Đức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Đức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích d́u sanh chúng,

Chủ ư chọn người vẹn Tứ ân.

(H́nh Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương V

Sứ Mạng

Nhận thấy Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời trị bịnh một cách mầu nhiệm, thuyết pháp, cho thi bài cùng viết Sấm Giảng một cách phi phàm, người đời càng tọc mạch t́m hiểu xuất xứ của Ngài. Có người đường đột làm thơ hỏi Ngài là ai? Như trong phần thi họa, ông Huỳnh Hiệp Ḥa ở B́nh Thủy làm thơ hỏi Ngài có phải là Trạng Tŕnh, Cử Đa, đề Thám không th́ Ngài đáp lại một cách khéo léo trong đó cho biết Ngài là ai, nhưng phải tinh ư lắm mới thấy được, v́ bài thơ ấy làm bằng Hán văn.

Đến như ông Lương Văn Tốt ở Mỹ Hội đông th́ đường đột hơn, hỏi tách bạch bằng thơ Việt, danh hiệu của Ngài, như mấy vần sau đây:

Mộ đạo ơn trên chưa hiệu danh,

Xin ông phán cạn chúng nghe rành.

Th́ Ngài đáp ngay lại:

Vưng lịch Phật tôn chưa hiệu danh,

Ngặt v́ pháp luật khó phân rành.

Cứ theo đó th́ sự giáng phàm của Ngài, hẳn có sứ mạng, sắc lịnh nhưng v́ hoàn cảnh không thuận tiện nên chưa có thệ bộc lộ đó thôi.

Thật ra, theo ông Thanh Sĩ, các đấng siêu phàm một khi xuống trần, nếu thật là bực chơn chánh, có mạng lịnh th́ luôn luôn khiêm tốn và kín đáo, không hề xưng danh hiệu. Bởi theo ông Thanh Sĩ, hễ xưng th́ thế nào cũng xọp, nhứt là hạng không chơn chánh, không có sứ mạng th́ ưa xưng danh hiệu, xưng một cách lớn lối, lố bịch.

Phàm ở đời, những thứ thiệt th́ ít khi bày khoe, chỉ có thứ giả mới sợ người đời không biết nên hay giả danh, ḷe loẹt. Thứ thiệt, dầu không bày khoe, trước sau ǵ, vàng y vẫn là vàng y, c̣n thứ xi thứ giả th́ trước sau ǵ cũng phai màu, tróc lớp sơn phết.

Dầu không xưng hô, nhưng nếu ta tinh ư, theo dơi hành vi ngôn ngữ của họ mà ta nhận là chánh chơn thuần mỹ th́ đó là phần chơn chánh: hăy đọc kỹ những ǵ các đấng ấy viết ra, ta cũng t́m được xuất xứ cùng cấp bực của vị siêu phàm ấy không khó.

Ai biết chữ Hán, khi đọc hai câu sau đây của Đức Huỳnh Giáo Chủ đáp ông Nguyễn Kỳ Trân tức Chín Diệm ở định Yên:

Tŕnh mỗ ngộ kim giai Cổ địa,

Xích mi hải hội luật trừng thiên.

Hay hai câu của Ngài đáp ông Huỳnh Hiệp Ḥa ở B́nh Thủy sau đây:

Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,

Hàn lâm nhứt đấu vịnh thiên chương.

Th́ chúng ta biết rơ Ngài là ai rồi. Dầu vậy cũng chưa rơ bằng khi chúng ta đọc Sấm Giảng hay thi văn của Ngài, có nhiều đoạn Ngài không giấu giếm.

Xuất xứ. Ngài không ngần ngại cho biết xuất xứ của Ngài ở cơi nào xuống, ư chừng Ngài muốn tăng trưởng đức tin, hay đánh tan sự nghi ngờ của người đời c̣n do dự chưa cả quyết đặt trọn ḷng tin tưởng vào sự giáo độ của Ngài hầu sớm tu hành để khỏi bị đọa sa trong thời kỳ hoại diệt.

Có lẽ v́ thế mà Ngài cho biết Ngài có ngôi vị bên Tây phương Cực Lạc:

Bồng Lai, điên lại có ngôi,

Tây phương Cực Lạc, Khùng ngồi ṭa sen.

V́ thương xót vạn dân đến hồi tai ách nên đành ĺa bỏ cảnh thơm tho của mùi sen báu xuống trần cứu thế độ dân:

Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,

Chẳng ở yên c̣n xuống phàm trần.

Ây v́ thương trăm họ vạn dân,

Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.

Trong bài họa lại bài ông Tùng ở Cái đầm, Ngài cũng xác nhận là ở Tây phương, v́ yêu dân chúng mà xuống trần:

Cũng biết càn khôn vẫn một bầu,

Tây phương yêu chúng chẳng ngồi lâu.

Ngài không nỡ yên vui nơi cơi Cực Lạc khi mà thế gian c̣n lầm than lao khổ:

Nếu thế gian c̣n chốn mê tân,

Th́ Ta chẳng yên vui Cực Lạc.

Nhứt là được lịnh của Thiên hoàng nên phải ĺa chín phẩm ngọc ṭa, lâm phàm giả dạng Khùng điên truyền đạo lư, như một đoan sau đây trong bài "để chơn đất Bắc”:

Liên hoa chín phẩm ở Ngọc Ṭa,

được lịnh Thiên hoàng nầy sai Ta.

Hạ giới dạy khuyên truyền đạo lư,

Giả dạng điên Khùng mượn thi ca.

Lănh sắc lịnh. Phương chi Ngài giáng trần kỳ này là do nhiều sắc lịnh.

Ngài chịu lịnh của Phật A Di đà:

Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,

Đức Di đà truyền mở đạo lành.

Bởi v́ Ngài thương xót chúng sanh,

Ra sắc lịnh bảo Ta truyền dạy.

Và truyền dạy ở miền Nam Việt Nam:

Khùng vưng lịnh Tây phương Phật Tổ,

Nên giáo truyền khắp cả Nam Kỳ.

Hay là:

Hạ ngươn sanh chúng ám u,

Tây phương sắc lịnh vân du Nam Kỳ.

V́ chịu mạng lịnh của Phật A Di đà nên giáo pháp của Ngài truyền dạy, chuyên chú vào pháp môn Tịnh độ:

Môn Tịnh độ là phương cứu cánh,

Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa.

Do dó, sứ mạng của Ngài đều qui vào việc dắt d́u sanh chúng về cơi Tây phương Cực Lạc:

Chí toan gieo giống Bồ đề,

Kiếm người lương thiện dắt về Tây phương.

Ngoài sắc lịnh của Phật A Di đà, Ngài c̣n lănh sắc chỉ của Đức Phật Thích Ca, như Ngài thổ lộ:

Ta v́ vưng sắc lịnh ngọc ṭa,

đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng.

Và giáo pháp mà Ngài lănh phổ truyền không riêng ở Nam Kỳ mà khắp thế giới:

Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn,

Khắp hạ giới truyền khai đạo pháp.

Ngài tự nhận là đệ tử của Phật Thích Ca: “Tôi vẫn không quên rằng tôi là một để tử trung thành của Đức Phật Thích Ca", và thổ lộ:

Ta là kẻ vô h́nh hữu ảnh,

Ẩn xác phàm ǵn đạo Thích Ca.

Mối đạo mà Ngài lănh sứ mạng giáo truyền là một nền đạo vô vi, khác lối âm thinh sắc tướng của Thần Tú. Thế nên với mục đích hưng truyền hay xướng minh đạo Phật, Ngài không ngớt kêu gọi và khuyên dức:

Khuyên sư văi mau mau cải hối,

Làm vô vi chánh đạo mới mầu.

Đạo Thích Ca nhiều nẽo cao sâu,

Hăy t́m kiếm cái không mới có.

V́ vậy mà Ngài chủ trương:

Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú,

Và Ngài xuống trần đây là nối theo chí của Phật Thích Ca:

Ta thương đời len lơi xuống trần,

đạo vô vi của Phật ân cần.

Nối theo chí Thích Ca ngày trước,

đồng thời với sắc lịnh của Phật Thích Ca, Ngài c̣n lănh chiếu của Ngọc Hoàng Thượng đế, như Ngài đă viết:

Cúi đầu tâu lại cửu trùng,

Ngọc Hoàng ban chiếu lăo Khùng giáo dân.

Hay là:

Lời văn tao nhă hữu t́nh,

Bởi vưng sắc lịnh Thiên đ́nh sai Ta.

Vừa lănh chiếu của Ngọc đế, vừa vưng sắc lịnh của Phật Tổ:

Thừa vưng sắc lịnh của Trời,

Cùng ông Phật Tổ giáo đời khuyên dân.

Ngoài lịnh của Ngọc Hoàng Thượng đế, Ngài c̣n chịu lịnh của Phật Vương:

Điên nầy vưng lịnh Phật Vương,

Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.

Ngài nói rơ lịnh Phật Vương qui định cho Ngài những việc ǵ, như đoạn văn Ngài viết sau đây:

"Phật Vương đă chỉ rơ máy diệu huyền chuyển lập Hội Long Hoa, chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện căn để giáo truyền đại đạo, định ngôi phân thứ gây cuộc Ḥa B́nh cho vạn quốc chư bang".

Ngài cũng c̣n chịu lịnh của Đức Quan Ấm như Ngài đă viết:

Quan Ấm Nam Hải Phổ đà,

Cùng Thầy ra lịnh nên Ta giáo truyền.

Hay là:

Lịnh Quan Ấm dạy biểu Khùng troàn (truyền),

Cho bổn đạo rơ nguồn chơn lư.

Thiên chức của Đức Quan Ấm là tầm thanh cứu khổ, nhứt là trong giai đoạn khổ ách nầy, chúng sanh càng phải nhờ đến phép huệ linh của Ngài cứu an bá tánh.

Nói tóm lại, Đức Huỳnh Giáo Chủ xuống trần kỳ nầy chịu tất cả mạng lịnh của 3 vị: Đức Phật A Di đà để phổ truyền pháp môn Tịnh độ, Phật Thích Ca để hưng truyền chánh pháp vô vi; Ngọc Hoàng Thượng đế để lập bảng phong Thần; Đức Phật Vương để lập Hội Long Hoa chọn người hiền đức đưa qua cơi Thượng ngươn an lạc và Quan Ấm Nam Hải để cứu độ chúng sanh trong thời kỳ đầy khổ ách của buổi Hạ ngươn sắp chấm dứt.

Nhiệm vụ. Với những sắc lịnh cùng chiếu chỉ truyền dạy lâm phàm, Ngài phải hoàn thành một trọng trách hết sức to tát có thể tóm lược trong mấy nhiệm vụ trọng yếu như sau:

1. Chấn hưng Phật Pháp. Từ ngày chư Tổ bặt truyền y bát đến nay, chơn pháp của Phật bị người đời làm sai t́nh nghĩa nên thành ra một ngày một suy đồi. V́ vậy, Ngài lâm phàm lần nầy là để hoàn thành sứ mạng chấn hưng Phật Pháp như Ngài đă viết:

Phận tớ xác phàm tớ sẽ vưng,

Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng.

Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,

Cũng nguyện đạo mầu sẽ chấn hưng.

Hay là:

Ḷng thương lê thứ đáo Ta bà,

Thừa chuyển pháp luân dụng khuyến ca.

2. Cứu độ chúng sanh khỏi sông mê bể khổ. Sứ mạng chánh yếu của Ngài là cứu độ chúng sanh bằng nhiều phương tiện, như Ngài đă viết:

Thấy biển khổ đâu an ḷng đặng,

Xông thuyền ra cứu vớt chúng sanh.

Hay là:

Ta quyết ḷng rứt nợ oan khiên,

Cứu bá tánh khỏi nơi lao khổ.

Hoặc là:

Chờ con đầy đủ nghĩa nhân,

Ra tay tế độ dát lần về ngôi.

3. Chỉ đường về Tây Phương Cực Lạc. Với phương tiện thứ nhứt của sự cứu độ là bằng pháp môn Tịnh độ mà Ngài đă thọ lănh của Phật A Di đà, Ngài quyết chỉ đường cho chúng sanh về Tây Phương Cực Lạc, hưởng quả bất sanh bất diệt như Ngài đă bảy tỏ:

T́m cực lạc, dây rành đường ngỏ,

Hăy mau mau ti tỉnh mới mầu.

Tận thế gian c̣n có bao lâu,

Mà chẳng chịu làm tṛn nhân đạo.

Hay là:

Nghe điên dạy sau nầy thơi thảnh,

Đây chỉ đường Cực Lạc văng sanh.

Hoặc là:

Chí toan gieo giống Bồ đề,

Kiếm người lương thiện dắt về Tây Phương.

4. T́m con lành hay tạo hạng hiền đức để dự Hội thi sang qua đời Thượng ngươn an lạc, đó là phương tiện thứ hai của sự cứu độ, như Ngài nhắc nhở:

Khoa tràng lịnh mở hội thi,

Nên Ta xuống bút dạy th́ trần gian.

Chớ ḿnh hồn dựa lâm san,

Thảnh thơi c̣n xuống thế gian làm ǵ?

Ước mơ thượng cổ hồi qui,

Thế trần no ấm phú thi an nhàn.

Hay là:

Khuyên trong lê thứ trẻ già,

Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho.

Hoặc là:

Kẻ hiền đức sau nầy được hưởng,

Phép thần linh của Đức Di đà.

Hay t́m con lành:

Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện,

T́m con lành dắt lại Phật đường.

5. Lập Hội Long Hoa. Phượng tiện thứ ba của sự cứu độ là Ngài lănh lịnh của Đức Ngọc đế lập bảng Phong Thần hầu phong tước cho những người có ḷng trung nghĩa, như Ngài đă thổ lộ:

Thân bần tăng mặc bộ ṣng nâu,

Cuộc thiên lư một bầu đă hản.

Đến kỳ thi danh Thầy chạm bảng,

Trên đài cao gọi các linh hồn.

Ông Thanh sĩ cũng nhận Đức Thầy só sứ mạng lập bảng Phong Thần:

Khuyên đừng có lắm phân vân,

Không Thầy cái Hội Phong Thần ai phong.

7. đưa người đến Bồng Lai Tiên Cảnh. Phương tiện thứ năm của sự cứu độ là đưa người đến Bồng Lai Tiên Cảnh hay cơi Thượng nguơn an lạc, như Ngài đă xác nhận:

Trả nợ thế nghĩa ân trọn vẹn,

Cảnh non Bồng kỳ hẹn ngày kia.

Hay là:

Ước mong dân khỏi nạn tai,

Dắt d́u Tiên cảnh Bồng Lai nhiều người.

Hoặc là:

Khuyên dạy dân t́nh minh đạo đức,

Tu hành được thấy cảnh Bồng Lai.

Và ngày nào: chèo thuyền đến Bồng Lai th́ ngày ấy Ngài mới thảnh thơi, hoàn thành sứ mạng:

Quyết chèo thuyền đến chống Bồng Lai,

Mới ngơi nghỉ tấm thân của Lăo.

8. Trừ con nghiệt thú. Ngoài sứ mạng cứu độ người hiền, Ngài c̣n lănh nhiệm vụ trừ con nghiệc súc trong ngày âm dương biến động như Ngài cho biết trước:

Con sông nước chảy ṿng cầu,

Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha.

Chừng ấy nổi dậy phong ba,

Có con nghiệt thú nuốt mà người hung.

đến chừng thú ấy phục tùng,

Bá gia mới biết người Khùng là ai?

Và Ngài cũng lănh sứ mạng thâu con long ác nghiệt:

Thâu cho được con long ác nghiệt,

Th́ khắp nơi mới biết mến yêu.

9. Cầm cân thưởng phạt. Ngoài sứ mạng cứu độ chúng sanh, và trừ loài ác nghiệt, Ngài c̣n lănh sứ mạng đại diện công lư cầm cân thưởng phạt kẻ lành dữ theo luật nhân quả báo ứng, như Ngài đă báo tin:

Lăo đây vâng lịnh Phật tôn,

Lănh câu thưởng phạt chư môn dữ lành.

Hay là:

Có ngày mở rộng qui khôi,

Non Thần vang chuyển Khùng ngồi xử phân.

10. Tá quốc an bang. Ngoài ra, Ngài c̣n sứ mạng tá quốc an bang, xây dựng sơn hà, tạo nền hạnh phúc cho nhơn sanh trong ngày Thượng Nguơn hồi phục, như Ngài đă tiết lộ:

Một tay tá quốc an bang,

Nước nhà vững đặt Hớn đàng hiển vang.

Trên đây là mười trách nhiệm trọng yếu mà Ngài phải đảm phụ và thực hiện trong kỳ chuyển kiếp lần nầy. Một khi hoàn thành sứ mạng, Ngài mới trở về ngội vị cũ. Nói tóm lại, sứ mạng của Ngài có thể đúc kết làm mấy điểm như sau:

1/ Chấn hưng hay xướng minh chánh pháp

2/ Cứu độ chúng sanh bằng cách:

-         Chỉ đường về Tây phương Cực Lạc bằng pháp môn Tịnh độ.

-         Đào tạo hạng người  hiền đức hầu có đủ điều kiện dự Hội Long Hoa, sống c̣n đời Thượng nguơn an lạc.

-         Cứu rỗi các phần hồn đưa vào bảng Phong Thần.

-         Đưa người đến Bồng Lai Tiên Cảnh hay cơi đời Thượng nguơn bằng con đường tu Tứ Ân hay Tu Nhân để làm tṛn nhân đạo.

3/ Trừ ác thú.

4/ Cầm cân thưởng phạt kẻ lành dữ trong ngày lập Hội hay Ngài phán xét cuối cùng.

5/ Tá quốc an bang trong ngày Thượng nguơn xây dựng.

Chí nguyện. để hoàn thành sứ mạng cao cả của chư Phật giao phó, Ngài đă thệ nguyện, như các đại Bồ Tát hay Phật xưa kia đă thệ nguyện trước khi thực hành một sứ mạng cao cả. Như Đức Phật A Di đà đă phát 48 lời nguyện để thành lập cơi Cực Lạc làm nơi an trụ cho những ai muốn văng sanh về cơi của Ngài hầu đắc quả vô sanh hay bất thối.

Đến trường hợp của Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng thế, Ngài lập thệ rất lớn làm nơi y cứ hầu có vững bước trên con đường hoàn thành sứ mạng dầu phải chịu gian nan nguy khốn:

Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,

Chẳng ở yên c̣n xuống phàm trần.

Ây v́ thương trăm họ vạn dân,

Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.

Chỉ một chí hướng quyết độ đời mà thôi:

Dầu cho xoay chuyển đất trời,

Ḷng ta chí dốc độ đời mà thôi.

Dầu phải chịu đắng cay, chẳng tuản thân danh khổ lụy:

Thương đời phải chịu đắng cay,

Thân danh chẳng quản chông gai chi sờn.

Dầu phải làm thân lươn lấm lem bùn trịnh:

Tớ với Thầy nào quản thân lươn,

Muốn cứu thế sá chi bùn trịnh.

Dầu đời bạc đăi cũng quyết nêu cao ngọn đèn chân lư soi đường minh thiện cho bá tánh hết tối tăm:

Quản chi lực kém tài hèn,

Dù đời bạc đăi ngọn đền cứ nêu.

Chí nguyện của Ngài là độ tận chúng sanh:

Một ḷng nguyện độ tận chúng sanh,

Mặc t́nh trước sự ghét ưa của sanh chúng:

Quyết ḷng độ tận trong sanh chúng,

Ai ghét ai ưa cũng mặc t́nh.

Hay là:

Có sông có núi cùng cây cỏ,

độ tận chúng sanh khỏi dại khờ.

Ngài sẵn sàng gánh chịu mọi tai nàn thế giới, san bớt nỗI khổ đau với những người có tâm lành quyết ḷng tu tỉnh:

Nh́n dân châu lụy ủ ê,

Biết bao trút hết gánh về Ta mang.

Mang cho hết tai nàn thế giới,

Kẻ tâm lành bớt đợi chờ trông.

Hoặc là:

Nghiêng hai vai gánh nặng non sông,

Vớt trăm họ lần than bể khổ.

Ngài sẵn sàng uống cho đời chén thuốc cay:

Hay v́ sanh chúng c̣n lao lư,

Nguyện uống cho đời chén thuốc cay.

Và sẵn sàng chịu khổ cho bá tánh:

Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.

Có thể nói: cao cả nhứt là lời thề nguyện: ngày nào thế gian c̣n đau khổ th́ ngày ấy Ngài chẳng riêng vui nơi cơi Tịnh độ:

Nếu thế gian c̣n chốn mê tân,

Th́ Ta chẳng an vui Cực Lạc.

Và khi nào nền đại đạo được khai thông, đuốc từ bi được rọi khắp, bể trầm luân đă khô cạn th́ ngày ấy Ngài mới đành trở về ngôi vị cũ:

Nếu chừng nào khai thông đại đạo,

Đuốc từ bi rọi khắp dương gian.

Bể trầm luân khô cạn sâu đàng,

Tăng sĩ mới trở về nơi thanh tịnh.

Câu thệ nguyện nầy thật là lớn lao to tát, sánh không khác câu thệ nguyện của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát: "Tôi từ ngày này cho đến tột đời vị lai không biết bao nhiêu kiếp số, quyết v́ những chúng sanh tội khổ ở trong sáu đường mà thi thiết nhiều phương tiện khiến cho giải thoát được hết, rồi thân tôi đây mới thành Phật đạo".

Bản nguyện bi thiết ấy được viên măn là khi nào cơi địa ngục bị xóa bỏ, cũng như bản nguyện của Đức Huỳnh Giáo Chủ được giải thệ là khi nào cơi thế gian khô cạn sáu nẻo luân hồi.

Cái ngày mà chúng sanh hết c̣n trầm luân trong bể khổ ấy, tức là ngày thế gian hết phiền năo, ngày Thánh Đức th́ ngày đó Ngài mới rời cảnh tục trở lại cảnh Tiên:

Chúa vững ngai vàng, Săi mới yên,

Rời ngay cảnh tục trở về Tiên.

Chẳng c̣n tham luyến nơi trần thế,

V́ cả thế gian hết năo phiền.

Chí nguyện của Đức Huỳnh Giáo Chủ, xem đó, thật là bi thiết, thật là vĩ đại, chỉ hàng đại Bồ Tát mới phát hoằng thệ nguyện như thế.

 

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

| CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

 

 

[TV. PGHH]