Đức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Đời:

Công nghiệp cách mạng

Đức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích d́u sanh chúng,

Chủ ư chọn người vẹn Tứ ân.

(H́nh Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Chương XVI

Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng

 

Quan hệ giữa quân sự và chánh trị.

Clausewitz một nhà binh Pháp-Đức, trong quyển "Chiến tranh lận" có định nghĩa chiến tranh như sau: Chiến tranh chẳng những là một hành động chánh trị (action politique) mà thực sự là một thủ đoạn của chánh sách, chánh sách kế tục quan hệ ngoại giao.

Cứ theo định nghĩa nầy, quân sự chỉ là một thủ đoạn để thực hiện chánh sách. Sở dĩ gây chiến hay dùng thủ đoạn quân sự là v́ đôi bên không thể giải quyết bằng đường lối ôn ḥa, ngoại giao chánh trị. Quân sự hay chiến tranh, theo đó, chỉ là một thủ đoạn nhứt thời đem áp dụng trong một giai đoạn để thực hiện mục tiêu chánh trị hay quốc sách. Như thế, quân sự là tranh đấu giai đoạn c̣n chánh trị là tranh đấu trường kỳ, thường xuyên hay có thể nói chiến tranh hay quân sự là một thủ đoạn bạo lực để đạt đến mục đích chánh trị hay chánh sách.

Dùng quân sự hay chiến tranh để giải quyết một vấn đề ǵ là một việc làm bất đắc dĩ, bởi giải quyết nhau bằng phương pháp chánh trị ngoại giao không xong mới đưa đến sự giải quyết bằng bạo lực, bằng súng đạn. Khi dùng đến bạo lực th́ chỉ cho khỏi gây ra chết chóc sanh mạng, tàn phá sự nghiệp tài sản. V́ vậy mà loài người luôn luôn t́m cách giàn xếp bằng đường lối chánh trị hơn quân sự. Chỉ có những dân tộc bạo tàn, háo sát hung hăn, tham lam, nuôi óc cướp bóc mới ỷ thị vào sức mạnh để gây chiến tranh xâm lược hầu thỏa măn dục vọng tham tàn, óc thích giết hại đồng loại với bản tính cầm thú.

Như trường hợp nước Việt Nam chúng ta, dân tộc Việt Nam là một dân tộc hiếu ḥa nhưng luôn luôn bất khuất trước mọi áp bức bạo lực, sở dĩ phải dùng đến quân sự là để bảo vệ đất nước, chúng ta không c̣n phương pháp nào hơn dùng bạo lực để chống lại bạo lực. Nhưng một khi cường khấu rút lui th́ dân chúng ta trở lại đời sống ḥa b́nh và luôn luôn dùng lối ngọai giao khéo léo của một nước nhỏ để bảo vệ quê hương đối với nước lớn mạnh.

Đức Huỳnh Giáo Chủ sở dĩ lập Bộ đội cũng không ngoài mục đích chống xâm lăng cứu nước. đây là một thủ đoạn bất đắc dĩ phải dùng đến, v́ không c̣n một thủ đọan nào hữu hiệu hơn khi mà đường lối chánh trị, ngoại giao trở thành vô hiệu hay bất lực đứng trước bạo lực.

Đó là một thủ đoạn áp dụng trong một giai đoạn cho nên ngoài sự thành lập Bộ đội chống xâm lăng, Đức Huỳnh Giáo Chủ c̣n thành lập chánh đảng để tranh đấu thực hiện mục tiêu chánh trị, xây dựng nước Việt Nam "Công b́nh và nhơn đạo, một nước Việt Nam tương xứng với các nước dân chủ tiền tiến trên hoàn cầu". Chánh trị, là mục tiêu, c̣n quân sự là phương tiện để đạt mục tiêu. Cho nên có thể v́ chánh trị như địa bàn hay hải đăng, c̣n quân sự hay bộ đội như hướng, thiếu hải đăng rọi sáng ban đêm th́ thuyền tàu chắc chắn phải lạc hướng và có thể rướng lên cồn hay va vào ḥn vào đảo mà vở mà ch́m.

Một bộ đội mà thiếu chánh trị lănh đạo th́ bộ đội đó sẽ trở thành một đám lê dương chuyên nghề đánh mướn, bán máu lấy tiền hay một bộ đội lục lâm chuyên phán dân hại nước. Mục đích cầm súng là để thực thi chánh sách hay kế hoạch chánh trị. Trong giai đoạn kháng chiến, cầm súng là để chống xâm lăng bảo vệ quê hương cùng sanh mạng tài sản của đồng bào. V́ vậy mà một bộ đội cách mạng vần phải có kỷ cương. Không kỷ luật th́ quân đội sẽ là một đám người ô hợp, chẳng những không thắng được địch, thực hiện mục đích chánh trị mà c̣n gây tai họa cho dân cho nước. Cho nên, đồng thời với sự thành lập bộ đội Đức Huỳnh Giáo Chủ c̣n hợp với các nhà cách mạng yêu nước thành lập đảng chánh trị để lănh đạo đường lối tranh đấu chống xâm lăng, giành độc lập.

 

Lư do lập đảng Dân Xă.

Quân sự và chánh trị ví cũng như tay chân và bộ óc trong thân thể con người. Quân sự mà không chánh trị không khác thân thể có tay chân mà không có bộ óc. Không óc, con người sẽ hành động cuồng loạn.

Phương chi trong giai đoạn tranh đấu cứu nước và dựng nước, chánh trị thủ lấy một vai tṛ tối quan trọng cũng như bộ óc trong thân thể con người, không có không được. Ví như cuộc kháng chiến thành công nghĩa là đă dùng quân sự đánh đuổi xâm lăng, chẳng phải đến đó là chấm dứt; đây chỉ mới hoàn thành giai đoạn cứu nước, nhưng c̣n giai đoạn xây dựng đất nước hay tái thiết quốc gia.

Khi đặt ra vấn đề xây dựng đất nước là đặt ra vấn đề quốc sách để làm tiêu hướng cho phát triển quốc gia theo nhịp tiến thế giới hay nhơ loại. Và khi nói đến quốc sách là nói đến xu hướng chánh trị.

Một nước là một quốc gia gồm nhiều gia đ́nh, nhiều từng lớp xă hội, đương nhiên có nhiều ư kiến không giống nhau, có khi trái nghịch nhau. để giữ cho xă hội không rối loạn, những người cùng một xu hướng cùng một quyền lợi thường tập hợp nhau thành những đoàn thể đảng phái. Mỗi tập thể có những chương tŕnh kiến thiết theo quan niệm xu hướng quyền lợi của ḿnh. Đương nhiên giữa các chương tŕnh có sự cạnh tranh nhau, thành thử có sự tiến bộ và luôn luôn tranh nhau cải thiện đời sống một ngày một tốt đẹp hơn.

Chánh đảng hay đảng chánh trị là một tổ chức biểu hiện một xu hướng chánh trị, phản ảnh xu hướng và quyền lợi của những người cùng tập hợp nhau thành đoàn thể. Cho được phù hợp với nguyện vọng tiến bộ của toàn dân hay đa số nhân dân, các chương tŕnh kiến tạo phải tùy từng giai đoạn tiến hóa mà thay đổi. Nhờ vậy mà xă hội luôn luôn trên đà tiến triển không ngừng.

Bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải có lúc chấm dứt. Chỉ có đấu tranh chánh trị th́ không bao giờ dứt. Khi hoàn thành một kế sách chấm dứt một giai đoạn đấu tranh th́ kế tiếp một kế sách mới đặt ra đ̣i hỏi một sự tranh đấu mới. Như vậy hành động chánh trị luôn luôn có tánh cách trường kỳ, cho nên lúc nào chánh trị cũng đóng lấy vai tṛ lănh đạo soi sáng cho quân sự có tánh cách đoản kỳ hay giai đoạn.

Đó là lư do khiến Đức Huỳnh Giáo Chủ thành lập Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng.

 

Miền Nam cần có một đảng chánh trị.

V́ nhu cầu cần có một đảng chánh trị để lănh đạo tranh đấu chống xâm lăng và kiến thiết quốc gia khi phục hồi nền độc lập, Đức Huỳnh Giáo Chủ hiệp với các nhà ái quốc thành lập Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng gọi tắt là Dân Xă đảng.

Đảng Dân Xă là một chánh đảng gồm nhiều thanh phần nhưng trụ cột là thành phần đông đảo nhứt là khối Phật Giáo Ḥa Hảo và Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng, một đàng có khối quần chúng nông dân đông đảo c̣n một đàng có một giàn cán bộ được huấn luyện.

Xét ra trong hiện t́nh đất nước, các tôn giáo cũng như đảng phái ở miền Nam chưa có thể đóng lấy vai tṛ lănh đạo đấu tranh chánh trị chống xâm lăng. Các tôn giáo th́ không thể trực tiếp đứng ra tranh đấu v́ vấp phải luật nghi ràng buộc, không cho phép bước ra ngoài phạm vi của kẻ tu hành, c̣n về đảng chánh trị th́ ở miền Nam chỉ có Mặt Trận Việt Minh đă mang tiếng là bị Cộng sản lung lạc, mất cả sự ủng hộ trong nước và ngoài nước, đến như Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng, một đảng chánh trị duy nhứt ở miền Nam th́ lại quá yếu v́ thiếu hậu thuẫn quần chúng. V́ sự nhu cầu của t́nh thế, miền Nam cần có một lực lượng lănh đạo kháng chiến và kiến thiết quốc gia khi nền độc lập được khôi phục.

Sự thành lập Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng thống hợp hai khối: Phật Giáo Ḥa Hảo (Tôn giáo) và Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng (chánh trị) cùng một số đoàn thể: thanh niên, cần lao, kháng chiến thành một lực lượng chánh trị đủ khả năng đóng lấy vai tṛ lănh đạo quốc gia trên lập trường dân tộc.

Đảng Dân Xă chẳng những cần thiết trong giai đoạn tranh đấu chống xâm lăng giành độc lập mà c̣n cần thiết trong giai đoạn kiến tạo quốc gia giữa hai chủ nghĩa cực đoan: Tư bản và Cộng sản đang tranh giành ảnh hưởng trên bàn cờ quốc tế. Nếu đứng trên phương diện phúc lợi của nhân dân mà xét th́ mỗi chủ nghĩa đều có ưu điểm và nhược điểm.

Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, con người được giải phóng về đời sống tinh thần, được hưởng mọi quyền tự do dân chủ. Nhưng cũng v́ tự do quá trớn mà hạng giàu, hạng tư bản được tự do bóc lột hạng nghèo khó, công nhơn lao động. Khiến cho hạng thiếu phương thức sanh sản phải nghèo kổ, thất nghiệp chịu đói chịu khát.

Đến như chế độ cộng sản, mặc dầu về đời sống không có cảnh thất nghiệp nhưng cũng bị bóc lột sức lao động, bị tước đoạt tài sản. Ngoài ra c̣n bị đàn áp về mặt tinh thần. Trong chế độ Cộng sản không có danh từ tự do, dù là tự do suy nghĩ, nghĩ khác hay nói khác hơn những mạng lịnh của chánh quyền là bị tù đày, bị thủ tiêu.

Nếu đem so sánh hai chế độ, người ta có thể nói, trong chế độ tư bản, con người được hoàn toàn tự do về mặt tinh thần, nhưng bị bóc lột về đời sống vật chất; c̣n trong chế độ Cộng sản th́ con người được phần nào đảm bảo về đời sống xă hội nhưng hoàn toàn bị bóp nghẹt về phương diện tinh thần. Thành thử con người, sống trong chế độ nào, tư bản hay Cộng sản, vẫn thấy thống khổ, khổ về đời sống vật chất, khổ về đời sống tinh thần.

Sau đệ nhị thế chiến, loài người sống giữa hai sự tranh chấp của hai chế độ cực hóa, luôn luôn chực biến con người thành những bộ máy sản xuất và trong tương lai có thể đưa loài người đến vực thẳm diệt vong, nếu những tâm hồn cuồng loạn v́ tham vọng đen tối không chịu thức tỉnh, trở lại bản tánh nhân thiện mà dẹp bỏ các thứ vơ khí sát nhân.

Đứng giữa hai chế độ cực hóa, loài người chỉ c̣n một xuất lộ, vừa giải phóng con người về phương diện đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời đem lại một đời sống quân b́nh hạnh phúc. Đó là chủ nghĩa Dân Chủ Xă Hội, một chủ nghĩa "trung hóa" nghĩa là đứng giữa hai cực đoan, hóa giải thành một chủ nghĩa quân b́nh, giải phóng con người cả hai phương diện. Với chủ nghĩa dân chủ trong Dân Chủ Xă Hội, con người sẽ được hoàn toàn tự do về mặt vật chất cũng như tâm linh.

Với chủ nghĩa xă hội trong Dân Chủ Xă Hội, đời sống con người sẽ được đảm bảo: không c̣n sự chinh lệch quá xa giữa hạng giàu và hạng nghèo. Ai ai cũng được đảm bảo về nhà ở, công ăn việc làm. Mỗi gia đ́nh đều có một mái nhà, nhà nông có ruộng, người thợ có nghề và các công cụ cần thiết cho nghề nghiệp.

Xă hội Dân Xă có thể gọi là quân b́nh nhứt trong đó mọi người đều sống một đời hoàn toàn an lạc.

(hai tấm h́nh của Đức Thầy (trang 286,287).

Đảng Dân Xă chẳng những cần thiết trong giai đoạn kháng chiến chống xâm lăng mà c̣n cần thiết trong giai đoạn xây dựng quốc gia khi Việt Nam độc lập. Hiện nay có nhiều nước đang tiến trên con đường dân chủ xă hội. Trong tương lai, sự giải thể hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản sẽ đưa nhơn loại đến một chủ nghĩa quân b́nh anlạc, phù hợp với con người hoàn toàn giải phóng. Đó là chủ nghĩa Dân Chủ Xă Hội.

Cho nên sự thành lập đảng Dân Xă chẳng những đáp ứng được nhu cầu cứu nưóc mà c̣n phù hợp với trào lưu tiến hóa nhơn loại trên bước đường tương lai tiến đến một xă hội quân b́nh an lạc chủ nghĩa Dân Chủ Xă Hội.

Đức Huỳnh Giáo Chủ, là một bực tiên giác, tiên liệu được thời cuộc và bước tiến của nhơn loại, nên chủ trương thành lập một chánh đảng lấy tên là Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng. Ngài đă giải thích lư do tại đâu chấp nhận thành lập đảng Dân Xă và dùng đảng nầy làm lợi khí tranh đấu thay v́ dùng tôn giáo. Ngài có nêu ra ba lư do sau đây để đáp lại câu hỏi của một tín đồ (1):

"1. Việt Minh tranh đấu chánh trị. Nếu Thầy đem đạo ra tranh đấu th́ không thể được, v́ đạo chỉ lo tu hành chơn chất, nên Thầy phải tổ chức đảng chánh trị mới đủ điều kiện để tranh đương kịp.

"2. Các nhà ái quốc chơn chánh trong nước mặc dù nh́n nhận Thầy là nhà ái quốc chơn chánh, nhưng không thể hiệp chung với Thầy lo việc quốc gia, bởi lẽ anh em ấy không thể tu hành như ḿnh, hoặc giả đă có đạo rồi th́ không lẽ bỏ đạo mà qui y theo Phật Giáo Ḥa Hảo, v́ vậy Thầy phải tổ chức đảng chánh trị để anh em ấy có điều kiện tham gia v́ rằng tham gia, họ chỉ giữ kỷ luật của đảng mà thôi, c̣n tôn giáo th́ của ai nấy giữ.

"3. Tất cả anh em tín đồ nếu thấy ḿnh c̣n nặng nợ với non sông tổ quốc, thương nước thương dân hăy tham gia mà tranh đấu. Đây là phương tiện để anh em tín đồ hành sử Tứ Ân". (2)

 

Đảng Dân Xă không phải Phật Giáo Ḥa Hảo đổi tên.

Để đánh tan dư luận thấy khối tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo tham gia đông đảo vào đảng Dân Xă, nên cho rằng đảng Dân Xă là Phật Giáo Ḥa Hảo trá h́nh, Đức Huỳnh Giáo Chủ đă cực lực đính chánh điều ngộ nhận ấy trong bài minh xác trên báo Quần Chúng ngày 15-11-1946 như sau:

"1. Đảng Việt Nam Dân Chủ Xă Hội là một đảng chánh trị, có tuyên ngôn, chương tŕnh, điều lệ rơ ràng do mấy nhóm chánh trị, đoàn thể kháng chiến hay anh em trong các tôn giáo mà hoạt động chánh trị hợp lại thành lập. Thế th́ không phải Phật Giáo Ḥa Hảo đổi tên.

"2. Sở dĩ tôi nhân danh mà kêu gọi anh em Hậu Giang là v́ về dĩ văng mặc dù tôi ở trong địa hạt Phật giáo, nhưng có quyền riêng là gia nhập Việt Nam Dân Xă, nó hợp với quan niệm tranh đấu chánh trị của tôi. Cái quyền nhập đảng ấy, anh em Công giáo, Cao đài, Tịnh độ cư sĩ vẫn có cũng như tôi. Hiện nay tôi là đảng viên của đảng Dân Chủ Xă Hội và có rất nhiều anh em ở Hậu giang cũng đă vào đảng Dân Xă. Khi đă vào đảng đều tuân kỷ luật của đảng trong sự hoạt động chánh trị. Như vậy cũng rơ rệt rằng Phật Guiáo Ḥa Hảo và đảng Dân Xă là hai tổ chức khác nhau, Tôn giáo là Tôn giáo mà Chánh trị là Chánh trị". (3)

Một điều nữa chứng tỏ đảng Dân Xă không phải Phật Giáo Ḥa Hảo đổi tên là việc thành lập Ban Chấp Hành Trung Ương mà những chức vụ quan trọng đều giao phó cho anh em Việt Nam Quốc Gia Độc Lập đảng, nhứt là trường hợp anh Nguyễn Bảo Toàn được Đức Huỳnh Giáo Chủ cử giữ chức vụ Tổng Bí Thơ trong Trung Ương đảng Bộ. Anh thuộc gia đ́nh Thiên Chúa Giáo, thế mà anh được đề cử là v́ hai lư do sau đây:

a)     Trước nhứt anh chủ trương tờ nhựt báo Dân Mới, nổi tiếng chống Pháp nên bị Ṭa đại h́nh kêu án 5 năm khổ sai đày đi Côn đảo. đến năm 1944 măn tù, anh bị quản thúc tại Mặc Bắc (Trà Vinh) quê quán anh cho đến ngày Nhựt đảo chánh. Anh hiệp với Nguyễn văn Sâm, Hồ văn Ngà, Phan Khắc Sửu… thành lập Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng, trong đó anh giữ chức vụ Tổng Bí Thơ, nhờ thành tích đi Côn đảo. Chính với thành tích nầy Đức Thầy đề cử anh giữ chức Tổng Bí Thơ Trung Ương đảng Bộ đảng Dân Xă, cũng như ông Nguyễn Giác Ngộ được Đức Thầy đề cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Chi đội Nguyễn Trung Trực cũng do ban năm Côn đảo của ông. Như thế Đức thầy chọn người lănh đạo là tùy ở thành tích chớ không dựa vào t́nh cảm hay tôn giáo. Việc đề cử anh Nguyễn Bảo Toàn vào chức vụ Tổng Bí Thơ đủ nói lên tinh thần trọng dụng nhân tài, đặt quyền lợi quốc gia trên t́nh nghĩa bè phái.

b)     đề cử anh Nguyễn Bảo Toàn thuộc gia đ́nh Thiên Chúa Giáo mà không đề cử tín đồ Phật Giáo như ông Nguyễn văn Sâm, Trần văn Ân hay tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo như bác sĩ Trần văn Tâm là để minh xác đảng Dân Xă không phải là Phật Giáo Ḥa Hảo trá h́nh hay đổi tên, mặc dầu đa số đảng viên là khối tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo.

 

Diễn tiến của đảng Dân Xă.

Với ư định thành Liên khu Quốc gia, để làm thế mạnh bên ngoài, Đức Thầy phái ông Nguyễn Hoàn Bích tức Nguyễn Bảo Toàn sang Trung Hoa hiệp với các nhà cách mạng lưu vong thành lập Mặt Trận Toàn Quốc và để làm thế ủng hộ bên trong, Ngài phái ông Lê văn Thu về miền Tây mở lớp huấn luyện cán bộ chánh trị và xúc tiến việc đặt cơ sở khắp nơi.

Cuối năm 1946, t́nh h́nh trở nên khó khăn, do sự phản ứng của nhân dân chống lại sự khủng bố ráo riết của Pháp. đường sá bị phá, sự lưu thông bị gián đoạn nhiều nơi. V́ vậy sự liên lạc giữa Trung Ương với các Bộ đội tác chiến cũng như cơ quan chánh trị ở miền Tây bị cắt đứt. Một phúc tŕnh hoặc đề nghị từ miền Tây chuyển lên Trung Ương mất nhiều thời giờ, rất trở ngại cho công việc hoạt động quân sự và chánh trị.

Cho nên cuối 1946, một hội nghị quân chính được triệu tập tại Hiệp Xương. Về phía quân sự th́ có Ban chỉ huy Bộ đội Nguyễn Trung Trực, c̣n về phía chánh trị thí đại diện các Ban Chấp Hành Tỉnh Bộ. Đức ông được mời tham dự với tư cách cố vấn.

Để tiện việc hoạt động kịp thời ứng phó với t́nh thế, hội nghị đồng chấp nhận một kiến nghị yêu cầu Trung Ương sớm thành lập một Ban chỉ huy Quân chính miền Tây để trực tiếp lănh đạo sanh hoạt quân sự và chánh trị.

Vào đầu năm 1947, Trung Ương có phái về 3 vị: Lê văn Kinh (tức Lương Trọng Tường), Ngô văn Hai (tức Nguyễn xuân Tăng) và ông Sơn (tức Lâm ngọc Thạch) về miền Tây đứng ra triệu tập một phiên họp tại Cái Gút, xă Nhơn Mỹ để thành lập Ban Chấp Hành Liên Tỉnh miền Tây. Theo đề nghị th́ xin lập Ban chỉ huy Quân chính, Ban chỉ huy viết tắt BCH có thể hiểu là Ban Chấp Hành?

 

Ban Chấp Hành Liên Tỉnh.

Phiên họp gồm có 3 vị của Trung Ương phái về, ông Lê văn Thu lúc bấy giờ là Giám đốc khóa huấn luyện chánh trị tại Nhơn Mỹ, ông Mai văn Dậu, nhơn viên trong Ban Ḥa Giải và đại diện các Ban chấp hành Tỉnh bộ.

Mở đầu phiên họp, ông Lê văn Kinh tŕnh Ủy nhiệm thơ của Trung Ương, đặc phái ba ông về Hậu giang thành lập Ban chấp hành Liên Tỉnh miền Tây, với h́nh thức Ban Thường Vụ như sau:

-         1 Trưởng ban

-         1 Tổng Bí Thơ

-         1 Ủy viên Tài chánh

Đại diện Tỉnh bộ Châu đốc liền đưa ra nhận xét h́nh thức tổ chức ấy không thấy ấn định trong điều lệ của đảng và nếu tổ chức theo h́nh đó th́ phá vỡ tổ chức cũ từ tỉnh xuống đến xă ấp. Như thế là làm xáo trộn cả bộ máy đảng trong Tỉnh Châu đốc.

Ông Kinh khẳng định rằng: ông được Ủy viên đặc biệt (Đức Thầy), đồng thời cũng là sáng lập viên và Ủy viên Trung ương, đă ủy nhiệm th́ ông có toàn quyền tổ chức. Trước Ủy nhiệm thơ của Đức Thầy, các cử tọa đều im lặng. Nhưng đại diện Tỉnh bộ Châu đốc có đưa ra nhận xét là h́nh thức tổ chức ấy không được ổn bởi lẽ, nếu có chức Tổng Bí Thơ th́ không có chức Trưởng Ban, v́ đó là h́nh thức tổ chức của một Chánh đảng. C̣n nếu có chức Trưởng Ban th́ không thể có chức Tổng Bí Thơ, bởi đây là h́nh thức tổ chức của hiệp hội. Nếu tổ chức theo hiệp hội th́ gọi là Tổng thơ kư.

Ông Ngô văn Hai yêu cầu định nghĩa và phân biệt thế nào là Tổng Bí Thơ và thế nào là Tổng Thơ Kư.

Đại diện Tỉnh bộ Châu đốc liền phân tách: Tổng Bí Thơ là chức vụ chưởng quản các Bí Thơ, một chức vụ tối quan trọng trong đảng, v́ người sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm với cấp trên và giữ bí mật các văn kiện mật. C̣n Tổng Thơ Kư chỉ có phận sự làm công việc văn pḥng của một Ban Thường Vụ mà thôi. Vă lại với h́nh thức của tổ chức hiệp hội, từ chức vụ Trưởng Ban cho đến Tổng Thơ Kư trong Ban Thường vụ đều liên đới chịu trách nhiệm và mọi huấn lịnh, chỉ thị đều đem ra thảo luận chung, khác hơn h́nh thức tổ chức đảng, chức vụ Tổng Bí Thơ hay Bí Thơ chịu hoàn toàn trách nhiệm và giữ mật mọi việc quan trọng.

Sau khi nghe tŕnh bày, ông Lê văn Kinh cũng như ông Ngô văn Hai đồng chấp nhận đổi danh từ Tổng Bí Thơ lại Tổng Thơ Kư. Dầu vậy , đại diện Tỉnh bộ Châu đốc cũng kháng nghị rằng h́nh thức tổ chức hiệp hội trái nghịch với điều lệ và làm xáo trộn bộ máy tổ chức cũ.

Ông Lê văn Thu yêu cầu ghi lời kháng nghị của Tỉnh Châu đốc vào biên bản để tŕnh lên Trung Ương quyết định tối hậu.

Vào đầu tháng 2 năm 1947, Đức Thầy di chuyển về miền Tây, đặt văn pḥng tại Hành dinh của Chi đội 30 ở xă Phú Thành, có lẽ đọc biên bản nên có cho vời nhân viên Ban chấp hành Tỉnh bộ Châu đốc đến.

Sau khi nghe tŕnh bày, Ngài có nói; Tuy tôi là Ủy viên Trung Ương cũng là sáng lập viên đảng Dân Xă, vẫn không có quyển sửa đổi điều lệ. Quyền ấy phải dành cho đại hội toàn quốc, một năm được triệu tập một lần, mới có quyền sửa đổi mà thôi. Như vậy ông Kinh đă làm sai nguyên tắc. Nói đoạn, Ngài xoay qua ra lịnh cho văn pḥng viết thơ mời gấp Ban chấp hành Liên Tỉnh (4).

Mấy hôm sau đó, Đức Thầy ngộ nạn. Thế rồi Ban chấp hành Liên tỉnh cứ tiếp tục hoạt động theo h́nh thức tổ chức mới và ra lịnh cho các cấp bộ lệ thuộc cùng cải tổ theo.

Về h́nh thức, thế là Đảng Dân Xă đă thay đổi mà về tinh thần, đảng cũng trải qua một cuộc biến cải hay lột xác, từ địa vị lănh đạo chánh trị đă biến thành một tổ chức lệ thuộc quân sự, đóng lấy vai tṛ tiếp tế, cung phụng vừa tiền bạc vừa quân nhu thực phẩm cho quân đội mà thôi.

Các nhà ái quốc trí thức theo Đức Thầy về miền Tây để phục vụ đảng, hoặc đào tạo cán bộ hoặc chuẩn bị ra báo, nhận thấy đảng Dân Xă đă biến thể nên không c̣n lư do để phục vụ, lần lượt rút lui về Sài G̣n. Trong số đó được biết: Luật sư Lê văn Thu, nhà văn Nguyễn Duy Linh, các giáo sư Huế Điền, Vơ văn Lượm…

Về phương diện chánh trị đă thế mà về phương diện quân sự, v́ sự bức bách của t́nh thế cũng có chỗ đổi thay. để đáp ứng với t́nh thế mới Bộ đội Phật Giáo Ḥa Hảo ra đời. Thừa cơ hội Đức Thầy vắng mặt, Thực dân cũng như Cộng sản tăng gia tấn công và khủng bố.

 

Cờ Ba Sao.

Vào khoảng tháng 7 năm 1947, trong một trận đánh tại vùng Láng Linh, v́ thiếu quân kỳ nên Bộ đội Dân Xă bị thiệt hại nặng. Có một số sĩ quan như C̣ Tŕnh, Cờ No... tử trận.

Ông Lâm Thành Nguyên đến báo cáo với Ban Chấp Hành Liên Tỉnh lúc bấy giờ đóng tại xă Hưng Nhơn, nguyên nhân của sự tổn thất và yêu cầu Liên tỉnh tạo cho lá quân kỳ. Sau khi thảo luận, lá cờ vàng với một ngôi sao đỏ được đưa ra, có ư đối chọi lại cờ VM, nền đỏ một ngôi sao vàng.

Lá cờ nầy không được chấp nhận, v́ lẽ nó không khác lá cờ của Thanh Niên Tiền Phong. Do đó, lá cờ được thêm hai ngôi sao nữa nghĩa là thành lá cờ nền vàng ba ngôi sao đỏ.

Ban Chấp Hành Liên Tỉnh có yêu cầu các cấp cho ư kiến và giải thích ư nghĩa để chọn lựa. Có nhiều ư kiến được đưa ra. Người th́ giải rằng: nền vàng là màu tượng trưng cho quốc gia Việt Nam, c̣n ba sao là tượng trưng cho ba kỳ: Nam, Trung, Bắc hoặc

-Tam dân chủ nghĩa: Dân tộc, Dân quyền, Dân sanh.

- Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.

- Tam tài: Thiên, địa, Nhơn.

 

Cuối năm 1947, một cái tang đưa đến cho đảng Dân Xă: ông Nguyễn văn Sâm, Ủy viên Trung Ương đặc trách Ngoại giao và đồng thời cũng là đại diện cho Mặt Trận Toàn Quốc tại miền Nam bị ám sát tại Chợ Lớn (10-10-1947).

Tiếp theo đó, bác sĩ Trần văn Tâm, Ủy viên Trung Ương đặc trách Tài chánh, cũng bị ám sát.

Thế là sự liện lạc giữa Trung Ương đảng bộ với Ban Chấp Hành Liên Tỉnh đă lỏng lẻo từ sau ngày Đức Thầy ngộ nạn, nay th́ đứt hẳn. Từ biến h́nh, đảng Dân Xă đến đây mất luôn lănh đạo và dần dần lột xác biến thành một đảng Ḥa Hảo.

Trong lúc mất lănh đạo, lại thêm dồn dập bị Pháp tấn công khủng bố, bắt bớ cán bộ, cũng như làm tê liệt các cơ quan tỉnh, quận, xă, cố dồn ép đảng Dân Xă hoặc tan ră, hoặc liên minh với Pháp chống cộng.

V́ giữ vững lập trường kháng chiến nên đảng bị khủng bố đến tê liệt.

Đầu năm 1948, một phiên họp được triệu tập tại chùa Cây Xanh ở Cái Tắc, Ban chấp hành Liên Tỉnh tuyên bố đ́nh chỉ công tác. Thế là các cán bộ phải hoặc rút vào vị trí bí mật, hoặc chui vào các lực lượng vơ trang để tiếp tục tranh đấu quân sự.

 

Đảng Dân Xă Ba Sao.

Năm 1954, nhân đem quân ra hợp tác với quân đội quốc gia, đại tá Lê Quang Vinh tức Ba Cụt, cho hợp thức hóa Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng với đảng kỳ nền vàng ba ngôi sao đỏ dụm lại (5), do Nghị định số 91-BNV/CT ngày 14-5-1954. Kịp khi Hiệp định Geneve ra đời (20-7-1954), đại tá Lê Quang Vinh kéo toàn quân và đảng Dân Xă vào bưng biền chống lại sự qua phân lănh thổ Việt Nam do âm mưu của Thực dân và Cộng sản, cho đến ngày chế độ độc tài gia đ́nh trị của Ngô đ́nh Diệm bị lật đổ.

Sau khi đảng rút vào bưng, Ngô đ́nh Diệm ban hành Nghị định số 41-NV ngày 27-1-1955 thâu hồi Nghị định số 91-BNV/CT ngày 14-5-1954 cấm Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng với lá cờ nền vàng ba sao đỏ hoạt động.

 

* * *

 

Nhắc lại Nguyễn Hoàn Bích tức Nguyễn Bảo Toàn Tổng Bí Thơ của đảng được Đức Huỳnh Giáo Chủ để cử đại diện đảng và Phật Giáo ḥa Hảo sang Trung Hoa hiệp với các nhà cách mạng lưu vong thành lập Mặt Trận Toàn Quốc với mục đích xây dựng một thế quốc gia. Nhưng v́ công dân Vĩnh Thụy lại nghe theo ư kiến của Pháp, chịu trở về nước với danh nghĩa Quốc Trưởng Bảo đại nên nhiệm vụ của Mặt Trận bất thành trong công cuộc xây dựng thế quốc gia bên ngoài làm hậu thuẫn cho Liên khu Quốc gia kháng chiến bên trong. Liền sau đó Đức Huỳnh Giáo Chủ ngộ nạn, rồi vài tháng sau ông Nguyễn văn Sâm bị ám sát.

Đầu năm 1948, Nguyễn Bảo Toàn trở về nước, gặp phải hoàn cảnh vô cùng bất lợi. Một mặt cơ sở Trung Ương không c̣n, một mặt tánh mạng bị đe dọa nên buộc ḷng phải xuất ngoại sang Ấu Châu, sống với nghề mở lớp hàm thụ dạy chánh trị.

 

CHÚ THÍCH

(1) ông Huỳnh Hữu Phỉ.

(2) Hành sử đạo nhân. Tr. 140.

(3) Hành sử đạo nhân. Tr. 144.

(4) Nghe đâu, sau đó Liên tỉnh có đến và theo lời của nhiều nhân viên văn pḥng thuật lại, Đức Thầy thâu hồi giấy ủy nhiệm của ông Kinh và ra lịnh cho Sáu Rớt (tức đại tá Trần văn Tươi) đưa ông Kinh về Sài G̣n. Chừng như Sáu Rớt v́ bận việc lo chuyên chở thuốc men nên có hẹn với Đức Thầy để hoăn lại một ngày khác.

(5) Khi mới ra đời ba sao xếp theo h́nh ṿng cung chớ không dụm lại.

 

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

| CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

 

 

[TV. PGHH]