III. 

Thư đáp tướng Tưởng Giới Thạch

Hư Vân Đại Sư

 

...Ngày nay, Phật giáo lan truyền khắp thế giới. Phật giáo tiên phong mở đường cho chủ nghĩa đại đồng. Trên thế giới, xem xét kỸ càng, nhận thấy có hai luồng tư tưởng: Luận Duy Thần và luận Duy Vật. Tuy nhiên, chủ thuyết quả báo luân hồi ảnh hưởng phổ cập khắp nơi; đây là điều không thể nghĩ bàn ! Theo luận Duy Thần của đạo Cơ Đốc th́ Thần thường ban an vui cho người hiền, nhưng lại trừng phạt những kẻ ác. V́ vậy mà chấp nhận sự tồn tại của thần linh, và cho đó là lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, những nhà Duy Thần đó chẳng biết giáo điều như thế, không thể khiến người đời tin sâu, nên đưa đến việc họ cùng những nhà Duy Vật tranh căi bài bác. Do đó, đạo Cơ Đốc không thể duy tŕ nền ḥa b́nh cho thế giới. Thật ra, thần tức là vật. Vật tức là tâm. Tâm cũng là thần. Tuy nhiên, thần cũng không phải thần, hay vật cũng không phải vật, và tâm cũng không phải tâm. Đức Phật giải thích rơ rằng ba cơi vốn không có một pháp nào cả, mà chúng đều là vọng khởi từ chân tâm. Từ chân tâm này sanh ra muôn pháp. Tuy gọi là "Chân Tâm", nhưng thực ra v́ có vật chất hư vọng đối đăi nên mới giả lập danh tự. Bàn đến lẽ cùng tột, gọi là "Chân Tâm" cũng không đúng.

 

Ví như trong biển cả, tâm là nước, và muôn pháp (muôn sự vật) là sóng. Khi biển êm gió lặng th́ gọi là nước biển. Khi gió thổi biển động th́ gọi là sóng biển. Khi sóng lặng th́ là nước biển. Lúc nước biển khởi dậy th́ biến thành sóng biển. Giả sử không có tướng nước chảy cuồn cuộn th́ không thể lập danh từ hư giả là sóng biển. Nếu không có danh từ sóng biển th́ danh từ nước biển hư giả do đâu mà sanh ra ! Những danh từ hư giả này, chỉ do chúng ta tùy tiện lập ra. V́ vậy, vật tức là tâm. Hữu vi tức là vô vi. Sắc tức là không. Vọng tức là chân. Phiền năo tức là Bồ Đề. Chúng sanh tức là chư Phật. Lúc một niệm bị mê hoặc th́ tâm trở thành vật; vô vi biến thành hữu vi; không biến thành sắc; chân biến thành vọng; Bồ Đề biến thành phiền năo; chư Phật biến thành chúng sanh; nước biển chảy cuồn cuộn th́ biến thành sóng biển. Khi có một niệm giác ngộ th́ vật chẳng khác tâm; hữu vi chẳng khác vô vi; sắc chẳng khác không; vọng chẳng khác chân; phiền năo chẳng khác Bồ Đề; chúng sanh chẳng khác chư Phật; sóng biển lặng th́ là nước biển. Lại nữa, v́ tâm khởi mê hoặc nên mới giả lập ra vật chất, hữu vi, sắc tướng, vọng không, phiền năo, chúng sanh, v.v... để đối đăi với chân tâm, vô vi, chân không, Bồ Đề, chư Phật. V́ thế, dẫu gọi là duy tâm, duy vật, hữu thần, hay vô thần, tất cả đều do tâm thức phân biệt đặt để.

 

 Có người bảo:

- Nếu như thế th́ Phật giáo cũng theo luận Duy Tâm !

Nhà Phật tuy nói duy tâm, nhưng khác hẳn với luận lư Duy Tâm của các nhà triết học. Luận Duy Tâm của triết học là nơi tâm chấp có và nơi vật chấp không. V́ vậy, Phật Thích Ca bảo rằng chúng sanh chấp tâm suy tính so đo làm tự tánh và chấp vọng tưởng sanh tử làm thật thể. Người theo chủ nghĩa duy vật, chấp vật thể là có thật và chấp tâm là hư vô. Phật Thích Ca bảo rằng những người này thường làm những việc điên đảo, v́ ngộ nhận vật chất mà cho là ḿnh, nên măi măi lưu chuyển trong ḍng sanh tử. Luận Duy Thần phân tách rơ ràng giữa thật thể của vật chất và thật thể của thần linh. V́ thế, luận Duy Thần và Duy Vật phân biệt thành hai thế giới riêng biệt. Phật Thích Ca bảo rằng khi tâm thức bị mê hoặc th́ nhận lầm bọt biển làm biển cả. Đó gọi là sự hiểu biết sai lầm. Hoặc v́ gần gũi, thấy h́nh trâu mà cho là trâu thật. Hoặc nh́n sơ qua sừng trâu mà lầm nhận sừng trâu là con trâu. Hoặc do thấy đầu trâu mà cho đầu trâu là con trâu. Thật ra, chẳng phải như thế ! Họ không nh́n thấy toàn thể tướng chân thật của con trâu. Phật giáo đàm luận cùng tận cội nguồn và thấu triệt chân lư qua việc chỉ rơ con trâu trắng chân thật. Nếu chỉ xem sơ qua mà chưa thật thấy toàn thể con trâu, đó là lạc vào thiên chấp của luận Duy Tâm và Duy Vật. 

 

Biệt danh chân lư của nhà Phật là minh tâm kiến tánh, bản nhiên thanh tịnh, chân tâm thường trụ, giác tánh chân như, thật tướng pháp thân, v.v... Rời các danh tướng th́ không có nơi chốn định nghĩa chân lư. Thể tánh tự giác vốn tự sáng soi và là đức tánh bổn hữu mà không có năng và sở đối đăi. Gốc vốn không có ǵ gọi là mười phương hay ba đời. Lại nữa, chẳng có chi gọi là đất đai, con người, thú vật, cây cỏ, ngói đá, địa ngục, thiên đường, v.v...Thật ra, chỉ v́ một vọng niệm mà khởi ra pháp hữu vi. 

Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài Phú Lâu Na bạch hỏi Phật:

- Bạch đức Thế Tôn ! Tánh giác vốn tự thanh tịnh, nhưng v́ cớ sao lại đột nhiên sanh ra đất đai núi sông ?

Phật đáp:

- Này Phú Lâu Na ! Ông hỏi rằng chân tâm đă vốn thanh tịnh, v́ sao bỗng nhiên lại sanh ra núi, sông, đất liền ? Vậy ông có thường nghe Như Lai chỉ dạy rằng chân tâm nhiệm mầu vắng lặng mà thường sáng suốt chiếu soi không ?

- Bạch đức Thế Tôn ! Con có thường nghe Phật dạy nghĩa ấy.

- Vậy chân tâm này, ông cho nó tự có tánh sáng suốt phân biệt chiếu soi hay là không có sáng suốt phân biệt chiếu soi ?

- Bạch đức Thế Tôn ! Nó sẵn có tánh sáng suốt phân biệt chiếu soi nên mới gọi là tâm. Nếu không có tánh sáng suốt phân biệt chiếu soi th́ không gọi là tâm, v́ nó không phân biệt được cái ǵ cả. 

- Ông nói rằng nếu nó không sáng suốt phân biệt chiếu soi th́ không phải là tâm, v́ nó không phân biệt được cái ǵ cả. Vậy ông có hiểu chăng: Nếu có chiếu soi phân biệt th́ không phải là chơn, c̣n không có chiếu soi th́ chẳng phải là tâm. Nếu tâm mà không sáng suốt th́ không phải là chân tâm thanh tịnh rồi. 

Ông nên hiểu rằng chân tâm vẫn sáng suốt; v́ ông vọng chấp cái Sáng Suốt Phân Biệt làm tâm, nên thành ra có năng phân biệt (tâm) và bị phân biệt (cảnh).

Chân tâm của ông không phải cái bị phân biệt, nhưng v́ ông khởi ra cái năng phân biệt nên nó (chân tâm) trở thành cái bị phân biệt (cảnh). Đă vọng thành cái bị phân biệt th́ dĩ nhiên ở nơi ông phải vọng sanh ra cái năng phân biệt.

Thế là ở nơi chân tâm của ông vẫn thanh tịnh, không có năng và sở, mà thoạt nhiên thành ra có năng và sở.

Thể tánh chân tâm vốn không khác biệt. Do vọng niệm phân biệt có năng sở và bỉ thử sai khác, nên hiện ra có hư không và thế giới. Do có hư không và thế giới nên mới có chúng sanh. Đă có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đăi lẫn nhau nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: Tốt xấu, phải trái, v.v... V́ vậy mà sanh ra đủ các phiền năo trần lao nhiễm ô. Cái có h́nh tướng và sanh diệt là thế giới; cái không có h́nh tướng và yên tịnh là hư không. Khác với hư không và thế giới là chúng sanh.

Ngay trong chân tâm, do vô minh vọng động mà có hư không. Hư không mờ mịt v́ vô minh sanh ra. Trong hư không có chất động, v́ nó là vọng. Do đó, trong hư không có gió (phong luân) để duy tŕ thế giới. 

Do hư không sanh ra gió và do nơi tâm chúng sanh có tánh cố chấp phân biệt, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có những chất cứng chắc là vàng ngọc (vàng ngọc cứng chắc là v́ tâm cố chấp sanh ra. Nó sáng ngời là do tâm phân biệt sanh ra). Đây là nguyên nhân có chất kim khí để bảo tŕ thế giới.

V́ tâm chúng sanh có tánh cố chấp phân biệt nên sanh ra chất cứng chắc là kim khí, và v́ có vọng động mà thành ra gió. Rồi gió thổi kim khí và cọ xát măi, khiến kim khí đó nóng lên, nên nháng sanh ra ánh sáng là lửa. Đây là nguyên nhân có lửa để nấu đốt các vật.

Chất vàng ngọc vừa sáng ngời và đượm mát. Do lửa xông lên nên có hơi nước rịn ra. Đây là nguyên nhân có nước để bao bọc cả mười phương thế giới.

V́ tánh lửa bốc lên, c̣n nước th́ lại chảy xuống, nên chỗ có thấp ướt th́ là sông biển, chỗ cao nổi lên là cồn đảo. Bởi lửa và nước dung ḥa nhau, cho nên trong biển thỉnh thoảng bốc lên ánh sáng của lửa, và trong cồn đảo lại có sông rạch thường chảy ra nước.

V́ thế lực của nước yếu hơn lửa, nên bị lửa bốc lên kết thành núi cao. Do đó, đập đá th́ có lửa, c̣n đốt quá nóng th́ nó chảy ra nước.

V́ thế lực của đất yếu hơn nước, nên nó bị nước rút lên làm cỏ cây. V́ vậy, nếu đốt cỏ cây th́ chúng trở thành tro, c̣n ṿ ép th́ chúng lại ra nước.

Tóm lại, v́ trong tâm chúng sanh có các vọng tưởng xen nhau phát sanh, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có các cảnh vật. Do nhân duyên này mà thế giới tiếp nối nhau sanh ra măi không dứt.

Lại nữa, nầy Phú Lâu Na ! Cái Hư Vọng Phân Biệt đó không có ǵ lạ, chỉ v́ ông chấp cái Phân Biệt Chiếu Soi làm tâm. Đă có cái Phân Biệt th́ dĩ nhiên phải có cái Bị Phân Biệt đối đăi lẫn nhau. V́ vậy, cái Năng Phân Biệt không vượt ra ngoài cảnh Bị Phân Biệt. Do nhân duyên này mà nghe không ngoài tiếng, thấy không ngoài sắc, ngửi không ngoài mùi, nếm không ngoài vị, v.v... rồi vọng thành sáu căn và sáu trần đối đăi nhau, nên phân ra có: Thấy, nghe, hiểu, biết.

Đồng nghiệp trói buộc lẫn nhau mà có hợp, có tan, có thành, có hóa. Khi thấy sáng tỏ th́ thấy các màu sắc phát ra. Nhận rơ sự thấy th́ kiến chấp thành tư tưởng; ư kiến khác nhau th́ thành ra ghen ghét; tư tưởng đồng nhau th́ thành ra yêu thương.

Ḍng ái lan ra làm thành hạt giống, rồi do giao cấu phát sanh, khiến thu nạp tưởng thành bào thai, tức là chiêu dẫn chúng sanh đồng nghiệp, nên có nhân duyên sinh yết la lam, át bồ đàm, v.v...

Thai sinh, noăn sinh, thấp sinh, hay hóa sinh, tùy chỗ của các loài ấy mà ứng hiện. Loài noăn sanh chỉ do tâm tưởng mà sinh; loài thai sinh do t́nh dục mà ứng hiện; loài thấp sinh do tâm hợp mà cảm sanh; loài hóa sinh do phân ly mà hiện ra.

Khi t́nh, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay đổi lẫn nhau, nên các loài thọ nghiệp báo và theo đó mà có thăng trầm, lên xuống. Do nhân duyên ấy mà chúng sanh tiếp nối sanh sản không ngừng.

Này Phú Lâu Na ! Tư tưởng yêu thương ràng buộc lẫn nhau, khiến mến luyến măi không rời. Thế nên, trong thế gian, cha mẹ con cháu nương nhau sinh ra tiếp nối không dứt. Những việc như thế, đều do tham dục làm gốc.

Ḷng tham và yêu mến cùng tăng trưởng. Tham măi không dừng, nên trong thế gian, các loài noăn sinh, hóa sinh, thấp sinh, thai sinh, tùy theo sức mạnh yếu mà ăn nuốt lẫn nhau. Những việc như thế, đều do tâm tham giết hại làm gốc.

Người ăn thịt dê; dê chết làm người và người chết làm dê. Như thế cho đến mười loài chúng sanh, chết sống và sống chết ăn nuốt lẫn nhau, khiến đồng tạo ác nghiệp, suốt đời vị lai. Những việc như thế, đều do tâm tham lam trộm cắp làm gốc.

Loài này cướp giựt thân mạng loài kia; loài kia giết hại lại loài này; trả vay, vay trả lẫn nhau đến trăm ngàn kiếp không thể ra khỏi sanh tử.

Trai mê sắc gái; gái thương t́nh trai; v́ t́nh ân ái thương yêu lẫn nhau, nên trăm ngàn kiếp bị triền phược trói buộc măi trong ṿng luân hồi. 

Tóm lại, chỉ có ba thứ như giết hại, trộm cắp, dâm dục làm cội gốc, nên nghiệp (nhân) và quả tiếp nối không ngừng.

Này Phú Lâu Na ! Ba thứ điên đảo (thế giới, chúng sanh, nghiệp quả) đều nằm trong chân tâm; v́ vô minh vọng động sanh ra Năng Phân Biệt và Sở Phân Biệt đối đăi lẫn nhau, nên vọng thấy có núi sông đất đá, thế giới, chúng sanh, rồi tiếp tục sanh diệt biến hóa, vô cùng hư vọng...

Trong tánh giác thể chân như bỗng nhiên sanh ra chân và vọng. Từ đó lại phân thành tướng bất biến và tùy duyên. Thể tánh b́nh đẳng bất biến, vượt ngoài những tướng sai biệt, chẳng phàm chẳng thánh, không thiện không ác, chân thật như thường, vốn là chân như bất biến. 

Tùy duyên sanh diệt mà khởi tướng sai biệt, có phàm có thánh, có thiện có ác, đó là chân như tùy duyên. Lại nữa, gọi là chân như bất biến v́ muôn pháp vốn là chân như, chứ chẳng phải tâm, vật, thần. Gọi là chân như tùy duyên v́ chân như này vốn là muôn pháp, tức là tâm, vật, thần. Luận duy tâm lầm nhận thần linh, tức là chân như tùy duyên, mà cho đó là chân tâm. 

 

Nhà Duy Vật đề xướng luận vô thần lại hẹp ḥi biên kiến; triết lư của họ thuộc về chân như tùy duyên, tức chỉ thấy có vật chất. Người theo chủ thuyết Duy Vật lại căn cứ theo vật chất mà đề xướng luận vô thần. Người theo luận Duy Thần cũng hẹp ḥi biên kiến, vọng sanh phân biệt, lầm nhận vật chất và thần linh, tức là chân như tùy duyên. 

Người đề xướng luận Duy Thần nào biết tâm tức là vật, và vật tức là thần ! Tâm, vật, và thần đồng một thể tánh. Có tâm tức có vật. Có vật tức có thần. Vô tâm tức vô vật. Vô vật tức vô thần. "Có" không phải có trong cái "có, không", lại chẳng có mà có trong diệu hữu. Cái "không" chẳng phải cái không đoạn diệt, lại vượt ngoài cái diệu không của cái "có không".

Luận Duy Tâm, Duy Vật, Duy Thần chưa từng hiểu rơ nghĩa lư này, nên cùng nhau công kích đả phá. Thật ra, họ đều đúng và đều sai. Người nghiên cứu học Phật pháp, hăy nên phá vỡ những tảng băng đá này !

 

Đối với việc nghiên cứu bản thể vũ trụ của nhà Phật, tôi đă tường thuật rơ ràng như bên trên rồi. Ngoài ra, những việc như sự cấu tạo hay thành hoại của thế giới, hệ thống khí quản của thân người, cùng bao vấn đề khác, trong kinh Lăng Nghiêm và những bộ kinh luận khác đều đă thuyết minh, luận bàn tường tận rơ ràng. Đa số, những điều này đều phù hợp với những phát minh của các học giả, triết gia, khoa học gia trong hiện thời và tương lai. 

Tuy nhiên, đối với giá trị nhân sanh, pháp tắc và hạnh nguyện của chư đại Bồ Tát, chỉ có chư thánh hiền mới biết được. Những điều này, trong kinh điển thường nhắc đến. V́ vậy, nên biết rằng Phật giáo rất thần diệu và vĩ đại. Tuy nhiên, Phật giáo tuyệt không khoe khoang những điều kỳ lạ, lại cũng không làm những việc hư dối, khiến mê hoặc quần chúng. Mỗi lời nói và hành vi đều y theo ba môn vô lậu học giới định huệ, mà thi hành thực tiễn. 

Sao gọi là giới định huệ ? Pḥng phi chỉ ác gọi là giới. Khi sáu căn tiếp xúc với cảnh, tâm không tùy duyên (mà khởi) nên gọi là định. Tâm và cảnh tṛn đầy như hư không, và thường giác chiếu mà không mê hoặc, đó gọi là huệ. Pḥng ngừa việc xấu, và đ́nh chỉ việc ác của ba nghiệp, khiến ḍng nước tâm tự lắng đọng trong sáng, tức do giới mà sanh định. Nước tâm lắng đọng trong sáng, khiến tự tánh chiếu soi khắp xum la vạn tượng, tức do định mà sanh huệ. Nhà nho cũng có câu:

- Sau khi định tâm th́ sẽ được tĩnh lặng; tĩnh lặng rồi sẽ được an lạc; an lạc rồi sẽ có khả năng suy xét quán chiếu; suy xét quán chiếu rồi sẽ có thể đắc đạo.

Các nhà triết gia cũng thường suy gẫm về sự tướng cùng sở học của họ. Tuy nhiên, nhà nho, nhà triết học, và nhà khoa học đều dùng tâm phan duyên (phân biệt) để suy tư về vạn vật và vũ trụ. Họ nào biết đâu vũ trụ và vạn vật cũng do từ tâm phan duyên tạo thành ! Năng tư sở lự đều bắt nguồn từ tâm phan duyên. Nếu muốn cầu chân lư thâm sâu phải ngồi thiền tĩnh lự. Các nhà triết học hiện nay, đối với sự nhận thức về các luận lư, thường lao xao tranh căi, măi không kết thúc.

 

Phật pháp rời ngôn từ và dứt đường tư lự (suy nghĩ), nên khiến trí huệ giác chiếu khắp vũ trụ cùng muôn vật muôn sự.

Nếu ngồi xuống, ung dung tự tại mà bàn luận, th́ thấy rằng Phật giáo vốn tiên tri tiên giác, và bao hàm cả triết học, khoa học, tôn giáo. Ḷ nào cũng cùng một xưởng. 

Nhật Bổn tôn sùng Phật giáo làm quốc giáo, nên thời cận đại đạo Phật rất hưng thịnh. Những nhà duy tân và hiền sĩ anh tài xuất thân từ thiền học không ít. Đối với những việc của dân chúng, các ngài đều hiểu thấu. Nếu không dùng vơ lực quân phiệt mê muội, không dùng sức mạnh bạo lực để giết chóc, và không dùng chính sách xâm lược khiến trái ngược với đạo, th́ ngày nay được an ổn, đâu đến nỗi phải bị thảm bại.

 

Có người nghi rằng Phật giáo rất tiêu cực và mê tín, nên không xứng đáng làm quốc giáo; đây là vọng tưởng của những người chưa hiểu ǵ về đạo Phật. Thật ra, Phật giáo không hủy hoại tướng của thế gian, cớ sao gọi là tiêu cực ? Đạo Phật dẫn dắt con người đi từng bước để bỏ mê hợp với tánh giác th́ cớ sao gọi là mê tín ? Suy nghiệm lại chữ Phật, theo tiếng Phạn phải nói cho đủ là Phật đà, và được dịch là bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn. Bồ Tát, tiếng Phạn gọi là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch là giác hữu t́nh và hữu t́nh giác. Bồ tát có hai hạng là xuất gia và tại gia. Bồ Tát thường phát tâm rộng lớn v́ chúng sanh mà cầu đạo Bồ Đề vô thượng. Các ngài vừa tự tu hành, vừa giáo hóa tha nhân. Đó là hạnh chánh tín và tích cực của chư Bồ Tát. E rằng trên thế gian hiếm có ai phát được những hạnh nguyện này.

 

Phật giáo y theo hai nghĩa "chiết" và "nhiếp" mà lập nhiều môn phương tiện. Sao gọi là chiết ? Chiết tức là chiết phục kẻ ác. Xưa kia, khi Thạch Lặc hỏi về giới cấm giết hại, th́ ngài Phật Đồ Trừng đáp:

- Ông là vua trăm họ, chớ nên giết hại chúng dân bừa băi. Đó là nghĩa của giới cấm giết hại.

Lại nữa, chư Bồ Tát quyền thừa tại gia phải chiết phục kẻ ác để lợi sanh. Tuy cầm đao trượng, cho đến chặt đầu kẻ ác, mà không thật phạm giới cấm giết hại; ngược lại c̣n sanh thêm công đức. Nếu ác ư mà giết người, th́ biết là không thể được. V́ thiện ư mà giết người, đó là thủ nhăn thiện xảo của đại Bồ Tát Kim Cang quyền thừa. 

Sao gọi là nhiếp ? Nhiếp tức là nhiếp thọ người hiền. Chư Phật Bồ Tát v́ lợi ích của chúng sanh, nên không quản ngại gian nan hiểm nạn. Có bốn pháp nhiếp thọ. Thứ nhất, bố thí nhiếp, tức là nếu có chúng sanh muốn tiền tài th́ Bồ Tát bố thí tiền tài. Nếu chúng sanh muốn nghe pháp th́ Bồ Tát bèn thuyết pháp bố thí, để khiến cho họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ hai, ái ngữ nhiếp, tức là tùy theo căn tánh của chúng sanh, Bồ Tát ban những lời khuyên nhủ, thí dụ ngọt ngào, để khiến cho họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ ba, lợi hành nhiếp, tức là thân miệng ư của Bồ Tát luôn hành thiện nghiệp, làm lợi ích chúng sanh, khiến họ sanh tâm thân ái mà thọ đạo. Thứ tư, đồng sự nhiếp, tức là dùng pháp nhăn mà quan sát căn tánh của chúng sanh; tùy theo sở thích của họ mà Bồ Tát phân h́nh thị hiện, và cùng họ làm những việc ích lợi, để họ phát tâm thọ đạo. Đó là những hạnh tích cực của chư Phật và Bồ Tát.

Sao gọi là phương tiện ? Tức là các ngài tùy theo căn tánh của chúng sanh mà cứu độ bằng những phương tiện quyền xảo. 

Bên trên đă bàn về bốn pháp nhiếp thọ, đó cũng là những môn phương tiện quyền xảo. Phẩm Hóa Thành Dụ trong kinh Pháp Hoa thuyết:

 

"...Ví như trong đường hiểm

Chỉ toàn loài ác thú

Lại chẳng có cỏ nước

Nơi người thường sợ hăi.

Vô số trăm ngàn chúng

Muốn thoát đường hiểm đó.

Đường ấy rất rộng dài.

Qua năm trăm do tuần

Có một vị đạo sư

Mạnh khỏe có trí huệ

Tâm sáng suốt cương quyết

Tại đường hiểm cứu nạn.

Chúng nhân đều mỏi mệt

Mà bạch đạo sư rằng:

Chúng con đều mệt nhọc

Nơi đây muốn thối lui.

Đạo sư bèn suy nghĩ:

Bọn trẻ thật đáng thương

Sao lại muốn thối bước

Bỏ mất châu báu lớn ?

Nên nghĩ kế phương tiện

Mà thiết lực thần thông

Hóa ra thành ấp lớn

Các pḥng xá nguy nga.

Chung quanh có vườn rừng

Sông ng̣i cùng ao tắm

Lầu gác cao, cửa lớn,

Trai gái đều đầy đủ.

Liền hóa làm thế rồi

An ủi chúng đừng sợ.

Các ngươi hăy vào thành

An trú tùy sở thích.

Chúng nhân liền vào thành

Tâm đều mừng vô ngần

Đều sinh tưởng an vui,

Tự cho là được độ.

Đạo sư biết đă nghỉ

Hợp chúng lại bảo rằng:

Đây chỉ là hóa thành

Thấy các ông quá mệt

Giữa đường muốn thối lui

Nên quyền thiết hóa thành.

Nay đương cần tinh tấn

Phải cùng đến bảo sở..."

 

Xem qua bài kệ này, chúng ta biết rơ thâm ư của Phật Thích Ca phân thời lập giáo, quyền thuyết phương tiện. Thế nên, những bậc thượng thiện căn thường hợp với thiền và giáo. Người chú trọng sự phân chiết th́ hợp với Duy Thức học. Pháp môn phổ cập trong quần chúng là Tịnh Độ. Người xuất gia hay kẻ tại gia, dẫu tu theo Đại Thừa hay Tiểu Thừa, đều v́ nhiệm vụ cứu độ giáo hóa rộng khắp quần sanh, khiến cho tất cả chúng sanh đều thọ pháp ích lợi. 

 

Gần đây, có những người theo lập trường vô thần, thấy các Phật tử lễ bái hay tŕ danh niệm Phật, th́ họ cho là mê tín. Họ không biết rằng lễ bái chư Phật chư Bồ Tát nào khác ǵ với sự cung kính các bậc trưởng thượng ! Sự niệm Phật, đối với việc tu tâm, chẳng phải là công phu tu hành sao ? Vả lại, tŕ danh niệm Phật, bất quá chỉ là một pháp môn phương tiện giản dị cho người sơ cơ. Ngoài ra, trong tông Tịnh Độ c̣n có các pháp môn như quán tượng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, thật tướng niệm Phật, v.v... Tông Tịnh Độ vốn rất diệu dụng vô cùng tận, mà họ tự không hiểu rơ, lại cho là mê tín.

 

Lại nữa, có người bảo rằng đạo Cơ Đốc cũng thoát thai từ tông Tịnh Độ. Xem xét chúa Giê Su mặc y phục cũng tương đồng với Phật. Trong kinh "Phật Thuyết A Di Đà" thường nhắc đến thế giới Cực Lạc ở Tây Phương. Tín đồ đạo Cơ Đốc cũng thường nói đến Thiên Quốc Cực Lạc. Cơi Tịnh Độ được phân thành chín phẩm. Gia giáo Lư Lâm Thiên Thần Phổ cũng nói là có chín phẩm vị thiên thần. Trong kinh A Di Đà, Phật Thích Ca nói rằng không thể dùng chút ít nhân duyên phước đức thiện căn mà được sanh qua cơi Cực Lạc. Đạo Cơ Đốc cũng nói rằng nếu ở tại nhân gian mà không lập công bồi đức th́ Thiên Chúa sẽ không rước về Thiên Quốc. Người tu theo tông Tịnh Độ, phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà trong sáu thời, khẩn cầu Phật tiếp dẫn. Đạo Cơ Đốc cũng bảo tín đồ rằng ngày đêm sáng tối phải thường cầu khẩn Thượng Đế gia hộ. Trong nhà Phật có pháp quán đảnh. Đạo Cơ Đốc có lễ rửa tội. Xem xét những điều như trên, thấy rằng tông chỉ của đạo Cơ Đốc và tông Tịnh Độ thật rất tương đồng. Giê Su giáng sanh sau Phật Thích Ca hơn năm trăm năm. Ngài đă từng thọ giáo huấn của Phật Thích Ca, nên mới được kinh A Di Đà, rồi y cứ theo đó, mà sáng lập tôn giáo mới. Điều này không thể nào nghi ngờ được. Lại nữa, Giê Su đă từng qua Ấn Độ ẩn tích ba năm để tham học. Sự tuy vô căn cứ, mà dấu tích vẫn c̣n tồn tại.

 

Đạo Cơ Đốc tuy tựa như pháp môn tŕ danh niệm Phật của tông Tịnh Độ, nhưng rất kém xa. Tín đồ Cơ Đốc chỉ cầu tha lực. Tuy tin tha lực như thế, mà họ lại không hiểu tại sao phải tin. Gần đây, có những người miễn cưỡng tŕ danh niệm Phật, chỉ chú trọng vào tha lực, tự bảo là phù hợp với đạo.

Chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm viết:

"...Chư Phật trong mười phương thường lân mẫn thương xót nghĩ nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con cứ chạy lẫn trốn th́ mẹ có thương nhớ cũng vô ích. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, th́ đời đời mẹ con đều không cách xa. Nếu tâm chúng sanh thường nhớ Phật niệm Phật, th́ hiện tiền và tương lai, tất sẽ thấy Phật, và không xa cách Phật. Không cần giả lập phương tiện, tâm vẫn tự được khai ngộ... Nhân địa của con, dùng tâm niệm Phật mà nhập vào vô sanh pháp nhẫn. Hôm nay tại nơi đây, nhiếp thọ người thường niệm Phật, quy nơi Tịnh Độ".

Có nhân th́ có quả, tức là sự và lư không chướng ngại nhau. Đạo Cơ Đốc bảo rằng người hiền lương sẽ sanh qua Thiên Quốc vĩnh viễn. Giáo lư của tông Tịnh Độ bảo rằng văng sanh Tịnh Độ th́ măi sanh nơi cơi Phật, thấy Phật nghe pháp, liễu ngộ vô sanh pháp nhẫn. Dùng diệt mà hiển thị sanh, nên có sanh diệt đối đăi. Cuối lúc diệt, sanh trong cái vô sanh, tức vốn tự vô sanh, nên không có diệt. V́ vậy, gọi là Vô Lượng Thọ.

 

Y theo hạnh nguyện của Bồ Tát, chẳng phải chỉ có người xuất gia mới cầu đạo vô thượng, mà người tại gia cũng hành được. Bất quá, người xuất gia chỉ sống xa quốc chủ, rời thân bằng quyến thuộc, xả bỏ ân ái gia đ́nh, ư tại thoát ly t́nh dục trói buộc. Người xuất gia xả bỏ t́nh riêng mà phát triển đồng t́nh Phật tánh. Xả bỏ ân ái riêng tư để trở thành bậc bác ái vĩ đại. Lấy việc cứu độ tất cả chúng sanh làm trung. Dùng sự nhiếp thọ chúng sanh làm hiếu. Đó là ư nghĩa của chủ nghĩa đại đồng. Tiên sinh Tôn Trung Sơn thường nói:

- Phật giáo lấy việc cứu thế gian làm nhân đức. Phật học là mẹ của mọi ngành triết học. Tôn giáo tạo thành nền văn hóa và duy tŕ hùng khí cùng thiên tánh tự nhiên của dân tộc. Nhân dân chẳng nên không có tư tưởng tôn giáo. Nghiên cứu Phật học giúp bổ xung vào những điểm khiếm khuyết của triết học.

Hôm nay, Ngài (Tưởng Giới Thạch) đă cho phép kết hợp Phật giáo vào nền văn hóa, tức là bổ ích thêm cho tư tưởng học thuật của nước nhà. Hiện tại, Phật giáo đang lan truyền rộng răi khắp thế giới. Phật giáo luôn chủ trương khuyến tấn đại giáo đại đồng duy nhất. Đây không phải là lời trống rỗng.

Vả lại, ngày nay tự do tôn giáo, chẳng nên cưỡng ép người theo những đạo mê tín, th́ mới khiến nhân tâm trung thành khâm phục mà sanh chánh tín. Nếu bỏ Phật giáo th́ quy ngưỡng vào nơi nào ? 

Đại sư Hư Vân

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/13/07