Nguyễn-Phú-Long

 

 

          Trước đây, Ông E. Vayrac một văn sỹ, làm giám đốc trường Hậu-Bổ, chuyên đào tạo những người cộng tác với chính quyền Pháp như thông ngôn, tri phủ, tri huyện… đă phát biểu về nền văn học Việt-Nam như sau:

          "Cái chương tŕnh người An-Nam nên theo có thể thu gọn trong ba câu: Nghiên cứu cái văn hóa của Âu Châu, nghiên cứu cái văn hóa cổ điển của Tầu và đừng bỏ phần quốc túy riêng của ḿnh."

          Lời phát biểu này đă được T. C. dịch và phổ biến trên báo Nam Phong số 140 tháng 7 năm 1929, nghĩa là cũng đă từ lâu lắm rồi!

          Về câu thứ ba " Đừng bỏ phần quốc túy..." chúng ta phải cẩn trọng mà thu thập lấy các kho báu của tổ tiên để lại, không những văn chương thành sách hay văn chương truyền khẩu mà cả những phong tục, những tập quán...nói tóm tắt là hết thẩy cái ǵ do hồn chung của đất nước tự nhiên sản xuất ra và đă qua đời ấy sang đời khác gồm cả sự sinh hoạt của dân tộc về đường trí thức tinh thần.

                                               x

                                             x   x

          Cùng quan niệm như thế, hôm nay chúng ta thử đề cập, nhắc nhở sơ qua về lối Hát Cô Đầu Việt-Nam, một lối chơi phong lưu tao nhă...có từ thời nhà Lư trải dài qua các thời đại, hơn một ngàn năm, đến bây giờ...lối chơi ấy không chỉ là giải trí, nó liên quan đến lễ nhạc, xâm nhập vào nền văn học Việt-Nam tạo nên những áng văn chương tuyệt bút c̣n lưu lại măi măi về sau. Cũng v́ hát cô đầu hoàn toàn không phải là giải trí nên các cụ ta xưa đă trân trọng gọi là Ca Trù và trước  hết xin mạn phép t́m hiểu xem ca trù là ǵ ? CA là xướng lên những âm thanh trầm bổng ngắn dài theo luật lệ âm nhạc đă định trước, không phải lời nói thường. C̣n TRÙ có rất nhiều nghĩa, theo từ điển Hán Việt của Thiền-Chửu, trù có nghĩa là cái bếp, cái ḥm chứa, cái màn... đi cùng một chữ khác nó lại có nghĩa khác: trù trừ là do dự, trù trướng là buồn bă như trong câu thơ của Tào-Đường :

                   Trù trướng khê đầu ṭng thử biệt

                   Bích sơn minh nguyệt chiếu sương đài.

          Chữ trù (    ) trong ca trù hơi khác những chữ trù trên đây. Nơi trên chữ trù này có thêm chữ TRÚC và xin hiểu đó là cái thẻ.

         Theo sách Ca Trù Bị Khảo của Vũ-Ngọc-Phác th́ hát ở cửa đ́nh ngày xưa có lệ hát thẻ. Thẻ gọi là trù làm bằng mảnh tre ghi chữ, đánh dấu dùng để thưởng ả đào thay cho tiền mặt.

          Khi hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng một bên đánh trống. Chỗ nào ả đào hát hay, bên trống thưởng một tiếng gơ vào đai gỗ :”cắc!” bên chiêng họa theo một tiếng “boong!”..ngân nga như nhận lệnh rồi thưởng luôn cho một cái trù. Sáng hôm sau đào kép cứ theo trù thưởng mà tính tiền với làng.

          Đây là lối hát ở cửa đ́nh, là lối hát thờ thần, thường tổ chức vào các dịp hội hè lễ tết, ả đào phải nghiêm nghị, hát đúng cách. Ở cửa đ́nh người ta thường hát những bài có nội dung về sử kư, kinh sách, hay sự tích danh nhân. Ngoài ra c̣n hai lối hát nữa đó là hát thi và hát chơi.

          Hát thi mục đích để khảo sát tài năng. Ả đào dự thi dù thích hay là không, dù sở trường hay không cũng phải trải qua đủ các thể loại như bắc phản, mưỡu, hát nói, gửi thư...y như học tṛ đi thi ngày nay phải tranh đua đủ các môn : Sử kư, địa lư vạn vật toán lư hóa...để ban giám khảo căn cứ vào đó phần lớn mà quyết định hơn thua cao thấp.

          Họ phải trải qua nhiều ṿng loại, thoạt tiên là Văn, rồi đến Chầu thi, rồi Chầu cầm cuối cùng là thi kỳ phúc khảo mới được tuyên bố xếp hạng. Những người trúng tuyển đều có phần thưởng bằng tiền, nhiễu điều, trà Tầu và đều được dự yến rất thịnh soạn gồm đủ các thức gị, nem, ninh, mọc, lại có hai chim câu hầm gọi là sơn hào, một con cua bể và một con cá trắm gọi là hải vị có bánh chưng, bánh dầy, bánh đồ đường…và vinh dự thay, khi dự yến lại có bát âm ḥa nhạc…

          Lối hát thi ít không khí thân t́nh nhưng nó gây hồi hộp, sôi động bàn căi, chủ quan, hănh diện tạo thích thú hào hứng cho đám đông, tất cả mọi người.        

          Tiếp đến một lối hát không quan trọng, rất hấp dẫn, rất thoải mái thường tổ chức tại các tư gia hay ở nhà ả đào cho một nhóm người thưởng thức, giải trí gọi là hát chơi. Hát chơi thường hát những bài tả t́nh, tả cảnh thuật hoài ngụ ư phóng khoáng phong lưu, t́nh tứ, lăng mạn...

          Trong ba lối hát trên, chỉ có lối hát ở cửa đ́nh người ta mới dùng cái chiêng, c̣n nhạc cụ căn bản thực sự chỉ cần: Một người kép đánh đàn đáy, một bộ phách cho cô đầu vừa hát vừa gơ và một cái trống chầu để người thưởng thức chính điểm nhịp.

                                               x

                                            x     x

          Như vừa tŕnh bầy xin đưa ra một nhận xét nhỏ là chỉ có lối hát chơi là giữa người nghe và kẻ hát có sự gần gụi thân mật thoải mái với nhau hơn cả.

          Xưa kia tuy là ca kỹ nhưng đối với quy tắc xă hội và luân lư gia đ́nh các ca nữ vẫn phải giữ ǵn như lương gia tử đệ. Họ được gọi tên là con hát, xướng nhi, ả đào, cô đầu, ca nữ, đào nương...

          Cô đầu thoát thai từ ả đào. Ả đào theo một sự tích từ cuối đ̣i nhà Hồ {1400-1407} có người ca nữ họ Đào quê ở huyện Tiên-Lữ tỉnh Hưng-Yên, một bậc nữ nhi yêu nước, lập mưu giết được nhiều binh lính nhà Minh, cứu cho khắp vùng yên ổn. Khi nàng chết, dân làng nhớ ơn lập đền thờ và gọi thôn nàng cư ngụ là thôn Ả-Đào, về sau những người làm nghề ca hát như nàng được gọi là ả-đào.

          Ả-đào thường ở chung với nhau một phường một xóm, ban ngày làm công việc vườn ruộng hoặc chăn tằm dệt vải y như các cô con gái nhà lương dân khác. Đến tối họ tới nhà quản giáp luyện tập múa hát và gơ phách  do quản giáp và mấy ả đào già nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật chỉ bảo.

          Phần nhiều ả đào thường có đi học, thông hiểu chữ nghĩa mới có thể học, mới đọc được những bài như Tương Tiến Tửu, thơ thiên thai, tiền  hậu Phú Xích-Bích...Họ c̣n phải luyện tập cả lễ nghi, cách ăn nói, đi đứng... v́ thường xuyên tiếp xúc với các vị phong lưu, phú quư, đôi khi c̣n có cơ hội xâm nhập vào chốn quan quyền vua chúa...

          Họ cũng phải giữ ǵn kiêng khem không được ăn no sợ kém hơi không được uống rượu và dùng những gia vị chua cay sợ kém giọng và quan trọng hơn như trên đă nói, họ c̣n phải trải qua những kỳ thi dể xác nhận vị trí, tài năng, ngôi thứ trong phạm vi quản hạt của ḿnh.

          Lề thói ca trù chặt chẽ tốt đẹp là như thế, nhưng tiếc thay, đến dầu thế kỷ hai mươi th́ tinh thần ấy từ từ suy kém. Đường xá giao thông thuận tiện, sự ăn chơi cũng theo đà tiến bộ hơn. Nhiều người không phải tay nghề cũng nhào ra mở nhà hát kiếm lời; các quan viên đi hát th́ ít người chú ư để thưởng thức ca nhạc, văn chương, mục đích chỉ là họp nhau hành lạc, phung phí tiền bạc,sức khỏe. Về phía các ả đào, nhiều người chẳng biết hát mà chỉ có bổn phận lo ép các quan viên uống thật nhiều rượu để chủ nhân kiếm lời là được. Họ là những cô đầu rượu, phần lớn là nguyên nhân gây ra tiếng xấu chung cho giới cầm ca.

                                                    x

                                                  x    x

          Ca trù khởi đầu từ những lối ca vũ trong cung vua chúa thời xa xưa. Ca vũ của ta một phần bắt nguồn từ ca vũ Trung Quốc một phần chịu ảnh hưởng của các điệu múa hát của Chiêm Thành và của các rợ do những lần chinh phục đời Lư, đời Trần du nhập vào.

          Hồi đó, những khi khánh tiết hay yến tiệc vua chúa có những ban nữ nhạc múa hát giúp vui, kế tiếp ngoài dân gian vào các dịp đ́nh đám  hội hè người ta cũng t́m các ca nữ đến hát dể tế thần.

          Cung vua chúa là nơi nghiêm cấm, người dân thường không thể  tới lui, nhưng đ́nh làng hay đền thờ thần là chốn công cộng, ai cũng có quyền đến xem múa hát ...từ đó ca trù mới bắt đầu phổ biến.

          Ca trù là một nghệ thuật pha trộn nhạc với thơ và mỗi cuộc tŕnh diễn ca trù là một cuộc hát đầy nghệ thuật trong đó diễn viên cũng như  kẻ thụ hưởng đều là nghệ sĩ, cả hai tích cực tham gia vào công việc tŕnh diễn. Nói cách khác, bản tính ca trù là một thú chơi tinh thần nó đ̣i hỏi phải có sự cố gắng làm việc bằng tinh thần của cả người nghe và người hát.

          Như trên đă nói, ca trù là lối chơi cao thượng dành cho những người tính t́nh phong nhă, yêu chuộng văn chương, nhưng quan trọng là các vị ấy cũng cần một chút hiểu biết về ca trù v́ nghe hát ca trù không giống như nghe ca nhạc ngày nay, người thưởng thức không thể đóng một vai tṛ  hoàn toàn thụ động.

          Mới đầu họ lắng nghe tâm sự của cổ nhân sống lại qua tiếng nhạc và lời ca, sau đó người nghe c̣n điểm xuyến bằng những tiếng trống chầu nó biểu lộ cái cá tính của ḿnh.

          Không những thế, dần dần đến giai đoạn họ lại sáng tác bài ca cho ả đào hát, nghĩa là mượn tiếng mỹ nhân để nói lên cái ư kiến của ḿnh, thí dụ Nguyễn-Công Trứ "Cuộc hành lạc bao nhiêu là lăi đấy!", hay như  Trần Tế Xương "Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự" Nói chung mục đích là truyền bá, bộc lộ,kư thác cái quan niệm, tư tưởng, cái tâm sự riêng tư...

          Đến đây, xin mở dấu ngoặc nói vài ḍng về một trường hợp rủi may lư thú của Dương - Khuê tưởng cũng là điều để cùng nhau suy ngẫm.

          Dương-Khuê { 1836-1898 } đỗ tiến sĩ năm 1868 dâng sớ bàn là phải quyết liệt với người Pháp, không nên nhượng bộ măi.Tiếc là gặp lúc triều-đ́nh đang chủ ḥa, vua Tự-Đức phê "Bất thức thời vụ" rồi giáng chức bắt đi trông nom khai khẩn ruộng đất hoang. Về sau ông gặp cô đầu Tuyên là một người quen biết cũ, hỏi ra mới hay cô đă có chồng con, nhưng t́nh duyên trắc trở nên lại phải đi hát làm kế sinh nhai. Ông nghĩ thương ai lại buồn cho thân thế ḿnh mới làm bài hát cho cô Tuyên hát:

                      Hốt ức lục thất niên tiền sự

                      Nợ phong lưu chưa trả hương nguyền

                      Đến bây giờ lại gặp người quen

                      Nỗi lưu lạc, sự ghét ghen là thế thế

                      ...............

                      Thôi bút nghiên Sênh phách cũng dều sai

                      Trông nhau nói nói cười cười....

          Năm sau gạp lễ ngũ tuần khánh thọ, cô Tuyên là danh ca nên được

tỉnh thần cử vào kinh hát hầu vua. Cô hát những bài chúc hỗ rồi vô t́nh hát

đến bài này, vua Tự-Đức nghe xong hỏi ai làm bài ấy, cô tâu Dương-Khuê

vua bảo các quan "Thế ra Dương Khuê bị biếm mà không có ư ǵ oán vọng

triều đ́nh."

          Mấy tháng sau có chỉ gọi ông về bổ đi đốc học Nam-Định rồi thăng

bố chánh...v...v...Khép ngoặc.

                                                 x

                                              x     x

          Ta c̣n nhớ, như một đoạn trên đă tŕnh bầy, khi ca trù mới phôi thai

giới hạn trong cung điện và đền miếu th́ các lối hát tương đối ít ỏi, về sau

lúc phổ biến ra ngoài dân gian, nhờ các danh sỹ rành âm luật và các tay

giáp phường nhiều tài hoa chế biến ra nhiều điệu khác. Ngày nay ca trù có

khoảng trên bốn mươi lối hát {Một tài liệu cho là hơn thế nữa, khoảng 80 }

bắc phản, hát nói, mưỡu, gửi thư, hát ru, tỳ bà, thét nhạc, chừ khi, nhịp ba,

cung bắc, á phiên, múa bài bông ....

          Về âm luật ca trù nằm trong năm cung {giọng hát, hơi đàn} đó là

cung nam, cung bắc, cung huynh, cung pha, cung nao...ngoài ra về sau c̣n

thêm một cung nữa gọi là cung phu.

          Khi âm luật đă ổn định, các văn nhân tài tử không muốn nghe măi

mấy lời hát cũ, bèn sáng tác những lời hát mới...lúc đó âm luật với văn

chương trong ca trù có thể ví như cái khung và bức tranh. Người nghệ sĩ

muốn có những bức tranh tân kỳ để thay đổi, mỗi người muốn vẽ,muốn tô

những bức tranh riêng của ḿnh.

          Theo đà tiến triển của văn chương quốc âm những "bức tranh" ấy

càng ngày càng đặc thù, rực rỡ, muôn mầu muôn sắc nghĩa là các lời ca

càng ngày càng trải chuốt, bóng bẩy, trữ t́nh sâu sắc, ư nhị..Và chính các

lời ca này đă lưu lại cho nền văn học Việt Nam bao nhiêu tác phẩm bất hủ

lưu truyền đến bây giờ như Nợ Tang Bồng {Nguyễn-Công-Trứ} Nghĩ Đời Mà

Ngán Cho Đời {Cao-Bá Quát} Mẹ Mốc {Nguyễn-Khuyến} Hương-Sơn-Phong

Cảnh {Dương-Khuê} Trời Mắng {Tản-Đà}....

          Vào thời gian cách đây khoảng hơn trăm năm ta thấy sự sinh hoạt

của ca trù thật là khởi sắc thú vị. Sự liên hệ giữa ả đào và khách phong lưu

thật đẹp, thật t́nh chả thế mà Trần-Tế-Xương đă có lần nói thẳng ra:

                       Nhân sinh qúy thích chí

                       Chẳng ǵ hơn hú hí với cô đầu !

          Cái mối giao hảo, cái "quư thích chí" ấy của tài tử giai nhân ta thấy

nhan nhản chứng cớ thể hiện qua những bài hát đề tặng nhau như là để kỷ

niệm, để tỏ ḷng ưu ái riêng tư. Nguyễn-văn Bằng có bài tặng cô đào Yến

Tặng cô đào Dần, tặng cô đào cạo răng trắng. Dương Khuê cũng đâu kém

xin kể sơ mấy bài Gặp cô đầu cũ, Thăm cô đầu ốm, tặng cô Hai, cô Phẩm

cô Cúc, và có lẽ ông tổng đốc Nam Định Ninh B́nh hồi đó làm hơi quá nên

bị nội tướng cằn nhằn, ngắt véo chi đó bèn gửi tâm sự qua bài Vợ Ghen Với

Cô Đào Oanh !!!

          Về phía các ả đào, dĩ nhiên là phái đẹp ai lại làm thơ đền đáp những

kẻ đă làm thơ tặng ḿnh và các cô thiếu ǵ cách khác, nhiều khi cảm động

hơn, như là mở hầu bao giốc hết tiền bạc dành giụm để người ta ăn học

thành tài để rồi đôi khi c̣n trao luôn cả trái tim chung thủy nữa.Sách Ca-Trù

Biên Khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề đă kể lại nhiều chuyện gắn

bó rập ŕu giữa tài tử giai nhân nay xin dẫn ra đây một "thiên t́nh sử" vui vui

dể cùng nhau thưởng lăm.

                                                  x

                                                x    x

          Đào nương Hiệu Thư nổi tiếng vừa đẹp vừa hát hay, Nguyễn-Công-Trứ muốn gần mà loay hoay cố gắng măi không sao thực hiện được, Về sau nghĩ ra một kế, xin theo Hiệu Thư làm kép khẩy đờn.{Nguyễn-Công-Trứ là tay đàn đáy cừ khôi trong vùng ít người sánh kịp} Từ đó mỗi lần Hiệu Thư được mời đi hát ở đ́nh đám hội hè  phủ huyện nào, ông cùng một tiểu đồng đều có dịp đi theo. Một hôm cả bọn đang trên đường sang làng bên, giữa quăng đồng không mông quạnh, tuyệt nhiên chẳng một bóng người qua lại Nguyễn Công Trứ giả vờ luống cuống, Hiệu Thư thấy vậy gạn hỏi, ông thú thực v́ vội vă đă bỏ quên cây đàn ở nhà ! Hiệu Thư suy nghĩ một giây rồi sai tiểu đồng chạy về lấy. Lúc ấy bốn bề vắng vẻ, chỉ c̣n hai người, ông nào dám bỏ lỡ cơ hội, bèn ôm lấy Hiệu Thư...nàng sức yếu, không cưỡng được,chỉ khẽ kêu "ứ hự!! ứ hự!!!" chẳ biết đó là dấu hiệu của phản đối hay bằng ḷng!

          Hơn mười năm sau, Nguyễn Công Trứ đỗ đạt làm tổng đốc Hải Dương, gặp ngày sinh nhật, mở tiệc ăn mừng, cho t́m ả đào, danh ca khắp vùng về hát, t́nh cờ Hiệu Thư cũng có mặt trong đám ấy... Nàng liếc nh́n quan lớn nghiêm nghị như thần đang ngồi cầm chầu trên sập cao...tưởng ai, té ra chính là anh kép đàn đă chêu ghẹo nàng ở giữa cánh đồng vắng năm xưa. Bèn "mưỡu" ngay rằng :

                             Giang sơn một gánh giữa đồng

                             Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng ?

          Nhớ chứ! Nguyễn Công Trứ nghe xong th́ giật ḿnh nhớ ngay! Sau hỏi thêm mới biết nàng vẫn c̣n chờ, không chịu lấy ai. Thế là sự tái ngộ kỳ lạ đă đưa đến một quyết định rất có hậu, rất có .."trách nhiệm" : Ông bèn lấy nàng làm tiểu thiếp .

          Đến đây ta có nên khen Hiệu-Thư một câu không nhỉ! Mà nếu khen th́ khen thế nào? Có lẽ chỉ nên hỏi xem nàng đă căn cứ vào đâu, tin tưởng vào đâu trước cuộc đời bóng chim tăm cá, tuyệt nhiên không một lời hứa hẹn mà dám đợi chờ hơn mười năm !

          Dù sao th́ xin cám ơn trời phật v́ cái duyên nghiệp của hai người đă diễn ra suông sẻ, êm đềm. Chàng tuổi trẻ tài cao bạt mạng, bán trời không mời thiên lôi, nhưng chắc chắn là chẳng phải hạng sở khanh, đă cư  sử thật đẹp, thật...anh hùng (!)

          Nhưng dù mối lương duyên có suôi chèo mát mái như thế, tấm t́nh của nàng ca nữ có thủy chung như thế, dưới con mắt khắt khe của xă hội bấy giờ, người ca nữ vẫn bị lịêt vào hạng xướng ca vô loài và theo luật Hồng Đức th́ các quan lại, các con cháu quan lại đều bị cấm không được lấy đàn bà con gái nghề ca  hát làm vợ. Con cái nhà hát xướng cũng bị cấm không được tham dự thi cử làm thiệt tḥi cho biết bao thế hệ, đáng tiếc cho nhà cho nước. Và măi đến khi sẩy ra vụ Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ bỏ theo giúp chúa Nguyễn, chúa Trịnh Cương thời vua Lê Dụ Tông {1706-1729} cũng không tỉnh ngộ bỏ lệ ấy !!!

                                                       x

                                                     x    x

          Kết luận, ngoài việc ca trù để lại cho kho tàng văn học Việt Nam ta những áng văn chương bất hủ, ca trù đă có sức mạnh cảm hóa ḷng người như chuyện Hiệu Thư thượng dẫn. Cảm hóa cả xă hội như việc Nguyễn Công Trứ đem cả đào nương lên chùa văng cảnh cũng không bị chê bai dị nghị ǵ.

          Quan trọng hơn nữa, ca trù đă cống hiến cho quốc âm một thể  thơ đặc biệt Việt-Nam đó là hát nói. Hát nói là một thể loại văn chương tự do nhưng không b́nh dân, đài các nhưng không bị ràng buộc bởi những luật lệ quá ư khe khắt. "nhiều bài có thể coi là những áng kiệt tác trong văn nôm ta." (Dương Quảng Hàm, Văn Học Việt-Nam.)

          Sau một thời gian suy tàn, bây giờ những kẻ có tâm huyết đang cố gắng khôi phục lại ca trù như là một thành phần quan trọng của cổ nhạc. Hiện thời, trong Quốc Tử Giám, nơi nhà Thái Học có một sân khấu nhỏ thường xuyên tŕnh diễn các điệu dân ca Trung Nam Bắc và lẽ dĩ nhiên thỉnh thoảng cũng có bộ môn ca trù xuất hiện.

          Ước mong tương lai c̣n có nhiều địa điểm tương tự để ca trù mở rộng đất hoạt động, cho giới trẻ có nhiều nơi tiếp súc học tập, bởi v́ thực hành là rất quan trọng, Sách vở bây giờ không c̣n nhiều, mà ví thử có đầy đủ nó cũng không giúp ích bao nhiêu. Thí dụ, sách mô tả điệu Bắc phản như sau: Lối bắc phản âm điệu hoăn, giọng thanh tao, hơi nam chuyển sang hơi bắc, nên gọi là bắc phản, cách đặt câu 6 chữ, 8 chữ như mưỡu...

          Người tự học đọc sách này chắc cũng bó tay lúng túng chẳng biết luyện tập thế nào....Phải chăng do những nỗi khó khăn tương tự như thế mà lâu dần các điệu hát Ngọc Lâu Xuân, Bát Đoạn Cầm, Nhất Thanh Phong..v...v...nay đă thất truyền! Thật đáng tiếc!!!

 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/14/07