Nuôi dưỡng tiềm năng trí tuệ Á Châu (I)

Philip G. Altbach - Phan Bích Vân lược dịch


Mặc dù sự phát triển nhảy vọt của Trung Quốc và Ấn Độ là nhờ nhân công rẻ và sự sản xuất các mặt hàng công nghệ thấp, rẻ tiền, nền kinh tế trong tương lai của hai nước này lại tùy thuộc vào một lực lượng lao động có tŕnh độ cao hơn. Cả hai nước đều đang thiếu một lực lượng lao động có tŕnh độ để đáp ứng nhu cầu phát triển những ngành sản xuất công nghệ tinh vi và các ngành dịch vụ. Các trường đại học là trọng điểm của cuộc đua tranh nhằm đào tạo lực lượng lao động của hai nước những kỹ năng cần thiết để giúp họ có thể cạnh tranh được trong hệ thống kiến thức toàn cầu. Tuy nhiên cả hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đều không được trang bị đầy đủ để đương đầu với những thử thách thông thường trong việc cải thiện chất lượng của hệ thống giáo dục sau phổ thông trung học (cấp cao), và làm tăng số lượng sinh viên được tuyển vào các trường đại học. Cả hai nước đều tiến hành những biện pháp khác nhau để giải quyết những vấn đề nan giải về giáo dục của ḿnh: Trung Quốc th́ cố công xây dựng các trường đại học tầm cỡ quốc tế, trong khi Ấn Độ dường như làm ngơ trước sự cần thiết phải tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục.

 

Times Higher Education Supplement 2006
 

Hiện nay cả 2 nước đều không phải là ḷ sản xuất ra các nhân viên có tŕnh độ mặc dù Trung Quốc đang phát triển theo hướng đó. Theo một ấn bản về giáo dục đặt trụ sở tại Luân Đôn mang tên Times Higher Education Supplement 2006 sắp hạng 100 trường đại học hàng đầu trên thế giới: có 2 trường ở Trung Quốc: Đại Học Bắc Kinh và Đại Học Thanh Hoa (Peking University, Tsinghua University), 3 trường ở Hồng Kông: Đại Học Hồng Kông, Đại Học Trung Quốc ở Hồng Kông và Đại Học Khoa Học Kỹ Thuật Hồng Kông (Hông Kong University, Chinese University of Hong Kong, Hong Kong University of Science and Technology), 1 trường ở Ấn Độ: Học Viện Kỹ Thuật Ấn Độ (Indian Institutes of Technology). Trong 50 năm qua, đối với cả hai nước, những giá trị truyền thống về giáo dục không c̣n ứng dụng một cách khả quan nữa. Mỗi nước đều có một truyền thống lâu đời tôn trọng kiến thức và học vấn. Trung Quốc được coi là cái nôi của ư tưởng dùng việc thi cử để tuyển chọn các quan chức cho quốc gia và trong các giá trị của Khổng giáo, kiến thức và giáo dục luôn được coi trọng. C̣n Ấn Độ lại là cha đẻ cái nôi của khái niệm Guru (bậc thầy trong một lĩnh vực nào đó)

 

Đại Học Bắc Kinh
 

Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Ấn Độ cuối cùng đều giảm bớt các kiểu giáo dục truyền thống nổi tiếng và đi theo kiểu mẫu giáo dục của Tây Phương. Ấn độ, sau nhiều thế kỷ làm thuộc địa đă thừa hưởng được khuôn mẫu đại đọc lư tưởng của Anh Quốc và tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chủ yếu để truyền đạt kiến thức. Trung Quốc đă theo mô h́nh giáo dục Tây Phương thậm chí trước khi thành lập nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa vào năm 1949, mặc dù sau đó có chuyển sang mô h́nh Sô-viết và hoàn toàn từ bỏ giáo dục cấp cao trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, trước khi quay trở lại với mô h́nh phát triển giáo dục cấp cao của Tây Phương trong những năm 1980. Cũng như những nước đang phát triển khác, Trung Quốc và Ấn Độ nh́n sang Phương Tây để t́m kiếm những phương hướng cho nền giáo dục của ḿnh.

Trung Quốc và Ấn Độ có số lượng sinh viên đại học rất cao, tuy nhiên vẫn chật vật trong việc đáp ứng nhu cầu giáo dục đào tạo sau bậc trung học. Trung Quốc có khoảng 23 triệu sinh viên trong hệ thống giáo dục sau bậc trung học, con số cao nhất trên thế giới mặc dù nó chỉ đào tạo 21% số thanh niên trong độ tuổi này, vẫn c̣n thấp so với tiêu chuẩn của các nước công nghệ. Ân Độ đứng hàng thứ ba trên thế giới về số sinh viên theo học các trường sau bậc trung học nhưng cũng chỉ đáp ứng 13% số thanh niên trong độ tuổi này.

Các hệ thống giáo dục cấp cao dành cho đại đa số quần chúng chỉ phát triển trên thế giới trong ṿng nữa thế kỷ nay. Đối với các nước đang phát triển th́ sự phát triển này càng xảy ra chỉ gần đây thôi. Ước tính trong ṿng 18 năm tới, nhu cầu giáo dục cấp cao trên toàn thế giới sẽ tăng gấp đôi từ con số 100 triệu hôm nay lên đến 263 triệu vào năm 2025 với đa số nhu cầu này đến từ các nước đang phát triển.

 

Học Viện Kỹ Thuật Ấn Độ (Indian Institutes of Technology)
 

Cả hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đều thiếu trầm trọng các nhà nghiên cứu, các học giả, các giám đốc và nhân viên có thể cạnh tranh được trên trường quốc tế để làm việc cho các trường đại học và các học viện khác. Các công ty ở hai nước này than phiền rằng những sinh viên tốt nghiệp hạng chót trong hệ thống giáo dục cấp cao này không được đào tạo đủ để làm việc có hiệu suất cao trong các ngành dịch vụ và công nghệ cao mới. Quá tŕnh tuyển chọn sinh viên vào đại học và qúa tŕnh giảng dạy c̣n dựa vào học vẹt nhiều và điều này dẫn đến các việc các sinh viên tốt nghiệp thiếu hẳn đi tính sáng tạo.

Về tỉ lệ ngân sách cho giáo dục so với tổng sản lượng quốc gia (GDP), cả hai nước đều không giành đủ ngân sách cho giáo dục sau bậc trung học. Ấn Độ chi 0.37% và Trung Quốc chi 0.05% tổng sản lượng quốc gia cho giáo dục cấp cao, so với Hoa Kỳ chi 1,41% và Anh Quốc chi 1,07%.

Hơn thế nữa, cả hai nước đều xuất khẩu một tỉ lệ cao những sinh viên ưu tú nhất sang Hoa Kỳ và các nước phát triển khác. Ấn Độ và Trung Quốc sắp hạng nhất và nh́ về số sinh viên du học ở Mỹ, 140.000 sinh viên tất cả, chiếm ¼ tổng số sinh viên ngọai quốc ở Hoa Kỳ. Và hai nước này cũng có ít nhất bằng số sinh viên đó đi du học ở các nước khác trên thế giới. Phần lớn các sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài không trở về nước sau khi tốt nghiệp; con số ước đoán lên đến 70% đến 80%. Khi kinh tế phát triển với nhiều việc làm và lương bổng hậu hĩ th́ tỉ lệ trở về sẽ lớn hơn.

Một khuynh hướng mới trong giáo dục cấp cao ở Trung Quốc và Ấn Độ là sự gia tăng nhanh chóng các trường tư thục. Cũng như các nước đang phát triển khác, Trung Quốc và Ấn Độ xem trường tư thục là một cách để đáp ứng phần nào nhu cầu vào đại học đang gia tăng mà không phải chi phí nhiều từ ngân sách quốc gia. Tuy nhiên rất ít trường tư thục được xếp hạng cao. Mục đích chính của các trường tư là mang lại lợi nhuận cho các ông chủ, các giám đốc và v́ vậy các trường tư phục vụ tầng lớp sinh viên có khả năng đóng học phí chứ không phải là chỗ cho các sinh viên thuộc tầng lớp thấp hơn trong xă hội. Cả hai nước đều nhận thấy rằng một hệ thống tư thục không được kiểm sóat chặt chẽ sẽ đưa đến đủ thứ chuyện để tranh căi và họ đang có những biện pháp để tăng cường sự kiểm tra và đưa chúng vào khuôn khổ. Làm thế nào để hệ thống tư thục phục vụ lợi ích chung của quốc gia là một thử thách không nhỏ.


Khổng tử sẽ làm ǵ?

Trong ṿng hai thập niên qua, Trung Quốc đă có một ủy ban đặc trách việc xây dựng một số trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế. Trong các kế họach "985" và "211", họ chọn ra một số nhỏ các trường đại học tốt để được nhận sự tài trợ của Trung Ương. Sự tài trợ đều đặn này, cùng với áp lực của chính phủ nhằm sát nhập các trường đại học ở một số thành phố lại với nhau và những đường lối chỉ đạo thúc đẩy nghiên cứu và nâng cao tiêu chuẩn đào tạo đă đưa đến một sự tiến bộ thấy rơ ở một số trường đại học ở Trung Quốc. Một số trường đại học hàng đầu như Peking University, Tsinghua University và một vài trường khác như Shanghai Jiaotong and Fudan hiện đang sánh vai với các đại học nổi tiếng trên thế giới. Tuy nhiên phương pháp giảng dạy trong các đại học khắp Trung Quốc vẫn c̣n dựa trên cơ sở thuyết giảng. Sự thảo luận vẫn chưa được khuyến khích, c̣n việc phát triển tính sáng tạo th́ bị coi như là có vấn đề. Những nhà lănh đạo ngành giáo dục thực sự phải đương đầu với một số vấn đề quan trọng. Xây dựng một văn hóa tự điều chỉnh, tự trao dồi kiến thức và nghiên cứu không phải là chuyện dễ. Những trường hợp đạo văn thường xuyên xảy ra, thiên vị trong việc thi tuyển vào đại học và bổ nhiệm công tác sau khi ra trường là những dấu hiệu, những bằng chứng của những thử thách cần phải đương đầu. Tự do trong giáo dục đào tạo vẫn chưa được bảo đảm nhất là trong các môn khoa học xă hội và nhân văn. Mặc dù đă có những nổ lực để tạo cho các giáo sư đại học có một con đường sự nghiệp ổn định, Trung Quốc vẫn c̣n phải cố gắng nhiều hơn về mặt này. Các trường đại học có tầm cỡ thế giới không chỉ cần những pḥng thí nghiệm tuyệt hảo, những kỹ nghệ thông tin hiện đại nhất và những thư viện tốt nhất, chúng c̣n cần có một văn hóa hàn lâm được xây dựng trên những giá trị như: trọng dụng nhân tài, tranh đua, hợp tác giữa sinh viên, giữa các giảng viên trong việc nghiên cứu vào đào tạo và sự tôn trọng tính trung thực. Các trường đại học hàng đầu ở Trung Quốc đă có những bước tiến quan trọng trên lĩnh vực này nhưng vẫn cần cố gắng nhiều hơn nữa, bằng chứng là vụ sa thải gần đây vị giáo sư đại học nổi tiếng Chen Jin của trường Đại Học Shanghai Jiaoton v́ thiếu trung thực.

Càng xuống dưới th́ sự việc càng không được tốt đẹp như vậy. Nhu cầu vào đại học càng lớn dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng các trường đại học và con số sinh viên tuyển vào cũng tăng. Tỉ lệ giữa giảng viên và học sinh càng kém đi. Học phí th́ ngày càng tăng để chi trả cho sự phát triển này. Các trường đại học công th́ bày ra nhiều biện pháp khác nhau để kiếm thêm tiền như: nhận thêm số sinh viên với số điểm thi tuyển vào đại học thấp hơn và bắt họ trả học phí cao hơn, hoặc mở các khu học xá bán công và tính học phí cao hơn. Đă có các cuộc biểu t́nh của sinh viên diễn ra về danh hiệu trên bằng cấp do ít nhất là một trong những học xá chi nhánh này cấp. Các trường đại học th́ đi mở các công ty tư vấn, và thúc đẩy các giảng viên dạy thêm ở các trường tư – bằng mọi cách để kiếm thêm thu nhập cần thiết. Những biện pháp kiếm thêm tiền này nói chung làm giảm đi giá trị của sứ mệnh giáo dục đào tạo của trường đại học và làm giảm đi chất lượng giảng dạy.

Một số trường đại học tư thục mới có chất lượng không đáng tin cậy lắm. Phần lớn các trường này không được bộ Giáo dục của Trung Quốc công nhận hoàn toàn và v́ vậy bằng cấp hay chứng chỉ từ các trường này không có tính pháp lư 100%. Các giới chức cấp tỉnh, thành có thể cấp giấy phép hoặc tự đứng ra thành lập các trường đại học hoặc trường đạo tạo chuyên nghiệp thường là không đủ tiềm năng. Các trường này có thể đáp ứng phần nào nhu cầu học đại học của sinh viên nhưng lại thường có chất lượng đào tạo không cao.

Hiện đang có nhiều sự phê b́nh ở Trung Quốc về chất lượng của nền giáo dục và sự thặng dư sinh viên tốt nghiệp đại học. Hai vấn đề này liên quan trực tiếp với nhau. Sinh viên tốt nghiệp từ một số ít trường đại học có tiếng tăm th́ dễ t́m việc làm hơn. Một cuộc thăm ḍ gần đây do Pḥng Thương Mại Hoa Kỳ ở Thượng Hải thực hiện cho thấy khó khăn lớn nhất cho các công ty Hoa Kỳ hoạt động ở Trung Quốc là các sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc không có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết. Ngày càng khó khăn hơn cho các sinh viên tốt nghiệp t́m được việc làm. Năm 2005, gần 50% của 4 triệu sinh viên tốt nghiệp không t́m được việc làm thỏa đáng.

Chính quyền Trung Quốc đă nhận thấy được vấn đề và bắt đầu nới lỏng sự kiểm sóat quá chặt chẽ đối với các trường đại học, đồng thời cũng ḱm bớt sự phát triển. Tuy nhiên chỉ đến khi nào có sự cân nhắc tận gốc rễ những vấn đề như nên tuyển chọn sinh viên vào các trường đại học như thế nào, tổ chức việc giảng dạy ra sao, th́ khó có sự tiến triển đáng kể. Hơn nữa, hệ thống giáo dục bậc cao cần một ngân sách thỏa đáng hơn nếu muốn có sự phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng.

.Philip G. Altbach - Phan Bích Vân lược dịch..

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 02/06/07