THEO QUCH TẤN, 
TM VỀ NI CŨ XEM MAI NỞ

Thch Phước An

 

 

1.

 

Tm về ni cũ xem mai nở

Mộng bn ngn xa hạt điểm canh. 

Quch Tấn

 

Trong một bi viết về tc phẩm nước non Bnh Định (viết tắt NNBĐ) của Quch Tấn, cố học giả Nguyễn Hiến L c ni rằng, ng vốn rất m cc cửa biển miền Trung; Nhưng trong NNBĐ Quch Tấn chỉ dnh c mười tm trang để viết về biển, nn đọc xong mười tm trang đ ng cn cảm thấy thm. Ngược lại, trong chương viết về ni non, Quch Tấn đ dnh đến tm chục trang. V Nguyễn Hiến L đ tm lược tm chục trang m Quch Tấn viết về ni như thế nầy:

"Trong tm chục trang tc giả c tới trn trăm ngọn ni. Tuy khng cao lắm nhưng "hng dũng hiểm tuấn" nhiều ngọn ni hnh dng rất kỳ dị như ngọn M Thin Sơn, đứng pha ny m ng th rất ngạo, hung tợn như "h miệng mắng trời" nhưng đứng pha khc th trng lại rất hiền lnh "lễ độ" c pha coi như ng Phật ngồi, c pha như hổ nằm, m từ trn cao nhn xuống th trng như cnh buồm.

C ni hnh dng khng kỳ dị, m sắc th diễm ảo như ni Xương C, những buổi trưa nắng gắt ở xa trng vo thấy st kh bốc ln ngn ngụt. Cn vo những đm trăng sng, những buổi sớm tinh sương th long lanh lng lnh như hạt kim cương. (1)

V trong quyển hồi k viết vo những ngy cuối đời, Nguyễn Hiến L vẫn nhắc lại : "Nhất l cảnh ni m ti tin chắc rằng khng ai viết hay hơn Quch Tấn được". (2)

Trong hơn một trăm ngọn ni m Quch Tấn đ viết trong NNBĐ, c một ngọn đ chạy dọc sau lng qu của ti: Hồi nhỏ ti nghe dn lng gọi l Ni B, sau đọc được Quch Tấn th ti mới biết ni cn c tn l Bố Chnh Đại Sơn. Đng như cch gọi của chữ Hn cũng như chữ Việt, ni hng vĩ v cng.

Quch Tấn viết trong NNBĐ: "Ni chiếm một vng rộng c đến trăm dặm vung. Ni ng ra biển, hng vĩ, honh trng".

Trong ni c nhiều ngọn cao chất ngất, như Hn Ho ở pha Đng Nam, hn Hang Ri ở pha Đng Bắc, hn Chung ở pha Ty v.v (3)

Ti bắt đầu nhn ngắm được ngọn Ni B l vo những năm 1953 đến 1954, tức l những năm cuối cng của cuộc chiến tranh chống Php.

Đầu lng ti c một cy cầu gỗ bắt ngang qua sng. Dn pha bn ny v bn kia sng đều đi lại bằng chiếc cầu gỗ ny. Nhưng chiếc cầu đ v tnh trở thnh tai họa ging xuống dn lng, v ngy no my bay Php cũng đến dội bom xuống chiếc cầu.

Ti cn nhớ như in, hễ cứ nghe g gy canh đầu l mẹ ti đnh thức ti dậy cng với dn lng đi ln đo T Mọ để trnh bom đạn. Đo ny nằm su trong dy Ni B, nn dn lng phải rng sức để khi đến nơi th trời vẫn cn tối, v ban ngy th sợ my bay thấy sẽ rất nguy hiểm. Ti th cn qu nhỏ nn khi bắt đầu leo ni th mẹ ti phải cng ti trn vai để đi cho kịp với mọi người. Vo những đm trời c trăng, vừa leo ni ti lại cn nhn thấy mặt trăng mọc ngay trn đỉnh ni. Mặt trăng lc ấy trng buồn b lm sao:

 

Đm đm nằm đợi canh g giục

Mảnh nguyệt rừng xa bạn cố tri

(Ma cổ điển)

 

By giờ thỉnh thoảng ti vẫn thch đọc lại hai cu thơ ấy của Quch Tấn, đọc để nhớ lại tuổi thơ của một thời ly loạn đ qua.

Vo ma đng hay thng ging thng hai trời cn gi chướng, từng cơn gi rt buốt từ đo T Mọ đổ xuống cnh đồng Dạy, cnh đồng nằm kề cận lng ti. Những buổi chiều đi học về, ti cng những đứa trẻ cng lng phải cắm đầu m chạy để trnh ci rt như cắt da ấy. Những lc đ, tuổi thơ ti đ cảm nhận một cch mơ hồ rằng, con người hon ton xa lạ v bơ vơ trước vũ trụ bao la kia.

Rồi lớn ln rời bỏ qu hương, mỗi khi c dịp trở về để đi qua cnh đồng lộng gi ấy, ti cn phải chịu đựng mộc cơn gi rt buốt khc nữa, cơn gi du bể của cuộc đời.

Nhiều thế hệ tiếp nhau sanh ra, lớn ln, sống trong m thầm rồi họ cũng đ m thầm trở về nằm yn dưới rặng ni ny:

 

G xanh vun nấm cỏ

Ghi dấu thời gian qua

Chữa nhạt niềm tm sự

m thầm xun nở hoa.

(Mộng Ngn Sơn)

 

Mười năm, hai mươi năm hay ba chục năm, c lẽ chỉ di đối với một đời người. Nhưng với một dng sng hay một rặng ni th qu ngắn để m ta c thể thấy sự thay đổi của n. Bởi vậy mỗi lần trở về ti thấy ni vẫn xanh v những đm my trắng vẫn bay trn đỉnh ni như dạo no

Vậy l, ti thường tự nhủ, ni đứng đ khng phải chỉ để nhn "Sng lớp phế hưng" của cuộc đời thi, m chừng như dy ni cn biết lắng nghe tm sự của bao thế hệ đ đến từ rặng ni nầy nữa:

 

Chữa nhạt niềm tm sự

m thầm xun nở hoa

 

Ti tưởng tượng Quch Tấn cũng đ nhiều lần đứng nhn những nắm mồ nơi rặng ni của qu nh nn ng mới c một nỗi buồn heo ht đến như vậy.

 

2. 

 

Tm sơn dục minh đức

Lưu hun vạn do din

Ai loan cố đồng thượng

Thanh m triệt cửu thin

(Ở trong ni nui dưỡng cc đức tnh sng chi

Hương thơm tỏa ra hng vạn dặm

Rồi cũng giống như con chim Loan cất tiếng ku buồn thảm trn cy ng dồng.

m thanh của n vọng đến chn từng trời)

 

C thể vay mượn một bi thơ của Kumarajiva (Cưu Mala Thập) như vậy để thấy ni non hết sức quan trọng trong bước đi ln của con người.

V dường như những thnh tựu tm linh lớn nhất của con người từ xưa đến nay đều pht xuất từ ni rừng c tịch?

Ta c thể giả thiết như thế ny: Nếu khng c dy Hy M Lạp Sơn cao nhất thế giới ở Ấn Độ th nhn loại đ khng tm ra được con đường để đi rồi.

Quch Tấn dường như đ linh cảm được rằng, con người của thực dụng hm nay đ đnh mất dần ni non trong hồn mnh. Nn ng đa đem hết sức bnh sinh để lm sống lại ci đẹp của ni non trong tm hồn con người hm nay.

Quch Tấn đ bắt đầu bằng một truyền thuyết dn gian đầy thơ mộng về hai rặng ni ở qu nh ng như thế ny:

"Truyền rằng xưa kia lc m ng Trời b Đất hết khắng kht với nhau, ng bay ln cao, b hạ xuống thấp, bỏ nước non my rng bơ vơ. ng Khổng Lồ lo việc xếp đặt ni non cho c thứ tự. Sau khi xếp xong cc dy ni ở Bnh Định. Khổng Lồ lựa hai hn ni cn đối, quảy nhỏng nhảnh đi chơi. Nhn ni nhn my, cao hứng qun lửng gnh ni trn vai. Đn gnh chch, đi ging nghing. Đi ni lăn c xuống đất. Ni rớt thnh lnh, Khổng Lồ vừa giựt mnh vừa mất thăng bằng sut ng. Để khỏi t, ng liền bấm chặt một chn xuống đất, một chn bước dang ra trước mặt để chống. Tuy khỏi bị t ng, nhưng bị cụt hứng, ng tức mnh bỏ ni lại đ. Gnh giống khng m đi đến nơi khc. Hai hn ni bỏ lại đ l hn Tr Sơn v hn Khnh Long. (4)

V ni được sanh ra bởi ng Trời v b Đất, nn ta phải leo ln ni cao th mới thấy hết ci đẹp của trời đất:

"Lẫn trong mu sắc của ruộng đồng mnh mng, từng chm, từng khoảnh nổi ln mu lục đậm của cy, mu xam xm hoặc đo đỏ của chợ qun, nh cửa, cha đền hoặc ẩn hiện dưới bng my ln khi" (5).

Ci giy pht ấy, th những g t tng, chật chội của mặt đất dường như cũng tan biến hẳn. Ta c cảm gic r rệt l cng ln cao bao nhiu th con người cảm thấy mnh l một với đất trời bấy nhiu.

Rồi tại một hn ni khc, Quch Tấn kể lại kể lại cảnh một nh sư m thầm cứu gip con người:

"Để gip hnh khch qua lại khỏi bị nạn cọp, nh sư trụ tr tổ chức việc đưa đn hết sức nn thơ.

Hnh khch đến chn đo th dừng lại đợi nhau. Khi đ được năm ba người rồi, nh sư đến đưa qua đo. Khng do khng mc, khng trống, khng phn la nh sư thong thả đi trước, tay g m miệng tụng kinh, hnh khch nối đui nhau đi theo, khoan thai trật tự Sang pha bn kia, nếu c khch th nh sư trở lại, đưa qua đo. Cứ thế hết ngy ny đến ny kia. Ai cng t nhiều cũng được, khng cũng khng sao. Trước kia nạn hổ thường xảy đến. Từ khi c sự đưa đn của nh cha, người qua lại đều v sự".

Đối với chng ta ngy nay, cu chuyện trn c vẻ hoang đường, khng thực tế. Quch Tấn cũng biết vậy, nn ng đ viết:

"Đ l chuyện cũ ngy xưa, ngy nay người khng cn sợ cọp như trước, tri lại cọp phải sợ hẳn lng người, nn tiếng m cu kinh khng cần thiết nữa". (6)

Cuối dy ni B c một ngi cha cổ gọi l cha ng Ni. C nhiều truyền thuyết kỳ lạ kể lại hnh tung của ng Ni:

 

ng Ni dng vỏ cy lm y phục, tham thiền nhập định suốt ngy đm trong hang đ. Trong hang đ cn c hai con cọp mun hiền lnh. ng Ni t khi đi đu, chỉ khi no cần lương thực th ng Ni mới gnh một gnh củi xuống để ở ng ba đường. Người quanh vng đem gạo muối xuống để đ, rồi gnh củi đem về nh chụm. Chiều tối hm sau, ng Ni mới xuống lấy gạo muối, rồi lặng lẽ ln ni trở lại. ng Ni tiếp tục sống như vậy trong nhiều năm, đến khi Trương Phc Loan chuyn quyền, khắp nơi đều sống trong cảnh đi khổ loạn lạc. Một hm những người tiều phu ln ni đốn củi, họ t m vo hang th khng cn thấy ng Ni đu nữa. Bấy giờ họ mới biết ng Ni đ bỏ ci hang đ đi mất rồi, chẳng ai biết ng đi đu?

Hơn ba trăm năm sau (7), Quch Tấn đến viếng Cha v ng vẫn cn nghe được bước chn ng Ni vang vọng khắp ni non:

"Dọc đường khi đi cũng như khi về, thường nghe cc em mục đồng, cc chng ngư phủ, với một giọng thật th, đn hậu, ht những cu ht về ng Ni, khi th thnh tht, như:

 

Cy che đ chất chập chng

Biển giăng dưới ni cha lồng trong my

Bụi đời khng gợn mảy may

Cht thn rộng thng ngy di thảnh thơi.

Khi th ngầm chứa nỗi u hoi, như:

ng Ni đi đu

Bỏ bầu sơn thủy

Đủ nhn đủ tr

Thm vĩ thm kỳ

Cha xưa nhạt bng t huy

Xui lng non nước nặng v nước non (8).

 

Những tiếng "Ni cũ", "Cha xưa" đ được Quch Tấn lặp đi lặp lại nhiều lần trong thơ của ng, đ ni ln hết tất cả nỗi bơ vơ của ng khi phải sống trong thế giới hiện nay. Một thế giới đ gần như qun hẳn một Trần Thi Tng đ cng với Đức Sơn Thiền Sư đứng ngắm trăng trước sn cha Thanh Phong v nghe gi la qua ni vắng. Một Nguyễn Tri ngậm ngi tiễn Đạo Kim Thiền Sư về ni với lời chc:

         "Về non ta lại c thiền tm"


 
 

3. 

 

Trong một bi nhận định về thơ của Quch Tấn cch đy đ hơn ba chục năm, Phạm Cng Thiện đ viết một cu hay tuyệt:

"Ti tưởng chừng những tiếng thơ trn đ pht xuất từ trung tm điểm của vũ trụ, xa lắm, xa lắm" (9).

Những tiếng "xa lắm, xa lắm" của anh Phạm Cng Thiện dĩ nhin phải dược hiểu theo nghĩa bng.

D vậy, c những bi thơ của Quch Tấn m mỗi lần đọc ln, ti kh c thể nghĩ rằng ng đ lm những bi thơ đ tại những thnh phố c tn l Quy Nhơn hay Nha Trang hay tại bất cứ một thnh phố no ở Việt Nam. Ti c cảm gic ng l một ẩn sĩ đang sống tại một ngi cha cổ ở một thảo nguyn hay một hn ni cao no đ, xa hẳn chốn trần gian bụi bặm ny. V chỉ trong c đơn heo ht như vậy, th ng mới lắng nghe hết cả ci buồn sầu thảm của vũ trụ mnh mng ny:

 

Sng di bi vắng ni chnh vnh

Cha khuất sau my tiếng trống rền

Gi nước nn nao lng đi độ

Lạnh lng sương xuống bng trăng ln

(Đọng Bng Chiều)

 

V tại nơi "thm sơn cng cốc", trong một thong giy ngắn ngủi, Quch Tấn chừng như đ thấy được cnh cửa của v hạn:

 

Thong tiếng chung cha vọng

Bng đn khuya rung rinh

Nao nao lng giống quạng

Hơi thu trn hư linh

(Mộng Ngn Sơn)

 

Rồi ti tưởng tượng rằng, một hm nh ẩn sĩ đ đ bị bắt buột xuống ni trở lại. D sống giữa cuộc đời, nhưng lng ng lc no cũng ngng vọng về nơi chốn xa xi ấy:

 

My nước nhiễm phong trần

Nơi đu tnh cố nhn

Những đm buồn tỉnh giấc

Cha cũ tiếng chung ngn

(Mộng Ngn Sơn)

 

ng nhớ r từng lời kệ tiếng kinh, nhớ giọt trăng t đọng lại trn hnh lang heo ht của đm sắp tn nơi ngi cha cổ:

 

Lặng lẽ chin đn nh khi hương

Trăng t đi giọt rụng lan can

Cha xa ring cảm đm thu quạnh

Vần kệ ngn đưa giấc mộng tn

(Đọng Bng Chiều)

 

V nhớ những chiều ni non sau cơn mưa cn đẹp hơn cả một giấc mộng:

 

Mưa tạnh non cao đọng bng chiều

Hồi chung cha cũ vọng c liu

(Chưa xuất bản)

 

Hai cu thơ c sức hoi niệm lạ thường. Gần một thế kỷ đi qua trn cuộc đời ny, ngoảnh nhn lại chẳng cn nhớ g hết, ngoi một cht ni non tịch mịch trong lng của thi nhn m thi

Chắc chắn những bi thơ trn của Quch Tấn khng phải l sự rung động ngẫu nhin hay nhất thời của một nghệ sĩ, m n đ được hun đc su xa bởi một kht vọng. Kht vọng đ đ một lần được Quch Tấn pht biểu:

"Lm thơ l để gởi tấm lng vo thin cổ chứ khng phải để phấn sức ti ba trong nhất thời". Đ l lời của Trần Tử Ngang m ti đ học thuộc lng từ khi mới tập lm thơ. Ngy xưa ti lm thơ l để lng vo thin cổ, như lời Trần Tử Ngang. Nhưng từ ngy ti nhận thấy văn chương l một php mn, l một ci đạo, th ti lm thơ, viết văn để giải thot tm hồn" (10).

Thi ca, theo quan điểm của Quch Tấn lm một php mn, một ci đạo để ng giải thot tm hồn. Như vậy Quch Tấn đ đạt được kht vọng ấy trong thi ca của ng chưa? Đọc bi thơ sau đy ta sẽ r:

 

My thu chớp nhẹ cnh thư hồng

Hắt nh t huy trắng mặt sng

Bờ giạt sng lau vờn ngọn bấc

Đợi đ lặng lẽ bng sư ng.

 

Vậy, đng như Phạm Cng Thiện đ ni, th: "Hiện nay Quch Tấn đ đi gần tới tiu đch của mnh" (11).
 
 

4. 

 

Vo những thng cuối năm 1975 v tiếp đến những năm 1976 v 1977, theo chỗ ti biết, đ l những năm thng buồn b nhất trong cuộc đời của Quch Tấn. Bạn b cũ, một số đ ra đi, một số cn ở lại th sợ "Tai vch mạch rừng" nn t ai dm lui tới để tr chuyện, tm sự, mặc d c qu nhiều chuyện để m tm sự với nhau.

Lc ấy anh Tuệ Sỹ vẫn cn ở Nha Trang, cha lc ấy cũng chẳng cn chuyện g để lm, nn anh Tuệ Sỹ v ti vẫn thường xuống nh thăm Quch Tấn, thỉnh thoảng ng cũng ln cha thăm lại. Những lần viếng thăm như vậy đ an ủi tm hồn ng rất nhiều, nhất l trong hon cảnh c đơn v đầy bất an như lc ấy. Một bữa nọ anh c trao cho anh Tuệ Sỹ v ti một bi thơ:

 

Bạn thơ nay chẳng cn ai

Tới lui tr chuyện chỉ vi nh sư

Chung tr hớp ngụm v tư

Chia tay nhn bng thanh hư gởi lng

 

Ring đối với Tuệ Sỹ, mặc d tuổi tc kh chnh lệch nhau. Tuệ Sỹ đến sau Quch Tấn gần nửa thế kỷ, nhưng Quch Tấn vẫn một mực qu trọng ti hoa v nhất l tư cch của Tuệ Sỹ.

Ti nhớ c một lần ng đ ni với ti rằng, ở Việt Nam c hai tc phẩm viết về T Đng Pha (một đại thi ho đời Tống của Trung Quốc) một của Nguyễn Hiến L v một của Tuệ Sỹ. Nhưng theo ng Nguyễn Hiến L chỉ mới đứng từ xa m nhn ngọn L Sơn, cn Tuệ Sỹ mới đch thực vo được "thm xứ" ấy. Quch Tấn l một nh thơ, m nhất l nh thơ rnh rẽ về thi ca Trung Quốc, th lời nhận định của ng tất nhin phải c gi trị lớn rồi. Nhn đ, ti cũng cho ng biết rằng, v Tuệ Sỹ l một nh thơ, một nh thơ m viết về một nh thơ th tất nhin phải hay hơn một học giả viết về thi ca vậy. Quch Tấn rất đỗi ngạc nhin khi biết Tuệ Sỹ cũng c lm thơ. V từ lu ng chỉ biết Tuệ Sỹ l một nh Phật học, một dịch giả vậy thi.

Khi Đo Duy Anh lần đầu tin từ H Nội vo Nha Trang đến thăm Quch Tấn, ng hỏi kiến Quch Tấn l ai l người m ng nn đến thăm? Quch Tấn đ trả lời ngay: Tuệ Sỹ, chỉ c Tuệ Sỹ l người đng thăm nhất. V ng Đo Duy Anh đ leo ni ln cha Hải Đức để thăm Tuệ Sỹ.

Trong cuộc tr chuyện hơn hai tiếng đồng hồ tại cha Hải Đức. Ti vẫn cn nhớ l Đo Duy Anh đ tỏ ra rất tiếc khi ở ngoi Bắc mấy chục năm m ng vẫn khng c tc phẩm Essay in Zen Buddhism của D.T. Suzuki để đọc, đến khi vo Nam th ng th ng mới đọc được bộ Thiền Luận do Tuệ Sỹ dịch từ tiếng Anh của D.T. Suzuki trong khi ng biết l tc phẩm đ đ chinh phục thức giả Ty phương từ lu rồi. ng cũng cng nhận l một sự muộn mng đng tiếc. Khi tiễn Đo Duy Anh xuống ni, ng cứ đi một đoạn l đứng lại bắt tay anh Tuệ Sỹ, những ci bắt tay thật chặt. Cứ như vậy ng bắt tay cho đến khi xuống cuối dốc cha mới thi. Điều ấy chứng tỏ rằng, Đo Duy Anh rất trn trọng về cuộc gặp gỡ ny.

Sau đ, c lẽ v khng chịu đựng nổi khng kh ngột ngạt ở thnh phố nn Tuệ Sỹ đ đi lm rẫy tại một khu rừng hẻo lnh ở thị trấn Vạn Gi, gần đo Cả, cch Nha Trang khoảng su mươi cy số. Đy l thời gian anh lm thơ nhiều nhất. Hầu hết những bi thơ ni ln tm sự u uẩn của chnh mnh m cho cả qu hương đất nước đều được anh lm tại nơi ni rừng heo ht ny. Tỷ như:

 

Qu người trn đỉnh Trường Sơn

Cho ta gởi một nỗi hờn thin thu

 

Hoặc:

Trong mắt biếc mang nỗi hờn thin cổ

Vẫn chn tnh như mưa lũ bin cương

 

Đng l tm hồn của kẻ sĩ, nếu c hờn c trch th chỉ hờn trch chnh mnh thi, cn đối với con người, đối với cuộc đời th vẫn yu thương nồng nn. Lm rẫy một thời gian th bỏ vo Si Gn, dấn mnh vo một cuộc "Lữ" khc. Cuộc "Lữ" ny trầm trọng hơn những cuộc "Lữ" trước đ. t lu sau, Quch Tấn cũng rơi vo trường hợp tương tự, nhưng ng chỉ bị một thời gian ngắn thi, c lẽ nhờ đ đến tuổi "Thất Thập cổ lai hy".

Quch Tấn hiện đang đi chơi xa v khng bao giờ trở về nữa. Ti cứ tưởng tượng ng đứng nhn một cy mai nở rộ trn một hn ni cao no đ, điều m khi cn sống ng rất kht khao nhưng khng bao giờ thực hiện được, như c lần ng đ đọc cho ti nghe hai cu thơ của ng:

 

Tm về ni cũ xem mai nở

Mộng bn ngn xa hạc điểm canh

 

Cn Tuệ Sỹ th vẫn chưa về

Những lc ngồi một mnh nhớ Quch Tấn v Tuệ Sỹ, ti cứ bng khung tự hỏi: Tại sao c những người muốn đem hết cả tấm lng của mnh để hiến dng cho cuộc đời m họ vẫn bị cuộc đời đối xử một cch bất cng? V ti hoa của họ chăng? Chữ ti đi liền với chữ tai một vần, như xưa nay ai cũng nghĩ như vậy. Theo ti, quan niệm đ chỉ đng một phần thi, v c biết bao nhiu người ti hoa ở những nơi khc trn đời ny, họ vẫn c hon cảnh, c điều kiện để đem ti hoa của họ ra m hiến dng cho cuộc đời?

C một bi thơ của Quch Tấn, m ti nghĩ c thể tạm giải thch được. t nhất l trong trường hợp Quch Tấn v Tuệ Sỹ. Bi thơ ấy như thế ny:

 

Bao phen bến hẹn đổi dời

Lng phong tao vẫn con người thủy chung

Gi lau thổi lạnh sng tng

Hương xưa thắm lại cụm hồng ngy xưa.

 

Phải chăng v muốn "thủy chung" với "cụm hồng ngy xưa" ấy, m Quch Tấn v Tuệ Sỹ phải chấp nhận số phận lao đao của mnh?

 

Ch Thch

 

Quch Tấn, qua ci nhn ph bnh văn học, nhiều tc giả, Nxb Trẻ, Tp HCM, 1994.(trang 196,trang 279, (9) trang 90, (10) trang 266, (11) trang 103

Nước Non Bnh Định của Quch Tấn, Nxb Nam Cường Sign 1967 (trang 35, trang 93, trang 267, trang 31-32)

Cha Linh Phong. Hiện nay thp để tưởng nhớ cng đức của ng Ni vẫn cn; Thp hiệu Tịnh Gic Thiện Tr Đại Lo Thiền Sư, được xem như vị tổ khai sơn của cha.

 Thch Phước An

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUT HỌC TRNH HỘI ỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 02/06/07