TRÊN TRỜI DƯỚI ĐẤT VỀ HEO


Bảo Lâm

 

Năm nay là năm con heo, năm Đinh Hợi.

Hợi là chi cuối cùng, chi thứ 12 của thập nhị chi. Hợi chỉ đi với 5 can là Ất, Đinh, Kỷ, Tân và Quí để thành Ất Hợi, Đinh Hợi, Kỷ Hợi, Tân Hợi và Quí Hợi.

Giờ Hợi là từ 9 đến 11 giờ đêm.

Giờ Hợi là giờ quái đản và ấm ớ không làm ǵ được. Giờ Tí canh ba th́ c̣n lạng quạng để... em nó sợ đụng giường má hay chứ giờ Hợi cả nhà c̣n thức th́ nói chuyện heo chuyện lợn cũng chán.

Hợi là tên của chi. Hợi không có nghĩa là lợn.

Người Tầu có họ Hợi. Người Việt th́ không.

Con heo, con lợn trong chữ Hán là trư viết bằng bộ thỉ.

Thỉ cũng là con lợn. Thỉ tâm là ḷng tham, ḷng lợn, là tính tham lam. Thỉ tâm th́ xấu nhưng ḷng lợn chấm mắm tôm th́ ngon tuyệt. Ấy là ḷng lợn tươi. Chứ ḷng lợn thiu th́ thà... ở vậy c̣n hơn. Ca dao đă có câu "trai tơ lấy phải nạ ḍng, khác chi mắm thối chấm ḷng lợn thiu."

Thỉ giao, thú xúc là cách đối xử bất kính, mọi rợ, thiếu văn hóa ví như thú vật giao lưu với nhau.

Cũng thuộc bộ thỉ c̣n có chữ ba nghĩa là heo cái. Đồn là heo con. Nhưng đồn nhi th́ lại là lối xưng hô khiêm cung khi nhắc tới con ḿnh trong lúc nói chuyện với người khác. Kiên là con heo to. Hy cũng là con heo. Hy hy là dáng heo chạy. Trông chắc phải thô tục lắm thế nên cô gái trong bài thơ Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp "không dám đi mau / sợ chàng chê hấp tấp" số vừa gian nan vừa giống lợn chạy.

Người Trung Hoa gọi gia là heo đực. Lâu là heo cái, tông là heo con. Phần là heo thiến.

Trư trong chữ Hán cũng là heo. Trư cẩu đẳng là loài heo, loài chó.

Trư Trạng Nguyên là tên dân gian gọi Nguyễn Nghiêu Tư, một người vừa học dốt lại c̣n vô hạnh, thế mà đi thi lại đậu trạng nguyên nên c̣n có tên là Trạng Lợn. Thành ngữ dốt như lợn chắc phải có trước Trạng Lợn Nguyễn Nghiêu Tư. Ngày nay, trong nước thiếu ǵ những thứ dốt như lợn tốt nghiệp mấy cái phó tiến sĩ ở mấy nước Cộng sản trước đây, bổ đầu ra không có được một chữ, nói ǵ đến kiến thức.

Trư cốt đọc theo âm người Hoa ở Việt Nam thành xí quách. Hết xí quách là không c̣n xí quách nữa, làm ăn bại liệt (?) không ra đâu vào đâu cả. Trư du là mỡ lợn. Trư nhục là thịt heo.

Trư cũng có nghĩa là ngu độn. Tự điển Lê Văn Đức ghi như thế.

Trư tử là con lợn, cũng có nghĩa là người bị bán cho ngoại quốc làm nô lệ, tôi mọi. Trư tử c̣n là chữ mà người Trung Hoa dùng để mỉa mai gọi các ông nghị viên của thời Dân Quốc mới thành lập.

Lợn là tiếng miền Bắc. Heo là tiếng miền Nam, có khi c̣n gọi là cúi. Nhưng con cúi mà ông Cuội trong thơ Nguyễn Khuyến (... cái ǵ trăng trắng như con cúi...) trông thấy th́ lại có nghĩa là cuộn bông to chưa kéo thành sợi, mầu trắng (?) như khu vực chiến lược của các phụ nữ làng Ngang khi đi qua vũng lội, sắn quần lên để lộ ra khiến ông Cuội thích quá và từ đó, làng Ngang, theo Nguyễn Khuyến, được ông Cuội giúp một tay nên đẻ ra toàn một bọn nói dối như Cuội.

Người viết rời xa miền Bắc đă lâu, sống với bạn Nam Kỳ nhiều, lại ăn cơm gạo miền Nam mấy chục năm, cốt Bắc kỳ chỉ c̣n vài ba cái dấu hỏi ngă, c̣n th́ chất Nam kỳ đă chiếm 70%. V́ thế bài viết này sẽ dùng cả hai chữ lợn và heo, không phân biệt Bắc Nam nữa. Thấy lúc nào thuận tai th́ dùng nên trong bài này, lúc dùng heo, lúc dùng lợn, quí độc giả chắc không thắc mắc, khó tính đ̣i người viết phải dùng heo hay lợn th́ cứ dùng một chữ, tại sao lúc lợn, lúc heo.

Thực ra, có lúc phải dùng chữ heo, có lúc phải dùng chữ lợn. Những lúc khác, heo cũng là lợn, lợn cũng là heo.

Thí dụ hai câu đối đáp tương truyền là giữa một ông quan và một cậu bé hay chữ, ông quan nói:

Lợn cấn ăn cám tốn

Cậu bé đáp:

Chó khôn chớ cắn càn

th́ phải dùng chữ lợn v́ không có chữ heo cấn trong tiếng Việt. Hai câu đă gài được đủ bốn quẻ là Cấn, Tốn, Càn, Khôn của bát quái.

Lợn là một trong ba con vật hy sinh (tam sinh) để cúng thần và được dùng trong lễ cưới. Hai con kia là trâu và dê.

Lợn cấn cũng gọi là lợn bột, là lợn đă thiến, không cho hưởng mùi đời nữa nuôi để lấy thịt. Trái với lợn bột, lợn cấn là lợn cà, hay lợn dái, cũng gọi là lợn hạch là lợn đực không thiến, nuôi để lấy giống, cho sống một đời vinh hiển. Tiếng miền Nam gọi là heo nọc.

Lợn ỉ là lợn mặt ngắn, lúc nào cũng nhăn nhó, lưng cong, bụng xệt xuống đất.

Lợn nái là lợn cái nuôi để đẻ. Lợn nái đẻ nhiều th́ gọi là lợn sề.

Nái sề có khi lại là người mới là kỳ lạ. Thí dụ trong hai câu ca dao này:

Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Nái sề xồng xộc nó th́ theo sau

Nhiều người đổi thành cái già xồng xộc, e không đúng.

Hay trong câu đầy tự tín này:

Dù chàng năm thiếp bẩy thê
Cũng không bỏ được nái sề này đâu...

Nhắc tới sề th́ lại nhớ hồi Việt Minh nổi lên đánh Tây ở Hà Nội, các đồng chí học đâu được câu Ăng lê đem viết cùng khắp đường phố Hà Nội: Vietnam to the Vietnamese.

Dân Hà Nội đọc diễu thành Việt Nam to thế Việt Nam mẹ sề.

Lợn tháu là lợn mới lớn. Lợn sữa là lợn c̣n bú. Lợn sữa rất sợ gặp bánh hỏi. Gặp bánh hỏi th́ đă khó toàn thây.

Lợn béo th́ ḷng mới ngon. Muốn biết ḷng có ngon không th́ phải trông mặt như trong ca dao:

trông mặt mà bắt h́nh dong,
con lợn có béo th́ ḷng mới ngon

Đó là người ngó lợn để xem tướng lợn. Cũng có khi lợn nh́n lại người như trong đôi câu đối của Nguyễn Khuyến:

Quan chẳng quan th́ dân, chiếu trung đ́nh ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào bàn ba, tiền làm sao? Thịt làm sao? Đóng góp làm sao? Một năm mười hai tháng, cái thủ lợn nh́n thầy đà nhẵn mặt.

Già chẳng già th́ trẻ, đàn tiểu tử lau nhau đứng trước, này thơ, này phú, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, khuyên điểm là thế, ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoát, con mắt gà đeo kính đă ṃn tai.

Thủ lợn là đầu lợn.

Đầu lợn có mặt lợn. Tai lợn có hai cái. Trả lại nhà gái cái thủ lợn thiếu mất một cái tai là cô dâu có vấn đề. Chắc cô dâu đi chơi nhiều quá, không kiếm được nước vỏ lựu máu mào gà để chiêu tập lại, chú rể ra vô thong thả (?) như bác Hồ chui ra chui vào, thụt ra, thụt vô, thụt qua, thụt lại, thụt tới thụt lui, thụt ngày không đủ, tranh thủ thụt đêm, thụt thêm ngày nghỉ, thụt măi chưa thôi như hồi bác c̣n ở hang Pắc Bó nên nhà trai liền thông báo cho cha mẹ vợ rằng cô dâu "con ong đă tỏ đường đi lối về" từ lâu.

Người ta không nói là miệng lợn hay mồm lợn, mà bao giờ cũng là mơm lợn như mơm chó, mơm lợn.

Chân lợn gọi là gị heo, hay chân gị. Gị heo c̣n là khẩu Colt 45. Khẩu súng này bỏ trong bao trông rất giống cái gị heo nên có tên như thế.

Gị heo hầm là mấy chữ dùng để nói khi có ai cám ơn ở Mỹ. Nhiều người nói lầm thành you’re welcome! nghe cũng được.

Gị heo nấu với bánh canh th́ hết sẩy.

Móng gị là đoạn ngắn của chân gị lợn từ khuỷu đến móng. Xắn móng lợn là xắn, kéo ống quần lên, buộc túm lại như cái móng lợn.

Ủn ỉn là tiếng lợn kêu. Ủn ỉn là tiếng kêu khi lợn vui vẻ. Khi nó cáu giận, sợ hăi th́ nó kêu eng éc. Chim lợn là giống chim có tiếng kêu eng éc như lợn kêu.

Ủn ỉn là khi lợn vui. Thế th́ tại sao lại nói "con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi..."? Mua hành là để nấu với thịt lợn. Tại sao lợn lại ngu như thế?

Lợn lành là lợn khỏe mạnh. Lợn toi là lợn lành sau khi được chữa: lợn lành chữa (thành ) lợn què hay lợn toi cũng thế. Câu tương tự là chẳng chữa th́ sống, chữa th́ kèn trống ra đồng. Người Mỹ nói "if it ain’t broke, don’t fix it" là ư như thế.

Người ta nói là lợn toi chứ không nói là lợn bệnh. Miền Nam gọi những con lợn toi này là heo gió. Trong khi gió heo th́ lại là gió lạnh mùa thu thổi từ tây bắc thổi xuống.

Chữ heo xuất hiện trong có một bài hát nhưng lại không phải là heo, là lợn: Gió heo may đă về, chiều tím loang vỉa hè, và gió hôn tóc thề... (Nh́n Những Mùa Thu Đi / Trịnh Công Sơn).

Lợn gạo là lợn có sán. Heo gạo tiếng miền nam c̣n có nghĩa là bạc giả.

Lợn ăn cám, ăn bèo, ăn rau, ăn cơm thừa canh cặn.

Tuổi lên tám khổ lắm: lên tám ăn cám với lợn. Nhưng cũng chưa bằng lên năm nằm với chó hay lên bẩy nhẩy chuồng chồ vồ băi cứt sốt hoặc lên chín ỉa chịn đầu hè, ông thầy bắt được bẻ què chân tay.

Thái rau, đâm bèo là công việc làm đồ ăn cho lợn, của mợ hai, mợ ba trong khi mợ cả th́ nằm với con... heo nọc (?) trong... chuồng lợn.

Lợn sống trong chuồng. Chuồng lợn là nơi không sạch sẽ ǵ. Có khi gọi là ổ: mấy ổ lợn con rầy lớn bé / vài gian nếp cái ngập nông sâu...(Nguyễn Khuyến). Nhưng chuồng lợn hay chuồng heo cũng lại c̣n là nơi những người chồng tham lam bị đẩy ra nằm: một vợ nằm giường Lèo; hai vợ nằm chèo queo; ba vợ nằm chuồng heo. Thế là ba bà đi theo ông chồng ra nằm chuồng heo cho vui cả nhà. Lợn trong chuồng thả ra mà đuổi là việc làm của Mỹ thả mấy nghi can khủng bố ở Guantanamo để lại phải đuổi theo bắt lại ở Iraq, Afghanistan và Pakistan.

Chuồng lợn là nơi không sạch thơm tho ǵ v́ phân lợn có mùi khủng khiếp.

Quạ vào chuồng lợn thấy ǵ mà mắt chấp chới ngoài đống phân. Thế mà có một giống hoa bị đặt cho cái tên hăi hùng: hoa cứt lợn, hay hoa cứt heo. Tại sao lại đặt cho giống cây hữu ích cái tên kinh khủng như vậy ở cả miền nam lẫn miền bắc. Nó là cây Ageratum Conyzoides, một loại cỏ cao chừng 50 cm, lá to, có răng, hoa tím, chùm to, lá và rễ dùng để chữa bệnh kiết lỵ.

Lợn béo th́ ḷng mới ngon. Lợn gầy th́ chán lắm. Chẳng thế mà con lợn béo vẫn dụ được người gả con gái cho: Mẹ em tham thúng xôi chiêm (dền), tham con lợn béo, tham tiền hoa viên, hay tiền Cảnh Hưng th́ cũng thế.
Xem thế mới biết lợn béo cũng được việc. Đem lợn béo ra dứ là có vợ mặc dù vợ không ưng lắm. Tán mấy em, cứ đem lợn béo ra là ăn chắc:... một con lợn béo, một ṿ rượu tăm...

Tiếng Việt miền Nam (theo tự điển Lê Văn Đức) nhiều tiếng về heo hơn là danh từ lợn của miền Bắc.

Vậy mà tiếng miền Nam lại phải dùng tiếng miền Bắc để goi tên một thứ bánh mà miền Bắc không hề có: bánh da lợn.

Da lợn, pork rind là món da heo chiên khô và ḍn, một món vô duyên nhất thế giới nhưng lại được tổng thống Bush cha rất ưa thích.

Nuôi heo hay nuôi lợn là bỏ ống để dành. Không biết tại sao mà ở Việt Nam th́ có con heo đất, con lợn đất, ở Mỹ cũng dùng con heo để bỏ tiền để dành: piggy bank.

Nuôi heo hay bắt heo cũng c̣n có nghĩa là tiền đậu, tiền chung cho người thắng cuộc.

Heo bắt nọc là con heo lớn nhất trong bầy heo mới sinh ra được chủ giữ nuôi riêng để làm heo nọc, heo giống.

Heo bông là heo có lông vá đen trắng. Heo cỏ hay heo mọi là giống heo nhỏ, bụng ỏng, thơng xuống có thời rất được người Mỹ nuôi trong nhà như chó và mèo, lại c̣n cho lên giường ngủ chung. Không biết ai đặt cho nó cái tên Vietnamese pot-bellied pig, heo Việt Nam bụng ỏng làm cái tên Việt Nam dính vào với con heo. Nhưng được cái giống heo này rất được yêu quí. Diễn viên George Clooney cũng có một con, nuôi được 15 năm mới đây lăn ra chết khiến người đàn ông độc thân đắt giá nhất Hollywood buồn quá, không ăn không ngủ được cả mấy hôm.

Heo choai là heo mới dứt sữa đem quay th́ ai cũng phải yêu. Heo choai cũng c̣n được gọi là heo lứa. Heo đèo là con heo nhỏ con nhất trong bầy, thường là heo thừa vú. Heo thừa vú là con heo sinh thừa, không có vú để bú nên thường đẹt và khó nuôi.

Heo đồ là heo làm thịt rồi để sống nguyên con. Heo đú mỡ là con heo lúc vui, sung sức, chạy giỡn một ḿnh. Heo lang là heo đen nhưng lại có vá trắng. Heo lót ổ là con heo con bị chết khi mới được đẻ ra...

Như thế, heo cũng là lợn, và lợn cũng là heo, nhưng hai chữ này không phải lúc nào cũng có thể thế cho nhau.

Thí dụ phim con heo. Không nói phim con lợn. Tṛ con heo. Không bao giờ nói tṛ con lợn.

Cá heo tức là hải trư, không bao giờ gọi là cá lợn. Tiếng gọi khác của loài cá này là cá cúi. Tên tiếng Pháp của nó là dauphin, cũng c̣n là cochon de mer hay porc marin, tiếng Anh là dolphin.

Có thể chữ phim con heo là từ chữ phim cochon của Pháp mà ra. Phim con heo hay phim cu (?) xoong là phim X hay phim chéo.

Nguyên do là v́ chữ cochon trong tiếng Pháp ngoài nghĩa là lợn, heo, nó c̣n có nghĩa là người phóng đăng hay dâm đăng. Chữ porc là lợn cũng mang nghĩa là người dâm đăng. Tiếng Anh cũng không nhẹ nhàng ǵ với loài heo. Các chữ pig, swine, sow... đều mang những nghĩa rất xấu.

Ở Mỹ, pig c̣n là cảnh sát. Pig cũng có nghĩa là một người thô bỉ, xấu xa, tệ lậu. Động từ to pig in hay to make a pig of oneself là ăn thô tục, tham lam như lợn.

Chuyện ái t́nh của heo th́ thường thôi, không quá quắt lắm, lại cũng chẳng kiểu cọ (?) ǵ, vậy mà hễ cứ ǵ xấu xa (?) là lại coi là tṛ con heo hết.

Trong chữ Hán, tiễn trư là con nhím, hay là con heo mà có mang những mũi tên trên lưng. Tiếng Pháp là porc-épic và tiếng Anh là porcupine (porc là heo; pine là gai nhọn). Porc-épic trong tiếng Pháp lại có nghĩa là người hay gắt gỏng, khó lại gần.

Trong tiếng Anh, tương cận với porcupinehedgehog (hedge là cái giậu; hog là heo) cũng là một giống nhím.

Nhím hay dím là một, nhưng dím lại có nghĩa là gái trong tiếng lóng Sài G̣n trước năm 1975.

Người chăn lợn là porcher hay porchère. Porcherie là chuồng heo, chỗ bẩn thỉu, nhớp nhúa.

Truie là lợn nái. Chữ này cũng có nghĩa là một người đàn bà to béo, thô tục.

Chuồng lợn tiếng Anh là pig pen hay sty. Cả hai đều c̣n có nghĩa là chỗ dơ dáy, bẩn thỉu. Trong loạt truyện bằng tranh Peanuts của Charles Schulz có một chú bé bạn của Charlie Brown và Linus, Lucy... tên là Pigpen lúc nào cũng lem luốc, đứng nguyên một chỗ cũng bụi bay mù mịt trong khi chú lại là người hiền lành dễ thương vô cùng. Trái hẳn với Pigpen, nhân vật Miss Piggy trong Sesame Street vừa ích kỷ, đôi khi lại độc ác nhưng lại mê say ếch Kermit, nói th́ giở giọng Tây ra, xưng "moi", bực bội th́ quắc mắt lên, hất mái tóc quật vào người trước mặt.

Lợn là loài thú được người mang về nuôi từ rất lâu để làm thịt. Loài người khinh bỉ con lợn như thế vậy mà ngó con lợn là thấy chỉ muốn vồ lấy mà cắn, ăn không chừa khúc nào của con lợn. Sao không viết là hỡi heo hầm, ta muốn cắn vào ngươi mà lại viết hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi như một nhà thơ tiền chiến? Tệ bạc chi lạ!

Lợn ởû với người đă từ rất lâu như thế nên được nhắc đến trong khá nhiều lối nói của chúng ta.

Lợn cưới, áo mới là khoe khoang không phải cách. Người ta kể anh nọ có cái áo mới mặc vào, đứng ngoài cửa từ sáng đến chiều không có ai khen cho một câu. Măi gần tối mới có một anh chàng cũng muốn khoe là sắp lấy vợ, dừng lại hỏi anh kia có thấy con lợn cưới của anh ở đâu không. Anh chàng mặc cái áo mới liền kéo vạt áo lên nói rằng từ lúc mặc cái áo mới ra đứng ở cửa, anh chưa thấy con lợn nào chạy qua.

Lợn gị, ḅ bắp là hai thứ ngon ở con lợn và con ḅ.

Lợn nước mạ, cá nước rươi là kinh nghiệm mua lợn và mua cá của nhà nông trươc đây: mua lợn là tháng gieo mạ và mua cá vào lúc có rươi th́ ngon và rẻ.

Lợn chuồng chái, gái cửa buồng là con lợn nhốt trong cái chuồng nhỏ dựng ở chái nhà th́ trông to hơn là nhốt trong chuồng lớn trong khi con gái đứng bên cửa pḥng th́ vẻ đẹp được tôn lên.

Lợn rọ, chó thui là kinh nghiệm nên tránh khi mua lợn và mua chó. Lợn bị nhốt trong rọ th́ không thể biết được những điểm không tốt của nó trong khi con chó đă bị thui th́ xác trương lên, nh́n tưởng là lớn, mua dễ bị lừa. Trong tiếng Anh cũng có một câu tục ngữ tương tự là to buy a pig in a poke nghĩa là mua con heo ở trong rọ. Tương đương với câu này trong tiếng Pháp là acheter un chat en poche, mua con mèo trong túi.

Một câu tục ngữ Anh cũng giống lối nói của chúng ta là câu to cast pearls before swine. Câu này nghĩa là khoe ngọc đẹp với con heo, tương tự như chúng ta nói đàn cầm gẩy tai trâu.

Một câu khác cũng liên quan đến lợn của tiếng Anh mà cũng rất giống cách nói của người Việt: when pigs can fly. Câu này được dùng để nói một chuyện gần như không bao giờ xẩy ra như lợn biết bay. Chúng ta th́ nói bao giờ rau diếp làm đ́nh, gỗ lim ăn ghém th́ ḿnh lấy ta. Hay bao giờ cho đến tháng ba/ ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng / người nằm cho lợn cạo lông / một chục quả hồng nuốt lăo tám mươi...

Lợn chê chó có bọ là câu tương đương với lươn ngắn c̣n chê trạch dài.

Lợn kia trắng mắt th́ nuôi, người kia trắng mắt là người bỏ đi nói về kinh nghiệm chọn người để làm thân, giao du và chọn heo để mua: mắt trắng th́ đừng, đó là thứ th́ bất nhân bạc ác trong khi lợn th́ mắt trắng lại là lợn ngon.

Ban tam ca Tiếng Tơ Đồng (Kim Tước, Mai Hương và Quỳnh Giao) thường được bạn bè gọi đùa là ban hợp ca Ba Bà Đi Bán Lợn Con. Nguyên uỷ là từ mấy câu ca dao:

Ba bà đi bán lợn con
Bán đi chẳng đắt lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng đắt chạy về lon ton...

Đồ tể là người giết trâu ḅ, lợn.

Đặng Dung có nhắc trong một câu thơ của ông: thời lai, đồ điếu thành công dị... khi gặp thời th́ đồ tể, đánh cá cũng nhẩy lên nắm đầu thiên hạ. Ở Hà Nội, một anh gốc lái lợn cũng leo lên được chức to lắm. Đứng chờ quan lớn lại ở Bắc Bộ phủ th́ lại thấy quan lái lợn. Đến khổ.

Đồ tể là người làm một nghề khủng khiếp. Nhưng quăng con dao đi th́ cũng thành bồ tát, như lời dậy của Phật.

Trong văn học Việt Nam, con heo được cho xuất hiện qua truyện ngụ ngôn Lục Súc Tranh Công với một vai tṛ đáng kể, hơn hết mọi vai khác mà con heo bị đẩy cho. Nó được tác giả cho tượng trưng bộ H́nh, bộ Tư Pháp bây giờ. Đây là lời của con heo:

Chú Gà chớ lung lăng múa mỏ
Giữ có ngày cắn cổ chẳng tha
Ghét thương th́ mặc lượng chủ nhà
Chớ thóc mách kiếm lời phỉ báng
Như các chú lao đao đă đáng
Heo thong dong ăn nhẩy mặc Heo
Nội trong hàng lục súc với nhau
Ai sánh được ḿnh Heo béo tốt?
Vua ngự lễ Nam Giao đại đột
Phải có Heo mới gọi tam sanh
Đừng đừng quen lời nói lanh chanh
Bớt bớt thói chê ai ăn ngủ
Ḱa những việc hôn nhơn giá thú
Không Heo ra tính đặng việc chi?
Dầu cho mời năm bẩy chuyến đi
Cũng không thấy một người thấp thoáng
Việc ḥa giải Heo đầu công trạng
Thấy mặt Heo nguôi dạ oán thù
Nhẫn đến khi ngu phụ ngu phu
Giận nhau đánh giập đầu chẩy máu
Làng xă tới lau đau láu đáu
Nào thấy ai gỡ rối cho xong
Khiêng Heo ra để lại giữa ḍng
Mọi việc rối liền xong trơn trải
Phải chăng, chăng phải?
Nghĩ lại mà coi
Việc quan hôn tế lễ vô hồi
Thẩy thẩy cũng lấy Heo làm trước
Bởi Gà nhỏ nói lời lấn lướt
Nên phải phân ít chuyện mà nghe
Dễ Heo này có dạ dám khoe?
Khắn khắn cũng lo làm việc phải
Heo cũng biết đền ơn báo ngăi
Heo cũng hay tiêu họa trừ tai
Toái thân phấn cốt chi nài?
Nát thịt tan xương bao quản
Ḷng thờ Chủ ngay đà tỏ rạng
Thân ḿnh này ví bẵng như không
Tại chú Gà lời nói khùng khùng
Mới sanh sự so đo trường đoản
Vậy Chủ bèn phán đoán,
Phê một câu khúc tận kỳ t́nh:
"Gà biết chữ xả sanh thủ ngăi
Heo đặng câu sát thân thành nhơn
Thôi, thôi, đừng nhĩ ngă thiệt hơn
Phú lưỡng bạn tịnh sanh tịnh dục".

Trong văn học Trung quốc, con heo được cho xuất hiện trong truyện của Ngô Thừa Ân. Tác giả Tây Du nhân cách hóa nó thành Trư Bát Giới và cho nó thủ một vai chính. Trư Bát Giới có nhiều tính xấu như hiếu sắc, ích kỷ, nhỏ nhen, nhát gan. Ngô Thừa Ân đưa ra những điểm xấu xa đó của nó nhưng lại cũng cho nguời đọc thấy nó có một số điểm tốt. Con heo Trư Bát Giới tượng trưng cho những nét bất toàn của con người.

George Orwell của văn học Anh, trong cuốn Animal Farm cho bốn con heo thủ những vai chính. Cuốn truyện kể Old Major, Napoleon, Snowball và Squealer lănh đạo cuộc cách mạng lật đổ ông trại chủ để giải phóng bọn thú vật trong nông trại. Nhưng càng ngày, trại thú vật càng giống như các nước Cộng Sản bị những bọn lănh đạo xảo trá lừa bịp, bóc lột để về sau bọn heo lại quay sang chơi với các trại chủ bên cạnh, giống hệt như ở Liên Xô, các nước Đông Âu trước đây và ngày nay, ở Trung quốc và Việt Nam đang rước đế quốc trở lại làm ăn hệt như đoạn cuối của cuốn ngụ ngôn Animal Farm.

Truyện ba con lợn con, Three Little Pigs đối phó với một con sói độc ác th́ đứa bé nào cũng biết. Truyện kể có ba con lợn con làm nhà để ở th́ bị con sói đến quấy phá định vào bắt ăn thịt. Con thứ nhất làm nhà bằng lá khô bị sói thổi sập ngay. Nó phải chạy sang nhà bên cạnh của anh nó làm bằng những cành cây. Con sói lấy hơi thổi sập căn nhà thứ hai. Hai con lợn con phải chạy qua căn nhà của con thứ ba làm bằng gạch. Con sói đập cửa đ̣i vào. Ba con lợn không chịu mở. Sói lại lấy hơi để thôi sập nhà. Nhưng căn nhà gạch kiên cố sói thổi không sập. Sói leo ống khói vào nhà th́ rơi ngay vào nồi nước sôi đang nấu trong ḷ sưởi. Sói bị phỏng nưóc sôi gần chết. Truyện có thế thôi mà những đứa bé khi vào giường bao giờ cũng bắt bố kể đi kể lại cho nghe mới chịu ngủ.

Nh́n chung th́ heo bị oan nhiều chuyện. Nó bị coi là bẩn thỉu, dơ dáy, ngu độn. Thực ra con heo, nếu được tắm, cho ở chỗ sạch, nó không hôi như chó v́ nó có nhiều lỗ chân lông để thoát nhiệt.

Heo thông minh hơn người ta vẫn nghĩ lầm về nó. Nó hiểu khi bị đưa tới ḷ sát sinh. Nó biết khóc, không như những con ḅ. Ngu như ḅ nên không biết ǵ hết, đưa tới ḷ sát sinh vẫn không biết buồn bă, cứ nghĩ sắp được thành hamburger là lại vui nhắng lên.

Năm nay là năm Hợi. Năm Hợi được coi là năm tốt đẹp để có con nên nhiều người đă bắt đầu cố gắng (?) từ mấy tháng trước.

Người tuổi Hợi tốt bụng, trung thành, cẩn thận chi tiết, chăm chỉ, thông minh, thành thật, xă giao, có văn hóa, quả quyết, thương người, công bằng. Nhưng họ cũng có thể ngây thơ, tham ăn, lười biếng, thực tế mà lại dễ bị lừa.

Người tuổi Hợi không hợp với tuổi Dần, tuổi Thân và tuổi Tị. Rắn, cọp và khỉ đều khắc với lợn.

Trong văn học, William Shakespeare, kịch tác gia Anh, và Ernest Hemingway, nhà văn Mỹ, là những người tuổi Hợi.

Henry Kissinger cũng tuổi Hợi nên bị Việt Cộng lừa là đúng.

Nhưng lợn hay heo th́ lại hợp với kho tầu, mắm tôm chua, (con) mẻ (?), bánh hủ tiếu... Những thứ này mà đi với lợn hay heo th́ nhất. Tử vi cũng nói, mà thực đơn cũng nói vậy.

Đây là câu đố hay nghe trong dịp Tết. Tết năm nay lại càng ư nghĩ hơn:

Nhà xanh lại đánh đỗ xanh
Giữa đỗ trồng hành, thả lợn vào trong

Nó là cái bánh chưng.

Nói cái bánh chưng th́ nhớ ra hôm nay là tết, phải ăn tết cái đă nên chuyện trên trời dưới đất về lợn phải chấm dứt ở đây.

Bảo Lâm

              [BANTIN]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ BẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 02/09/07