NHỮNG SÂN KHẤU MỘT THỜI Ở HUẾ

Uyên Hạnh giới thiệu:

Những Sân Khấu Một Thời Ở Huế là cái nh́n về xứ Huế trong tương quan kịch nghệ, thơ văn của tác giả Lê Văn Lân, ghi nhận bằng những ngày tháng sống và lớn lên tại xứ Huế văn vật.

Viết về những đề tài như thế nầy đă làm tác giả bâng khuâng không ít. Ta nghe được tâm tư của tác gỉa khi nói về Huế của năm xưa. Huế đến với chúng ta từ t́nh cảm và trí nhớ của Lê Văn Lân. Là Huế trong h́nh ảnh và nguồn gốc của những dữ kiện đầy mầu sắc, diễn đạt qua từng hơi thở của Huế lồng trong cái lăng mạn trử t́nh, cùng những chuyển biến của thời cuộc, và Huế dâu bể sau bao vật đổi sao dời. Hăy đi vào cái thấy, cái biết trong cái nhớ cũng như những rung cảm của ông về xứ Huế. Hăy thấy Huế khi Huế đă ngự trong khuôn viên t́nh sử của ông, được nuôi dưỡng bằng những xúc cảm của ông qua bao ngày tháng. Hăy nghe ông bày tỏ chân t́nh và cái độ xót xa của một nỗi nhớ khi ông mượn lời thơ Xuân Diệu để nói lên t́nh ḿnh với xứ Huế đẹp như mơ:

 

                                          Tôi nhớ tiếng, tôi nhớ h́nh.Tôi nhớ ảnh.

                                         Tôi nhớ em tôi nhớ lắm! Em ơi!

 Và:

                                         Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ

                                         Ai có ngờ ḷng vỡ đă bao giờ.

                                        Mắt không ướt, nhưng bao hàng lệ rỏ

                                        Len tỉ tê thầm trộm chảy vào trong!   

 

Xin cống hiến độc giả bốn phương ḥai cảm của Lê Văn Lân trong bài viết nầy, về những nơi chốn và cái t́nh mang đầy mầu sắc thơ văn kịch nghệ. Tác giả viết để chia sẻ với những người thương Huế, cũng như đưa một nét nh́n về khía cạnh nghệ thuật của đời sống Huế với những ai đă nghe hoặc chưa nghe về Huế.

Tác giả mong mỏi được đón nhận những chia sẻ từ phía độc giả, như h́nh ảnh hoặc những bổ túc góp ư để làm phong phú những bài viết sắp tới trong phạm vi  KỊCH NGHỆ của HUẾ.

  Mời các bạn bước vào thế giới đầy mầu sắc và âm thanh của Kinh đô văn vật trử t́nh, để cùng bâng khuâng với tác giả...

 

* * *

Nỗi buồn thế kỷ

 

            Cứ mỗi lần Tết tới là mỗi lần ḷng tôi tự nhiên  man mác với một nỗi buồn vu vơ không tên .  Bây giờ th́ tôi  hiểu tại sao và tạm gọi nó là “nỗi buồn thế kỷ”!

            Đời tôi đă trải dài hơn ba phần tư thế kỷ 20 và thời gian sống ở Huế chiếm trọn 20 năm đầu đời khi mà những kỷ niệm đă ăn sâu vào tiềm thức của tôi.   Với đầu óc suy lăo hiện nay th́ chuyện trước mắt bắt đầu quên trước quên sau đă đành mà chuyện xa xưa đời cố hỉ cũng bắt đầu lú lẫn mặc dù tôi vẫn một ḷng trân quí chúng.  Bao nhiêu h́nh bóng kỷ niệm thời tiền chiến của đời tôi bây giờ cách đây hơn nửa thế kỷ kể như chôn vùi trong cát bụi của huyệt mộ thời gian. Tôi biết rồi đây theo qui luật,  trương mục đời tôi cứ mỗi ngày mỗi cạn đễ rồi triệt tiêu với hơi thở cuối cùng khi giă từ nhân thế.

            Tôi nghĩ mọi người ai cũng mang nỗi buồn nhân thế như thế nhưng không nói ra.  Nhưng h́nh như mang thân phận Việt Nam với hoàn cảnh loạn lạc chiến tranh, chúng ta có lẽ buồn hơn thiên hạ đấy! Lư do là khi muốn khơi nguồn về dĩ văng th́ chúng ta khó mà t́m lại những tàn tích vật chất của quê hương  v́ chúng đă đổ nát, ngay vài tấm ảnh gia đ́nh  thời thơ ấu của chúng ta cũng vô phương kiếm thấy.

Thăm lại Huế xưa niềm ngao ngán

Ai kẻ tâm t́nh chia xẻ chăng!

            Bây giờ, trong tâm t́nh của nỗi buồn thế kỷ, quí bạn hăy cùng tôi ôn lại vài h́nh bóng những hí viện ( : nơi vui đùa) cũ  ở Việt Nam và  những kỷ niệm về  sự coi hát  ở Huế vào những thập niên đầu của thế kỷ vừa qua.

 

Những tên gọi trong ngôn ngữ

            Trong chữ Hán, để chỉ nhà hát thường dùng những chữ Viện, Đường, Lâu, Đài, Trường…  Tiếng Việt thông thường để gọi những hí viện gồm những chữ như rạp hát, nhà hát…

            Tiếng “Rạp” là tiếng phổ thông nhất, chẳng hạn ở ngoài Hà Nội có rạp Quảng Lạc (廣樂 nghĩa là niềm vui rộng khắp) hay rạp Sán Nhiên Đài ( 粲然臺:chỗ vui dởn tự nhiên) vào những thập niên 30, 40 ǵ đó, c̣n ở Huế  một thời có những rạp như rạp Tân Tân (新新: luôn luôn mới lạ) trên đường Trần Hưng Đạo), rạp Morin (bên phố Tây), rạp Châu Tinh ( 周星: Sao sáng hàng tuần) bên Gia Hội). Nhưng chỉ riêng rạp Đồng Xuân Lâu ( 同春樓: ngôi lầu cùng hưởng mùa  xuân) c̣n mang một cái tên rất b́nh dân, rất Huế là “Trường hát Bà Tuần” hay nói gọn là “Trường Bà Tuần” th́ ai cũng biết ngay!

            Về danh từ “Nhà Hát”th́ ở Việt Nam c̣n tồn tại hai Nhà Hát Lớn là hai cơ sỡ kiến trúc đại qui mô do người Pháp xây một ở Saigon, một ở Hà Nội. Nhà hát lớn Hà Nội (Hanoi Opéra)  xây cất từ 1901- 1911 mới xong là phiên bản của một nhà hát ở Pháp tên là Opéra Garnier de Paris. Nhà hát lớn Saig̣n (Théâtre Municipal) xây năm 1900 theo họa đồ của kiến trúc sư Victor Guichard

 

Nhà hát lớn Saigon

 

Nhà hát lớn Hà Nội

 

            Cái tên “Trường” đặc biệt làm tôi nhớ lại rằng đất Huế  vào đầu thế kỷ qua có lắm nơi được gọi là ” trường”:  Bên cạnh những trường dạy chữ, dạy nghề  và cầu Trường Tiên  mà nay vẫn c̣n sau bao giờ gẫy đổ và xây lại th́ vào thời niên thiếu của tôi, tôi c̣n  thấy vết tích của khu Trường Thi  chữ nho ở khu Canh Nông, c̣n nhớ  bến đ̣ Trường Súng ở băi tập bắn thời xưa, c̣n vào chơi trường gà của Ông Hoàng Mười, và đặc biệt  nhất coi hát ở Trường Bà Tuần tức là rạp hát  Đồng Xuân Lâu. 

            Vào năm 1945, Trường Bà Tuần đă  có một tuổi đời súyt sóat  gần 25 năm ỡ đất Cố Đô thế  mà nay khi tôi về thăm Huế cách đây 4 năm th́ hoàn toàn mất tiêu và bị thay thế bằng một dăy phố buôn bán.

            Đối với lớp người Huế cao niên thất bát tuần, họa may c̣n nhớ những chi tiết về Trường Bà Tuần.  Vị trí cùa nó nằm trên đường Ngă Giữa (sau này là đường Gia Long thời VNCH), nh́n qua đường là một con hẽm trổ ra đường Huỳnh Thúc Kháng  dọc bờ sông Đông ba ( dân Huế quen gọi là đường Hàng Bè v́ có nhiều nhà bán lồ ô kết thành bè dưới sông.)

 

Những sân khấu cung đ́nh

            Về phương diện khảo cổ, đất Huế c̣n những hí viện hay sân khấu xưa hơn nữa không?  

            Thưa rằng có! Truớc hết là nhà hát riêng cho vua coi ở trong Đại Nội gọi là Duyệt Thị Đường  và một sân khấu trong Cung An Định là nơi ở của vua Khải Định khi c̣n tiềm để hay  Hoàng tử Bửu Đảo bên bờ sông An Cựu.

 

            _ Về Duyệt Thị Đường ,  sách Cố Đô Huế (Lịch sử-Cổ tích- Thắng cảnh) của học giả Thái văn Kiểm chép rằng:

            Khoảng giữa hai điện Cần Chánh và Càn Thành, bên tả có điện Quang Minh và bên hữu có điện Trinh Minh. Điện Quang Minh trước là chỗ ở của Đông cung Hoàng tử, điện Trinh Minh là chỗ ở của các bà Phi.

            Phía đông điện Quang Minh có Duyệt Thị Đường ( 是堂 ) là nhà hát của vua. Phía đông Duyệt thị đường có nhà Thượng Thiện là nhà nấu các bữa ăn của vua, viện Thái Y là chỗ thầy thuốc của vua, và Thị Vệ trực pḥng là chỗ túc trực của vơ quan hầu cận.

            [ Như vậy, nhà hát riêng của vua nằm trong cung cấm với vợ con với những cơ sở phục vụ cho nhu cầu riêng cho ngài như ăn uống, thuốc thang của vua, kẻ hầu người hạ.  Khi trường Khải Định tạm thời dời vô Nội, bản thân tôi đă  ṭ ṃ đi lang thang có lẻn tới coi Duyệt Thị Đường. Hồi 2001, tôi trở về thăm Huế th́ thấy hoang tàn, đổ nát đang được trùng tu. Theo cố sự truyền khẩu, nhà vua thi sĩ Tự Đức không những thích đọc thơ nôm Thúy Kiều mà c̣n thích coi hát bội ở nhà Duyệt Thị Đường với các quan đại thần, ngài lại thích hút thuốc lá trong khi coi diễn.  Thuốc điếu thường vấn sẵn kiểu sâu kèn để ngài hút được dán bằng nhựa trái chuối cau rồi bó lại bằng một dung giấy]

 

            _ Về nhà hát trong cung An Định có tên là Cửu Tư Đài , bác sĩ Hoàng Thế Định ( cháu gọi bà Từ cung là cô ruột ) viết trong thư cho tôi như sau:

            Trong cung An Định, có xây một Théâtre lớn kiểu như các Théâtres ở Pháp cùng thời, với sân khấu rộng lớn và dưới sân khấu là pḥng hóa trang, có phông màn, 2 cánh gà cũng rất rộng và hai bên để diễn viên chuẩn bị.  Một khoảng sân (dành cho khán giả rất rộng) có khi dùng để nhẩy đầm. Tầng trên dọc hai bên cho thượng khách và vua.  Kiến trúc rất tỉ mỉ, các h́nh rồng gắn bằng mảnh sành đủ sắc với ṿm nóc thuẫn trang trí rất đẹp. Về sau bị bom đạn phá sập một đọan gần cung vua ngư ở chơi (phía mặt tiền nh́n ra sông An Cựu).

            [Lời viết trên rất phản ảnh về con người của vua Khải Định.  Tuy mang tiếng là vua bù nh́n thời Pháp, nhưng vua Khải Định là một người đáng chú ư. Lúc c̣n là ḥang tữ Phụng Hóa Công bên bờ sông An cựu, ông tự tay trang hoàng cung An Định với một năng khiếu  trang nhă và chăm lo học hỏi về  hội họa và âm nhạc. Với một đầu óc nghệ sĩ với đầy ư nghĩa sâu xa của danh từ, một sự bén nhậy tinh tế, một sự khéo  tay đặc biệt, ông chăm lo đủ thứ.trong cái giang sơn nhỏ này.  Ông rất xuất sắc trong sự thay đổi thiết kế của khu vườn, t́a cây cảnh và săn sóc cây ăn trái.  Ông lại biết huấn luyện ngựa để đua hay để cưỡi họăc thắng xe.( De Tessan – S.M Khai Dinh, Empereur d’ Annam- La Revue de Paris – 1/7/1922) . Cung An Định xây trong hai năm mới xong (1917 – 1919).  Họa sĩ Lương  Quang  Duyệt  đương thời có vẽ những bức tranh lớn để trang hoàng nội thất]

 

            _Về sự giải trí của giới vương tôn cuối triều Nguyễn ở cố đô Huế, có lẽ rất ít người c̣n nhớ về Phủ Bà Chúa Nhứt với cái ḷ đào tạo những nữ ca sĩ của bà.  Bà là con gái đầu của nhà vua yểu mệnh Dục Đức (1884) và là  chị của vua Thành Thái ( 1889) bị Pháp đầy qua đăo Réunion ở Phi Châu.. Khuê danh của bà Công tằng tôn nữ Tốn Tùy được phong tước hiệu Công Chúa Mỹ Lương. Bà Chúa Nhứt là người sáng lập ra ban ca múa kịch nghệ của sân khấu cung đ́nh vào tiền bán thế kỷ 20. Phủ của Bà Chúa Nhất nuôi dạy khoảng 50 bé gái để huấn luyện thành những ca diễn viên cho những tŕnh diễn của cung đ́nh.Và có một thầy đờn khiếm thị gọi là cụ Cù chuyên dạy về các thứ đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt. {Lời người viết: Trong đám bằng hữu đồng học cùng trang lứa với tôi, có nhiều người có mẹ là một trong vài danh ca thời cựu trào xuất thân từ ḷ đào tạo của Bà Chúa Nhất.  Khi tôi gặp các cụ lúc tới thăm các bạn này, tôi thấy các cụ tuy già nhưng c̣n phảng phất nét đẹp xưa một thời xuân sắc (XEM H̀NH).

 

Những Sân khấu dân giă

            Trở về với những rạp hát xưa, ngoài Trường Bà Tuần có một điều rất ít người biết là ngoài dân giă, c̣n có nhiều rạp hát ở nhiều nơi. 

            Trước hết có một trường hát bằng tre trong phủ An Hưng Vương ở xóm Hột Mát ở đường Hàng Đường đối diện với đường  Hàng Bè dọc theo bờ  sông Đông Ba, gần chùa Diệu Đế và trại Tế bần thời Pháp có tên Asile de Nuit, gần nhà của giáo sư Tôn Thất Đào dạy vẽ tại trường Quốc Học – Huế.  Băng ghế cho khán giả làm toàn bằng tre.  Trường hát này bị bỏ trống từ lâu truớc Trường Bà Tuần.  Sở dĩ tôi biết rơ là tôi có một người bạn tên Lạc là con một ông cai phú-lít ở nhờ trong phủ này.

            Và ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, quê hương của bà Từ Cung, cũng có một trường hát tương tự bằng tre h́nh như do ông Hoàng Mạnh Biên (bà con với bà Từ Cung) cất.  Cấu trúc giống trường hát của An Hưng Vương, nhưng rộng lớn hơn, trong ḷng rạp là chỗ để ghế cho khách hạng cao, c̣n khán giả b́nh dân ngồi hai bên trên những bục tre.Tôi tả rơ ràng như trên v́ tôi đă tản cư về làng Mỹ Lợi khi Chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12, năm 1946.

             Nếu kể cho đủ th́ ở vài vùng quê ở Huế, mỗi khi có gánh hát  hát bội hay ca Kim Sanh lưu diễn th́ có những rạp ở những nơi như “ Dạ Lê, An cựu, Kim Long, Vỹ Dạ, Truồi, Sịa… Vé vào cửa; hạng nhứt 2 giác (20 xu), hạng nh́ một giác ( 10 xu) và hạng ba 5 xu.” (Xuân Mai – Băng Tâm, Linh Hồn sân khấu Kim Sanh – Tiếng Sông Hương Dallas 1995)

            Và cũng nên nhắc kẻo thiết sót trầm trọng là tại làng Vĩ Dă , nơi Bến Đ̣ Cồn, có một trường hát quan trọng của dân giă gọi là Xuân Kinh Đài ( rạp hát của kinh thành Phú Xuân) , nơi từng diễn vở tuồng Lộ Địch của cụ Ưng B́nh Thúc Giạ Thị viết xong vào năm 1936 và  diễn lần đầu vào năm 1937.  Trong cuốn Hồi Ức về cha tôi: Ưng B́nh Thúc Giạ Thi, bà Tôn nữ Hỷ Khương viết:

 

            “Lộ Địch là vở tuồng thầy tôi sáng tác dựa theo vở kịch Le Cid của nhà thi hào nước Pháp Corneille.

            Sinh thời, thầy tôi có nhiều lần tâm sự: “Con biết không, thầy làm vở tuồng này công phu lắm. Bao nhiêu mẹo mực, t́nh tiết, luật lệ từ kịch Tây chuyển qua tuồng ta, phải thay đổi làm sao cho đúng và hợp t́nh, hợp lư, nhất nhất phải phù hợp với tâm hồn và luân lư Á Đông.  Làm quyển tuồng này, công phu khó nhọc gấp mấy chục lần so với một tập thơ.

 

            Nói đến những tṛ giải trí ca hát, chúng ta phải nhắc đến sự chơi bài cḥi hay thả thơ hay những buổi ḥa nhạc cổ.  Đáp ứng cho nhu cầu này  th́ có thể đó là những sân khấu tạm thời cất bằng tre tranh hay là sân đ́nh hay một phủ đệ nào đó như trường hơp  Chợ Gia Lạc  của Định Viễn Vương chăng?   Tiếc rằng tôi chưa kiếm ra những h́nh ảnh ở Huế, nhưng chúng ta hăy t́m coi lại những tấm ảnh của Dr Hocquart về Việt Nam trong thời Pháp thuộc sơ khởi để gọi là có một ư niệm về những sân khấu b́nh dân ở vùng quê ở Huế

             

Sân khấu ở thôn quê ( ngoài Bắc)

 

 

Nữ vũ công ( trong phủ quan)

 

 

 Diễn tuồng trong sân một phủ đệ

 

 

Những sân khấu hội trường ở Huế

            Ở  Huế trước 1945,  tuy không có một cơ sở lớn như Nhà Hát Lớn ở Saigon hay Hà Nội, nhưng thay thế vào đó là những hội trường lớn của những nơi sau:

_ Hội Quảng Tri (廣知): phổ biến văn hóa tri thức) xây trên đường Hàng Bè  ngó ra sông Đông Ba. Nơi này là hội trường cho những cuộc diễn thuyết vào thời trước, học giả Phạm Quỳnh cũng từng nói chuyện ở dây (Tạ Quang  Bửu- Bốn năm học trường Quốc Học). Tôi c̣n nhớ vào năm 1946 ǵ đó, ban kịch Anh Vũ của nhà thơ Thế Lữ  cũng lưu diễn vở kịch Lôi Vũ của Tào Ngu tại Hội Quảng Tri.  Và cũng nơi này có tổ chức đón tiếp nhà văn Hàn-lâm Pháp Georges Duhamel và vài lần tổ chức kỷ niệm văn hào Nguyễn Du. 

_ Nhà Accueil (Nhà nghênh đón) gần nhà thờ Ḍng Chúa Cứu Thế bên phố Tây, nơi có tổ chức những buổi diễn kịch Pháp với những vở của nhà văn Molière. Tôi c̣n nhớ tại nhà Accueil đă diễn những vở tuồng sau:

_ Tuồng L’Avare (mà ông Nguyễn văn Vĩnh dịch là Người Biển Lận) với nhân vật chính là lăo hà tiện Harpagon

_ Tuồng Le Bourgeois Gentilhomme (Trưởng giả học làm sang) với nhân vật chính Jourdain là nguời giàu mới nổi nên học cung cách quí phái một cách rất dởm.

            Tại nhà Accueil, hàng năm c̣n tổ chức những buổi phát phần thưởng lớn mời nhiều quan khách Việt Pháp, h́nh như có mời bà hoàng hậu Nam Phương chủ tọa! Ngoài ra, nhà Accueil c̣n có một thư viện lớn cho giới học sinh.

            Nói đến sự viết tuồng tích ở Huế, ta không thể không nhắc tới những tên tuổi danh tiếng một thời ở Huế như Hoàng Trọng Đồng, Hoàng Trong Cảnh , Vũ Đức Duy  của ban ca kịch Kim Sanh viết những vở tuồng về xă hội như Thói Đời Đen Bạc, Giọt máu rơi,  T́nh là giây oan, Ṭa án lương tâm, Tù Vượt Ngục… (Riêng về Vũ Đức Duy, ông  từng viết nhiều vở thọai kịch cho sân khấu Huế , Sàigon và đài truyền h́nh thời VNCH)…

            Về thoại kịch ở Huế,  tôi chưa có tài liệu đă bắt đầu vào lúc nào  nhưng dưa vào bài viết của bà Xuân Mai ở trên là : Sau thời gian hồi cư 1948- 49, một ban thọai kịch thành lập khởi đầu với thành phần gốc Kim Sanh như Vũ Đức Duy, Châu Kỳ  và sự hợp tác của những nghệ sĩ như hai chị Quốc Thuận, Diệu Khánh, các ông như Vĩnh Phan, Tôn Thất Cảnh, Lê Quang Nhạc…nhiều lần tŕnh diễn tại hội Quảng Tri , đánh dấu giai đoạn ngắn ngủi phục hồi môn kịch đó tại cố đô.

            Cũng nên nhắc đến nhà trí thức hữu danh Lê Hữu Khải ( về sau là giáo sư dạy Kịch Nghệ tại  Văn khoa Đại Học Huế)  từng viết những vở kịch như Bạch Viên Tôn Các, Lằn Roi Dư Nhượng …

 

Tuồng Sơn Hậu tại Trường Bà Tuần

            Bây giờ, th́ các bạn mới hiểu tại sao tôi dùng chữ Nỗi Buồn Thế Kỷ v́ trong bao nhiêu những hí viện, rạp hát và sân khấu Việt Nam, ngọai trừ hai nhà Hát Lớn xây bê tông cốt sắt ở Hà Nội và Saigon, th́ có c̣n ǵ nữa đâu với lớp sóng tang thương, dù ngay cả một tấm ảnh nhỏ th́ cũng không c̣n!  Tôi coi như là một mất mát hao hụt lớn trong lịch sử xứ Huế. ( May thay, ông Đặng Ngọc Ấn, một người cháu nội của Bà Tuần  có gửi cho tôi một tấm h́nh về lễ Thất Tuần của bà Tuần Vũ Đặng Ngọc Oánh mà tôi rất trân quí)

             Nói ra, các bạn đừng cười, Trường Bà Tuần tuy là một rạp hát tầm thường nhưng lại có một tầm vóc lớn với tôi.  Không nói đại ngôn, tôi coi nó là một thứ trường học mà tôi đă học nhiều điều mà sách vở nhà trường chính thức không có dạy…Nơi này đă khai tâm rất sớm cho tôi với những kiến thức về hát bội, về ca Huế, về cải lương.  Từ nơi này, tôi đă sống đũ thứ hỉ nộ ái ố của cuộc đời diễn tra trên cái hí tường nhỏ hẹp cổ lỗ… May mà thuở niên thiếu, tôi không mê “trường gà”.   

             Tôi c̣n nhớ trong ba ngày Tết, dân Huế có tục bói tuồng và Trường Bà Tuần mở cửa liên tục suốt ngày. Những vở tuồng thường diễn tại Trường Bà Tuần là tuồng San Hậu, tuồng  Giang Đông Phó Hội, tuồng Giang Tả Cầu Hôn, Dư Nhượng Đả Long Bào

            Riêng về tuồng Sơn Hậu là vở tuồng quen thuộc cho ngày Xuân, khiến người dân Huế thuở xưa đâm ra thuộc ḷng t́nh tiết. Đây là vở tuồng đề cao ḷng ái quốc trung trinh mà cốt truyện như sau:

                        Vua Tề vương Thiện Đế lớn tuổi mà chưa có con trai.  Lăo tuớng Phàn Định Công nằm mộng thấy      thần linh mach bảo phải dâng con gái của ông vô cung làm Thứ Phi th́ nhà vua mới có con trai nối nghiệp, nên ông bèn tiến nàng vô cung vua.  Sau đó, ông ra trấn ngoài biên ải. 

                        Rồi nhà vua lâm bệnh nặng qua đời.  Thái sư Tạ Thiên Lăng là người nắm quyền  lực nhân cơ hội này muốn tiếm ngôi, bèn hạ ngục bà Thứ Phi đang mang thai. Nhưng trong triều c̣n có những tôi trung là hai    người: Đổng Kim LânKhương Linh Tá hợp tác với bà Nguyệt Hạo t́m cách cứu bà Thứ Phi ra khỏi ngục và đi trốn. Thứ Phi sanh con trai dưới sự đỡ đẻsăn sóc của bà Nguyệt Hạo, nhưng Thái sư Tạ Thiên Lăng cho quân đuổi bắt.  Trong t́nh thế khẩn cấp, Khương Linh Tá quyết một ḿnh ở lại để cản đường để Đổng Kim Lân pḥ tá bà Thứ Phi chạy thóat..  Nhưng Khương Linh Tá bị Tạ Ôn Đ́nh chém đứt đầu. Nhưng kỳ dị thay, tuy chết rồi, thâu Khương Linh Tá vẫn hốt máu của ḿnh văi vào mặt kẻ thù, rồi tự xách đầu của ḿnh mà chạy theo Đổng Kim Lân đang bế Ḥang tử  ấu chúa  mới sanh. Có một lúc, bà Thứ Phi bị lạc, nên Ḥang tử bị đói sữa nên Đổng Kim Lân bèn cắn móng tay của ḿnh cho Ḥang tử nút máu khỏi khát. Rồi trong đêm tối  trập trùng, hồn Khương Linh Tá hiện lên làm ngọn đèn hướng dẫn Đổng Kim Lân bế Hoàng Tử qua núi đến thành San Hậu.

                        Lăo tướng Phàn Định Công ngoài quan ải nghe tin Tạ Thiên Lăng cướp ngôi , bèn kéo quân về nhưng v́ bị uất ức quá nên ông ngồi trên lưng ngựa hộc máu té nhào xuống mà chết. Nhưng con trai của ông là Phàn Diệm thay cha cầm quân, tạm rút lui để chính đốn binh mă rồi bắt liên lạc với Đổng Kim Lân. Thế rồi kết  cuộc phe trung trực chính nghĩa, phản công mănh liệt, kéo về Triều để đánh bại Tạ Thiên Lăng và Hoàng tử lên ngôi vua. 

 

            Tuồng Sơn Hậu chứa những t́nh tiết éo le, bi thương lẫn hào hùng nên khán giả hồi hộp theo dơi mặc dù thuộc ḷng cốt truyện, nhất là rất căm tức phe ác nịnh khi đắc thế và hả hê khi phe trung trinh thắng cuộc vào đoạn chung kết. Cũng nên nói thêm, cụ Đào Tấn một vị quan lớn của triều đ́nh Huế và đồng thời là nhà viết tuồng hát bội danh tiếng, về hưu ở Huế vào năm 1907 đă ở ngôi nhà gọi là “Hương Thảo Thất” dựng tại sở đất số đường 24 Ngự Viên gọi Mai Viên cho đến khi về quê nhà B́nh Định. Trong nhà cụ có xây một núi non bộ lớn đồ sộ “Mỗi khi đêm khuya, có hát bội tại đây.   Hồn Khương Linh Tá đưa Đổng Kim Lân qua đèo là trèo qua ḥn non bộ ấy. Trước ḥn non bộ, cụ Đào Tấn xây một cái bể nhỏ không bờ cao, gần sát đất để hát bội những màn cần thiết như đi thuyền, màn Triết Giang đoạt A Đẩu… (Ngôi Nhà Cụ Đào Tấn – hồi ức của Bs Thái Can)

 

Tục bói tuồng và những kiểu mặt nạ hóa trang

            Tôi c̣n nhớ ở Huế thuở trước, có tục bói tuồng ngày Tết như sau: Nếu lúc đang hát mà ḿnh vô rạp gập những vai trung chẳng hạn như Đổng Kim Lân mặt đỏ đương hát th́ kể như năm đó sẽ gặp quí nhân pḥ trợ dù rằng phải gặp nhiều trở ngại khó khăn… Ngược lại, mới vô mà gặp lúc gian thần đang đắc thời, đắc thế th́ năm đó làm ăn sẽ không khá mà có bề hắc ám.

            Sau đây là những mặt nạ trong tuồng Sơn Hậu:

1) Phàn Định Công             2) Tạ Ôn Đ́nh                3) Khương Linh Tá         4) Đổng Kim Lân

 

          

       Hồi nhỏ, tôi mê hát bội và thường chui ḷn lẻn vô hậu trường sân khấu Trường Bà Tuần để coi những diễn viên vẽ mặt mà mang râu.Tuy thích thú nhưng hoàn toàn không hiểu về cách thức mỗi nhân vật phải mang mặt nạ ǵ?   Mới đây, qua cuốn sách Nghệ Thuật Hát Bội Việt Nam của Nguyễn Lộc và Vơ văn Tường (Nhà xuất bản Hà Nội 1994) th́  mới có khái niệm khá rơ về vấn đề vẽ mặt của Hát bội đại khái như sau liên quan đến tuồng Sơn Hậu như sau:

            _ Mặt mầu đỏ là loại kép văn pha vơ  trung trinh như Kim Lân.

            _ Trong nghệ thuật hóa trang, nhiều nhân vật kép vơ chính diện vùng mắt được vẽ h́nh con chim bay, đầu chim ở khóe mắt, giáp sống mũi, cánh chim lấp cả lông mày, xếch lên thái dương và cánh kia dưới mắt , xếch lên bên trên tai, tạo thành những tṛng tréo. Trrường hợp tṛng xéo màu xanh th́ như Khương Linh Tá

             

            Có vài điều lư thú nên biết về sự bôi mặt hát bội.  Một điểm chung cho tất cả nhân vật được hóa trang là toàn thể được bôi màu, chỉ riêng vùng sát quanh mắt là để tự nhiên.  Điều này có lẽ là dấu vết ngày xưa diễn viên đeo mặt nạ phải khóet hai lỗ mắt mà nh́n, nhưng có người lại giải thích là phải để trừa hai lỗ trống để biểu lộ tinh thần của đôi mắt khi diễn xuất.  Phần quanh mồm không vẽ v́ nơi này sẽ mang râu. (Trong tiếng Pháp, chữ Personne hay Personnage chỉ vai tṛ hay nhân vật trên sân khấu, là do chữ la-tinh persona là cái mặt nạ hóa trang)

            Một điều ít người biết là  những mặt nạ hóa trang chỉ áp dụng cho những  vai kép nam đóng vai trung, vai nịnh, c̣n các vai nữ th́ không cần bôi mặt nạ trừ trường hợp vai Chung Vô Diệm  mặt mày xấu xí (h́nh A)  hay Đào Tam

Xuân (h́nh B) th́ khuôn mặt chia làm hai từ trán xuống sống mũi xuống cằm có một lằng dọc, nửa mặt trắng, nửa xanh nhạt

 

Nhủ rồi tay lại cầm tay…

            Chắc có người thắc mắc tại sao thuở mới lớn tôi lại mê hát bội?  Nói chân t́nh, thưởng thức được hát bội không phải dễ dàng, v́ ng̣ai chuyện  hiểu tuồng tích mà c̣n phải biết nghe hát và biết nhận xét bộ điệu của các diễn viên… May mắn cho tôi là trong xóm Đông Ba nơi tôi ở hồi nhỏ, có ông cụ già làm nghề thợ mă ở cạnh nhà thích ngồi giảng giải chuyện tuồng tích cho lũ con nít chúng tôi…nào là Phong Thần, nào là Tam quốc, nào là Tây Du… Rồi lớn lên thêm một chút, tôi lại kiếm thêm sách mà đọc.  Nhưng cũng nhờ ông cụ chỉ vẽ về cách xem hát nên mới gọi là bắt được cái thú vị khi coi hát bộ mặc dù mới đầu tôi khó chịu với những tiếng hát như rống vào tai… nhưng tôi lại thích chú ư mềm ḷng những lúc diễn viên hát nỉ non trong những đọan ly biệt người chồng lên ngựa ra trận c̣n bà vợ cứ níu áo, dặn ḍ đủ thứ và quyến luyến cầm tay không chịu cho đi!

            Nhờ coi hát bội, mà sau này học Chinh Phụ Ngâm tôi mới thấm thía cái hay của câu thơ chữ Hán trong bản nguyên tác của Đặng Trần Côn về đọan biệt ly:

 

Ngữ phục ngữ hề, chấp quân thủ

     

Bộ nhất bộ hề, phan quân nhu.

      君襦

 

            Bà Đoàn thị Điểm diễn nôm như sau:

 

Nhủ rồi tay lại trao liền,

Bước đi một bước lại vin áo chàng!

 

            Dịch nôm như vậy quả là tuyệt nhưng xét về cách điệp ngữ cố ư của những chữ Ngữ…Ngữ…, Bộ… Bộ… ( lời…lời.., bước …bước…)  trong chữ Hán th́ câu dịch dù khéo thế nào cũng không diễn tả đúng cái nhịp điệu và ngẫu đối của nguyên văn nên tôi mạo muội cố dịch sát một phần nào chăng?

 

Lời tiếp lời… tay chàng em xiết chặt

Bước lại bước… áo chàng em níu theo!

 

            Coi hát bội, khán giả phải giầu tưởng tượng mới thấy cái hay.  Thiệt mới đúng là cảnh biệt ly “tay chia khôn dứt áo, chân rời khôn bước đi”!

 

Trường Bà Tuần đă đi vô ngôn ngữ xứ Huế

            Với sự họat động nhiều năm phục vụ cho nhu cầu giải trí của người dân xứ Huế, Trường há Bà Tuần đă tạo ra nhiều tiếng rất đặc biệt như:

-Chuồi: là đưa lén ít tiền cho người gác cửa sóat vé để vô coi lậu, chuồi tiền là chuồi lót để người ngoài không thấy

- Thả cửa: Ra vô tự do. Thông thường vào 5-10 phút trước khi tuồng văn th́ để cửa trống không có người gác để mặc ai ra vô tùy ư. Hiểu theo nghĩa rộng là tha hồ như chơi thả cửa, ăn thả cửa không ai cấm cản

- Khơ cắc: Khi sắp văn hát, trống của rạp hát Bà Tuần không đánh th́ thùng nữa mà chỉ đánh  một hồi “cắc cắc” báo hiệu. Ví dụ:  Trường Bà Tuẩn khơ cắc rồi, liệu mà đi ngủ để mai đi làm

- Tức hộc máu: tức ghê lắm, nhắc lại điển tích Chu Du thua mưu Gia cát lượng tức quá mà thổ huyết chết.

- Nói Kim Sanh:   tức là ăn nói kiểu văn hoa, nóiđầy kịch tính cưỡng điệu như các đào kép của gánh ca kịch Kim Sanh; (Nói Kim Sanh có đôi lúc c̣n nói là : Kim Sanh ca rằng!  Gánh ca Kim Sanh là gánh thường diễn tại rạp Bà Tuần)  Ăn nói Kim Sanh cũng như trong Saigon người ta nói: Ăn nói Cải Lương!

 

      BàTuần là ai? Gánh ca Kim Sanh là ǵ?  Những câu hỏi này sẽ là những bài viết dài riêng biệt khác, đầy lư thú cho những Ôn Mệ c̣n nhớ chuyện Huế cách đây hơn nửa thế kỷ. Xin “hạ hồi phân giài”

 

Đời là một hí viện lớn!

      Để kết thúc bài viết này với nỗi buồn Thế Kỷ, tôi bất giác nhớ lại bài thơ Thăng Long Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan:

 

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương.

 

      Nhắc đến những hí viện, những rạp hát, những sân khấu của ngày xưa, tôi thấy buồn man mác … nhất là nhắc lại Trường Hát Bà Tuần. là ngôi trường “khai tâm” bao nhiêu tâm t́nh hỉ nộ ái dục của cuộc đời!

 

      Nhắc đến Trường hát Bà Tuần, măi đến bây giờ , trong tâm trí  của tôi c̣n âm vang những tiếng ca điệu hát véo von của những diễn viên, những tiếng trống tiếng kèn hàng đêm dục dă tôi , nhớ những mùi khói thơm nghi ngút của những gánh hàng rong trước cửa rạp như bún ḅ, cháo lươn … thậm chí ( nói ra bạn chớ cười ốt dột!) tôi c̣n nhớ phảng phất ….cái mùi mồ hôi của những khán giả b́nh dân vào những ngày nóng bức, cái mùi “hôi xoong” ở cánh cửa sau rạp có viết ba chữ bằng sơn đỏ thật lớn: Cấm Phóng Uế!

 

      Đối với một nơi đầy kỷ niệm của tuồi hoa niên mà tôi thân ái gọi bằng Em, th́ tôi có thể nói như Xuân Diệu là:

 

Tôi nhớ tiếng, tôi nhớ h́nh.Tôi nhớ ảnh.

Tôi nhớ em tôi nhớ lắm! Em ơi!

(Tương tư Chiều)

 

Và:

 

Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ

Ai có ngờ ḷng vỡ đă bao giờ.

Mắt không ướt, nhưng bao hàng lệ rỏ

Len tỉ tê thầm trộm chảy vào trong!

 

(T́nh thứ nhứt- Xuân Diệu)

 

      Ôi! Bên cạnh những đổ nát tiêu thất của cơ sở vật chất là sự ra đi biền biệt của những bóng nhân vật đă từng một thời thủ những vai tṛ hát bội vô cùng tuyệt diệu với những tiếng trống chầu tán thưởng tưng bừng.

 

Tất cả đă đi về đâu nhỉ? 

 

LÊ VĂN LÂN

 

 Lời người viết: Bài bút khảo này viết dưới dạng bút khảo hồi ức pha sưu khảo, dựa phần lớn vào trí nhớ của tôi và ít nhiều vào những tư liệu hạn hẹp của tủ sách gia đ́nh cùng những sự góp ư, nhắc nhở nhiệt t́nh của các bằng hữu qua điện thọai viễn liên hay điện thư.  Người viết chân thành mong đón nhận nhiều sự chỉ giáo của quí vị độc giả bốn phương để bổ khuyết những sự sai lầm thiếu sót.  Xin đa tạ

 

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 02/07/07