th́ đối chữ Tung (tung bay) tên kế tiếp th́ Sống đối với Chết (sống chết) tên thứ ba th́ Văn đối với Điển (văn điển, điển văn chương chứ không phải nghĩa trang Văn điển ngoài Hà Nội) tên thứ tư th́ đối Lợi với Tốn (ư nói lợi với hao tốn) tên thứ năm lấy Giấy đối với Tờ (tờ giấy) khi ghép lại th́ câu đối như sau:

Bay sống văn lợi giấy

Đối lại là: Tung chết điển tốn tờ.

Quá tuyệt, khi lái lại là: Tết chung đỡ tốn tiền, quan đành mời ăn trưa và hết sách.

C̣n khá nhiều câu đối rất hay, có những câu chưa có người đối đặng. Có cô gái thấy người con trai chọc ghẹo ḿnh cũng ra câu đối, dù chỉ là chuyện dân dă mà thôi, như câu:

Con cá đối nằm trong cối đá.

Anh chàng không vừa vẹn ǵ đối lại rằng:

Chim vàng lông đậu ở vồng lan

Có một câu đối thật tuyệt vời mà cho tới nay, chuyện câu đối chỉ c̣n rải rác, mà tôi chưa thấy ai đối được, đó là:

Hai cha con thầy thuốc về quê, gánh một mớ hồi hương, phụ tử.

Đây là câu đối toàn chữ quốc ngữ, mà lại là chữ Hán, v́ đoạn đầu, hai cha con thầy thuốc về quê, gánh một mớ. Toàn là quốc ngữ, c̣n hai từ kép phía sau là tên hai vị thuốc Bắc, nh́n qua th́ là hai cha con ông thầy thuốc về quê gánh hai vị thuốc với tên đó. Ngặt nỗi tên hai vị thuốc ấy lại dịch theo chữ Hán là cha con (phụ tử) và về quê(hồi hương) có lẽ bao đời chưa có người đối được, câu nầy chỉ một ḿnh đi vào văn học sử mà không có ứng đối.

C̣n nhiều và nhiều lắm, mà trong giới hạn bài báo không thể viết hết, ngày xuân, giải khuây một chút để ôn cố tri tân mà hiểu rằng cha ông chúng ta, cái chữ dù trước là học của Tàu, nhưng cái nghĩa th́ không chịu thua kém họ mà c̣n có khi hơn, thế mới biết, không chỉ trong đánh giặc chống ngoại xâm phương Bắc mới là truyền thống lẫy lừng của dân tộc. Mà trong văn chương, bao phen, bao Trạng của nước Việt đă làm giặc Tàu cũng khiếp không kém bày binh bố trận. Ôn cố tri tân mới tiếc rằng hào khí dân tộc bị nhạt nḥa, bị khiếp nhược, mà làm người dân thấy vừa tủi nhục vừa hờn căm, với giai đoạn lịch sử tăm tối của dân tộc, thất buồn thay cũng kiếp một con người, mà ai vinh, ai nhục, lịch sử có công minh hay bị bóp méo v́ một âm mưu tiểu nhơn.

Viết tới đây, nh́n cái đồng hồ Tây của vợ chồng Nghị Quế thấy đă hai giờ sáng, vươn vai nh́n vào giường thấy bà vợ già nằm ngủ ngáy kḥ kḥ, nhớ lại rằng c̣n sót một câu thời ông Tây sang đô hộ Việt Nam, dù buồn ngủ cũng ráng viết ra cho trót. Đó là:

Tám giờ, xe lửa huưt
Hai cẳng, nằm ngay đơ


Đó là bà vợ tôi đang ngủ, Tám là số tám, c̣i xe lửa huưt, cũng là số tám theo tiếng Tây, huưt là tám. Hai là số hai, hai cẳng, ngủ th́ nắm ngay đơ lại trùng với chữ đơ tiếng Tây là số hai. Xin cảm ơn bạn đọc và ṭa soạn, tôi cũng hai cẳng nằm ngay ĐƠ đây.

Ngày xuân Đinh Hợi
 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/14/07