Đức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Đức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích d́u sanh chúng,

Chủ ư chọn người vẹn Tứ ân.

(H́nh Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X

Dấn Thân

Sau khi Đức Thầy lên đường lánh nạn, t́nh h́nh trong nước trở nên trầm trọng. Đứng trước nạn xâm lăng của quân Pháp được Anh và bạn Đồng Minh ủng hộ, đang chực chờ tái chiếm Đông Dương, bọn Trần văn Giàu chẳng những không t́m phương đối phó, mà lại lo đàn áp các đảng phái quốc gia, những phần tử yêu nước bằng lối vu khống ghép cho những tội phản quốc, làm Việt gian để đánh mờ dư luận, che mắt thế gian về tung tích của ḿnh "làm Việt gian, đi đêm với Pháp" mà ông Huỳnh văn Phương có đủ tài liệu trong tay khi ông làm Tổng Giám đốc công an trong thời chánh phủ Trần Trọng Kim và Nguyễn văn Sâm làm Khâm sai Nam Bộ.

Do chánh sách vu khống ấy mà máu đồng bào đổ quá nhiều, gây nên nạn cốt nhục tương tàn, phá tan sự đoàn kết quốc gia. Hằng ngày đều có những tin bắt bớ khủng khiếp và hành quyết đồng bào vô tội v́ danh từ Việt gian. Một thảm họa khốc liệt đă gieo khắp non sông nước Việt.

Nào là tin Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quăng Ngăi, nào lănh tụ quốc gia bị bắt và bị thủ tiêu. Trong lúc đó th́ quân Pháp nhờ quân Anh yểm trợ trở lại chiếm Sài G̣n ngày 23-9-1945 rồi lần lược các tỉnh miền Nam. Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ trước hơn ai hết, cuốn gói bỏ Sài G̣n rút về Chợ Đệm, nơi đây cho hành quyết một số lănh tụ có tiếng như Hồ văn Ngà, Huỳnh văn Phương, Hồ Vĩnh Kư, Bùi quang Chiêu…

Trước sự tấn công mănh liệt của quân Pháp, Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ rút về Rạch Giá rồi sau cùng về Cà Mau, hợp với Kiều công Cung và Đào văn Trường thành lập Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ, nhưng không được khuếch trương trong nhân dân v́ phong trào chống độc tài một ngày một bành trướng. Nguyễn Ḥa Hiệp kéo đệ Tam Sư đoàn về án ngữ Cao Lănh và đồng Tháp phát động phong trào chống độc tài đỏ.

Ở Hậu Giang, anh em tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo v́ bị đàn áp nghiệt ngă, đứng lên chống lại. Một cuộc xô xát đẫm máu xảy ra giữa Việt Minh và Ḥa Hảo của nhóm vơ sĩ mà Đức Thầy kết nạp vào hàng ngũ đội Bảo An.

Trên bước đường lánh nạn, Ngài vô cùng đau khổ nh́n thấy non sông một ngày một tràn ngập "lũ Tây di", cũng v́ bọn cường quyền ngu si thi hành chánh sách độc tài đảng trị, giết hại đồng bào, gây cảnh nồi da xáo thịt, có lợi cho bọn xâm lăng cướp nước. Ngài đă thống thiết thốt ra những lời bi cảm trong một bài thơ tự thán như sau:

Gió hiu hắc bên rừng quạnh quẻ,

Nh́n non sông đượm vẻ tang thương.

Mối t́nh chủng loại vấn vương,

Thấy quân xâm lược hùng cường căm gan.

Vừa toan rút gươm vàng ngăn giặc,

Bỗng họa đâu gieo rắc bất kỳ.

Cường quyền một lũ ngu si,

Oan nầy hận ấy sử ghi muôn đời.

Truyền khắp nước muôn lời vu cáo,

Dùng trăm ngàn thói bạo hiếp dân.

Làm cho trong nước rẻ phân,

Làm cho giặc Pháp một lần sướng rang.

Vậy cũng gọi an bang định quốc,

Rồi rút lui bỏ mất thành tŕ.

Giống ṇi nỡ giết nhau chi,

Bạng duật lương tŕ lợi lũ ngư ông.

Trong khoảng cuối năm Ât Dậu, quân Pháp có mặt khắp miền Nam, bọn Trần văn Giàu đă đào tẩu về miền Bắc. Anh em tín đồ đă liên lạc được với Đức Thầy và lo liệu đưa Ngài trở về Chợ Lớn vào thượng tuần tháng chạp năm Ât Dậu. Tính ra từ ngày Ngài ngộ nạn tại đường Sohier lánh thân lên Biên Ḥa, Long Thành, Bà Rịa, Cỏ May, rừng Chà Là cho đến ngày hồi cư có trên bốn tháng.

Anh em đưa Ngài vào trú ngụ ở một tiệm khách làm bia đá ở bến Lê Quang Liêm trong Chợ Lớn. Nơi đây chỉ mướn được một chỗ để giường đủ cho Ngài và một tín đồ theo hầu Ngài ẩn thân.

Mặc dầu trải lắm hồi gian truân nguy khốn, ḷng yêu nước nồng nàn của Ngài không v́ thế mà núng nao trước sự thành bại. Ngài cương quyết tiếp tục cuộc tranh đấu, nguyện đền bồi ơn đất nước:

Nếu mất thôi đành xong món nợ,

Nay c̣n há dễ ngó lơ sao?

Dọc ngang chí cả dù lao khổ,

Thất bại đâu nào dạ núng nao.

Thất bại đâu nào dạ núng nao,

Non sông bao phủ khí anh hào.

Phen nầy cũng quyết đền ơn nước,

Máu giặc nguyện đem nhuộm chiến bào.

Từ hôm trở lại Chợ Lớn, Ngài đă hoàn toàn hóa trang: tóc hớt ngắn, (1) phục sức như người Tàu, mang kiếng trắng và đi xe đạp. Nếu không để ư hay quen biết th́ không thể nào nhận ra Ngài, v́ từ cách đi đứng đến nói năng Ngài đă biến thành một người Tàu. Anh em tín đồ đă lo cho Ngài có một cái giấy Tàu. Hơn nữa Ngài nói tiếng Tàu như người Tàu th́ c̣n ai biết Ngài là người Việt.

(1) Từ ngày vào bịnh viện Chợ Quán, Ngài đă hớt tóc ngắn rồi.

Lần lượt sự liên lạc với anh em tín đồ ở Hậu Giang được nối lại nhưng rất hạn chế, chỉ những người được phép mới được đến gặp Ngài, khi th́ ở vườn hoa khi th́ ở tiệm nước Băng gia hay ở tiệm cơm chay Phật Hữu Duyên ở Chợ Lớn.

Khi nắm vững t́nh h́nh trong nước, Ngài mới khởi sự tiếp xúc lại với các chánh khách, lănh tụ các đảng phái quốc gia và sau nhiều lần trao đổi ư kiến và hội họp, cùng đi đến quyết định xây dựng lại một lực lượng tranh đấu mới để kịp thời đồi phó với t́nh thế mới.

Ngài nhứt quyết dấn thân vào cuộc đấu tranh dầu phải gian lao, miễn được bảo tồn non nước Việt. Chí khí cứu nước, chống xâm lăng đă bộc lộ tràn trề trong bài thơ "Rứt áo cà sa" như sau:

Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,

Quyết rứt cà sa mặc chiến bào.

Đuổi bọn xâm lăng ǵn đất nước,

Ngọn cờ độc lập phất phơ cao.

Ngọn cờ độc lập phất phơ cao,

Ṇi giống Lạc Hồng hiệp sức nhau.

Tay súng tay gườm xông trận địa,

Dầu cho giặc mạnh há ḷng nao.

Dầu cho giặc mạnh há ḷng nao,

Nam Việt ngàn xưa đúc khí hào.

Lúc giặc xâm lăng mưu thống trị,

Anh hùng đâu sá cảnh gian lao.

Anh hùng đâu sá cảnh gian lao,

Chiến địa giao phong rưới máu đào.

Miễn đặng bảo tồn non nước cũ,

Giữ an tánh mạng cả đồng bào.

 

Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam.

Vào khoảng đầu năm 1946, Ngài đă tiếp xúc lại với các lănh tụ quốc gia và đă cùng nhau thảo luận sự tổng hợp các lực lượng quân sự bị rời rạc trước sự càn quét của quân đội Pháp và sự đàn áp, khủng bố của Việt Minh Cộng Sản, thành một trận tuyến, cấp bách cứu văn t́nh thế nước nhà, khi mà bọn Trần văn Giàu tẩu đào về Bắc, quần chúng xơ xác trước sự tấn công của quân xâm lăng.

Ngày 2-4-1946, Huỳnh văn Trí tức Mười Trí chỉ huy trưởng Chi đội 4 Vệ Quốc đoàn, triệu tập tại Bà Quẹo một hội nghị bất thường và đi đến thành lập Ủy Ban Liên Hiệp Kháng Chiến, thay thế Ủy Ban Hành Chánh và Kháng Chiến Nam Bộ.

Sau khi sự liên hiệp quân sự thành lập, các thành phần quốc gia thấy cần thực hiện sự liên hiệp chánh trị. Do đó ông Vũ Tam Anh, Trưởng đệ Nhị Sư đoàn hiệp với tướng Mười Trí triệu tập tại Bà Quẹo nơi bản dinh của Mười Trí, một đại hội nghị quân chính gồm đông đủ đại diện các đoàn thể chính trị, tôn giáo và các lực lượng vơ trang.

Đại diện tôn giáo gồm có:

-         đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Ḥa Hảo.

-         Lê văn Tỵ đại diện Cao đài Tây Ninh.

-         Giáo sư Huỳnh Thơ Hương đại diện Cao đài kháng chiến Hậu Giang.

-         Lâm văn Hậu đại diện Tịnh độ cư sĩ.

-         Linh mục Nguyễn Bá Sang đại diện Thiên Chúa Giáo.

đi diện các đoàn thể chánh trị gồm có:

-         Phạm Thiều đại diện Pḥng chánh trị khu 7.

-         Trần văn Lâm đại diện VN Quốc Dân đảng.

-         Phạm ngọc Chiếu đại diện đảng Thống Nhứt.

-         Mai Thọ Trân thay mặt Hà Huy Giáp, đại diện Tổng Công đoàn và Kỳ bộ VM.

-         Nguyễn văn Sâm và Nguyễn Bảo Toàn, lănh tụ và Tổng thư kư VN Quốc Gia độc Lập đảng.

-         Phạm Hữu đức, Nguyễn văn Nhàn đại diện Huỳnh Long đảng.

đại diện các lực lượng quân sự gồm có:

-         Lê Trung Nghĩa đại diện Lực Lượng Kháng chiến.

-         Phan định Công thay mặt Nguyễn B́nh khu trưởng Khu 7.

-         Huỳnh văn Trí chỉ huy trưởng Vệ Quốc đoàn Bà Quẹo kiêm đại diện Liên chi B́nh Xuyên.

-         Lai Hữu Tài đại diện Vệ Quốc đoàn địa phương Sài G̣n Chợ Lớn.

-         Phạm Hùng đức chỉ huy trưởng Chi đội 5 Vệ Quốc đoàn.

-         Huỳnh Tấn Chùa chỉ huy trưởng Chi đội 12 Vệ Quốc đoàn.

-         Vũ Tam Anh chỉ huy trưởng đệ nhị Sư đoàn Dân Quân Cách Mạng.

-         Châu Tỷ chỉ huy trưởng Du kích quân địa phương Sài G̣n Chợ Lớn.

-         Từ văn Ri và Từ Huỳnh chi đội trưởng và đội trưởng Chi đội 12.

-         Lâm văn đức chi đội trưởng Chi đội 25.

-         Nguyễn văn đội tự Sáu đội, Chi đội 7 đổi lại Trung đoàn 307.

-         Nguyễn văn Mười Chi đội trưởng chi đội 3, Lực lượng Cao đài Kháng chiến Tây Ninh.

Hội nghị họp ngày 20 tháng 4 năm 1946 vào 13 giờ. Sau ba ngày đêm thảo luận sôi nổi, mọi người đếu chấp nhận và tuyên bố thành lập: Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp Việt Nam để huy động toàn lực các đoàn thể tôn giáo, chánh trị, quân sự… chống xâm lăng.

Một Ban chấp hành được thành lập với thành phần như sau:

-         Chủ Tịch: Hoàng Anh (Bí danh của đức Thầy).

-         Phó Chủ Tịch: Vũ Tam Anh.

-         Thơ kư: Mai Thọ Trân.

-         Tuyên Truyền: Lê Trung Nghĩa.

-         Ủy viên Quân sự: Huỳnh văn Trí.

-         Cố vấn: Phạm Thiều, Phạm Hữu đức, Trần văn Lâm.

Ngoài ra c̣n thành lập Ủy Ban Quân sự Tối cao. Vơ pḥng đặt tại ấp Tám làng Vĩnh lạc (miệt Bà Quẹo, 18 thôn vường trầu) và có một tờ báo bí mật: tờ Tự Do làm cơ quan tranh đấu.

Mặt trận có phái người đi hoạt động miền Trung và Bắc để thành lập ở mỗi nơi một Mặt Trận có thống nhứt lực lượng toàn quốc chống xâm lăng.

Riêng về khu Sài G̣n, Đức Thầy, ông Lê Trung Nghĩa và giáo sư Phạm Thiều lănh công tác vận động dân chúng kháng chiến ủng hộ Mặt Trận. Công cuộc bị bại lộ, một số người bị bắt trong đó có cha Luật, cha Sang. Rất may là Đức Thầy, ông Lê Trung Nghĩa và một nữ liên lạc viên thoát khỏi.

Chúng có t́m đến lục soát chỗ Đức Thầy ở, nhưng không t́m thấy tài liệu cất dưới gối, mặc dầu chúng đă lật qua lật lại nhiều lần.

Thấy bại lộ, Đức Thầy cho dời pḥng đi nơi khác và căn dặn phải mướn một căn nhà có ngơ hậu. Anh em tín đồ cũng rán mướn gần đó một chỗ ở như ư muốn.

Có một hôm Đức Thầy về nghỉ; lối nửa đêm Ngài thức giấc bước ra cửa sau đi tiểu th́ liền lúc đó bọn Công an pháp đến kêu cửa phía trước và tràn vào lục soát, rọi đèn khắp phía sau mà không thấy Đức Thầy.

Khi bọn chúng đi rồi, Ngài bước vào nhà, anh em theo ủng hộ hỏi Ngài sao biết có cuộc khám xét mà lánh thân. Ngài đáp: Ngài đi tiểu chớ có biết bọn chúng đến xét nhà đâu mà tránh, Ngài đứng tiểu phía sau chớ có đi đâu, tại chúng rọi không thấy.

Cũng trong thời gian Ngài ở trọ căn nhà nầy, tuy gọi là mướn chỗ ở, nhưng Ngài thường đi luôn, lâu lâu mới về ở nghỉ năm ba hôm để tiếp xúc với anh em tín đồ dưới Hậu Giang lên, rồi th́ vắng mặt. Cô chủ nhà có một cô em gái thấy Đức Thầy th́ đem ḷng thầm yêu. Để thức tỉnh ḷng phàm của con người trần tục, Ngài có làm ba bài thơ "T́nh yêu" như sau:

Ta có t́nh yêu rất đượm nồng,

Yêu đời yêu lẫn cả non sông:

T́nh yêu chan chứa trên hoàn vũ,

Không thể yêu riêng khách má hồng.

Nếu khách má hồng muốn được yêu,

Th́ trong tâm chí hăy xoay chiều.

Hướng về phụng sự cho nhơn loại,

Sẽ gặp t́nh Ta trong khối yêu.

Ta đă đa mang một khối t́nh,

Dường như thệ hải với sơn minh.

T́nh yêu mà chẳng yêu ai cả,

Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.

Ai cũng nhận Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp quả là một Mặt trận thống hợp các lực lượng quốc gia, tạo thành một thế vững mạnh cho chánh nghĩa dân tộc được quần chúng ủng hộ, nhiệt liệt tham gia. Quân Pháp đâm ra lo ngại mà Cộng sản cũng canh cánh phập pḥng không khéo Mặt Trận Liên Hiệp sẽ làm lu mờ Mặt Trận Việt Minh, nên chi Cộng sản t́m cách ngăn chận và mưu toan phá cho tan vở.

Về phía quân Pháp th́ chúng đổi chiến lược, thay v́ đem toàn lực tấn công các lực lượng cộng sản, chúng đâm mũi dùi vào hàng ngũ quốc gia. Ở thành chúng cho công an cảnh sát lục soát, chận bắt các nhân viên của Mặt Trận và phá vở các ở liên lạc. Hơn 150 nhơn viên của Mặt Trận bị bắt, trong đó có quí ông Nguyễn Trung Chánh, Nguyễn Thanh Tân bị đày đi Côn đảo. Ở bưng, chúng đem toàn lực thủy lục không quân tấn công các căn cứ quốc gia, đánh dồn về biên giới Cao Miên (Quéo Ba, Thổ Địa, B́nh Ḥa).

Thừa dịp Mặt Trận Quốc Gia đang đối phó với quân xâm lăng, Cộng sản tung ra Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt), dùng một danh từ tương tợ (Liên Hiệp) để gây sự hiểu lầm trong các giới đồng bào, với dụng ư đem Hội Liên Hiệp đánh tráo Mặt Trận Liên Hiệp. Nguyễn B́nh và Phạm Thiều tuyên bố rút ra khỏi Mặt Trận và đưa đề nghị đổi Mặt Trận Liên Hiệp lại thành Hội Liên Hiệp, nhưng đề nghị nầy không được các đoàn thể quốc gia chấp thuận.

Thế là, Cộng sản, trong lúc t́nh thế nước nhà đang nguy ngập trước nạn xâm lăng, nhẫn tâm dùng thủ đoạn mượn danh nghĩa chánh phủ giải tán Mặt Trận thẳng tay khủng bố các đoàn thể quốc gia. Cuộc xung đột giữa Quốc Cộng bùng nổ ở miền Nam cũng như ở miền Bắc.

Do thỏa hiệp 6-3-1946, kư kết với Pháp, chánh quyền Cộng sản liên quân với Pháp đàn áp các lực lượng quốc gia ngoài Bắc. Việt Nam Quốc Dân đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội bị tấn công đến tan ră hàng ngũ phải chạy sang Trung Hoa.

C̣n ở miền Nam th́ các đoàn thể quốc gia bị khủng bố tới tấp. Đứng trước sự phản bội của Cộng sản, Đức Thầy liền triệu tập đại hội để quyết định thái độ. Đứng trước nguy cơ của đất nước, các đoàn thể không tự cho phép dùng vơ lực đối phó lại, sợ làm suy giảm tiềm lực kháng chiến của quốc gia, nên chấp nhận tạm giải tán Mặt Trận vào thượng tuần tháng 7 năm 1946, nhưng cương quyết không nhận tham gia Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam.

Đứng trước sự phản bội của Cộng sản, nhứt là sự cốt nhục tương tàn do chánh sách khủng bố của chế độ độc tài gây nên, Đức Thầy vô cùng thống khổ, viết ra những ḍng thơ bộc lộ tâm can của một chiến sĩ đặt quyền lợi quốc gia trên mọi quyền lợi bè phái hay t́nh riêng, dống lên "Tiếng chuông cảnh tỉnh".

Hăy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn chiến sĩ,

Mở ḷng ra thương nghĩ sanh linh.

Đồng bào ai nỡ dứt t́nh,

Mà đem chém giết để ḿnh an vui.

Dù lúc trước nếm mùi cay đắng,

Kẻ độc tài đem tặng cho Ta.

Sau nầy Ṭa án quốc gia,

Sẽ đem kẻ ấy mà gia tội h́nh.

Lúc bây giờ muôn binh xâm lược,

Đang đạp vày non nước Việt Nam.

Thù riêng muôn vạn cho cam,

Cũng nên gát bỏ để làm nghĩa công.

Rồi Ngài kêu gọi mở ḷng khoan dung tha thứ và v́ nghĩa đồng chủng đồng bào, hăy hiệp lực đoàn kết nhau chống phân ly (bọn Nam Kỳ tự trị) và chống xâm lược (Pháp).

Khắp Bắc Nam Lạc Hồng một giống,

Tha thứ nhau để sống cùng nhau.

Quí nhau từng giọt máu đào,

Để đem máu ấy tưới vào địch quân.

Đấng anh hùng vang lừng bốn bể,

Các sác dân đều nể đều v́.

Đồng bào nỡ giết nhau chi,

Bạng duật tương tŕ lợi lũ ngư ông.

Hỡi những kẻ có ḷng yêu nước,

Nghe lời khuyên tỉnh được giấc mê.

Anh em lớn nhỏ quày về,

Hiệp nhau một khối chớ hề phân ly.

Đả đảo bọn Nam kỳ nô lệ,

Kiếp cúi ḷn thế hệ qua rồi.

Lời vàng kêu gọi khắp nơi,

Anh em chiến sĩ nhớ lời Ta khuyên.

 

Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng.

Mặc dầu Mặt Trận chánh trị không c̣n hoạt động, nhưng về mặt quân sự, Đức Thầy vẫn c̣n hợp lực với các nhà chỉ huy quân sự như Huỳnh văn Trí, Lê văn Viễn và các trưởng chi đội thuộc thành phần quốc gia đấu tranh chống xâm lăng.

Đứng trước t́nh h́nh đất nước càng ngày càng nguy ngập, Ngài nhận thấy không thể tranh đấu thuần mặt quân sự mà cần phải tranh đấu về mặt chánh trị mới mong chống nổi xâm lăng Pháp và ngăn chận được nạn độc tài giành lănh đạo kháng chiến là điều thất lợi cho công cuộc kháng chiến chống xâm lăng về phương diện đối ngoại cũng như về phương diện đối nội.

Về đối ngoại. Nếu để Cộng sản hay cán bộ Cộng sản đệ Tam Quốc Tế lănh đạo kháng chiến chắc chắn sẽ không được sụ ủng hộ của đồng Minh không Cộng sản. Do đó cuộc kháng chiến phải đau khổ, gây nhiều tang tóc cho quốc gia, thảm hại cho đồng bào. Trái lại, nếu người quốc gia lănh đạo kháng chiến, chắc chắn sẽ được các nước đồng Minh dân chủ ủng hộ, nhờ đó mà cuộc kháng chiến không dai dẳng. Như trường hợp của Nam Dương, ban đầu cuộc kháng chiến do Sokarno một lănh tụ thân Trục Phát Xít lănh đạo, thấy bất lợi nên nhường quyền lănh đạo kháng chiến lại cho Bác sĩ Djarir thân đồng Minh, nhờ vậy mà các nước dân chủ ủng hộ, bắt Ḥa Lan phải rút lui, trả quyền tự chủ cho Nam Dương.

Về đối nội. Cộng sản khi lên nắm chánh quyền đă thi hành chánh sách độc tài đảng trị, giết hại đồng bào, gây tang tóc cho quê hương, v́ vậy mà không thực hiện sự đoàn kết toàn dân. Hơn nữa thiếu chánh nghĩa dân tộc, Việt Minh không thể thủ lấy vai tṛ lănh đạo chánh trị. V́ vậy mà cuộc kháng chiến kéo dài gây điêu linh cho đất nước, đau khổ cho đồng bào.

Bởi nh́n thấy những trở ngại như đă nói trên, Đức Thầy muốn cho cuộc kháng chiến hữu hiệu mau đạt thắng lợi, vừa được cảm t́nh các nước dân chủ bên ngoài, vừa được sự ủng hộ nhiệt liệt của toàn dân bên trong, cần phải có một lực lượng đoàn kết quốc gia, nêu cao được ngọn cờ chánh nghĩa dân tộc.

Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp đă bị phá tan, không v́ thế mà không tiếp tục tranh đấu. Đức Thầy bèn nghĩ đến sự tái tạo một lực lượng chánh trị khác khả dĩ kịp thời ứng phó với thời cuộc và đủ sức chống xâm lăng cứu nước.

Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp tuy qui tụ được nhiều đoàn thể tôn giáo, chánh trị, nhiều lực lượng vơ trang nhưng với tổ chức mặt trận, sự lănh đạo bao giờ cũng lỏng lẽo rất dễ bị phá hoại, tan ră.

Cho được thống nhứt hành động, lănh đạo duy nhứt cần phải tổ chức thành một chánh đảng, gồm những thành phần thuần nhứt (homogène) cùng chấp nhận một đường lối, lập trường tranh đấu chung và cùng chịu khép ḿnh vào những kỷ luật sắt.

Khi hội hợp và gần gũi nhau tranh đấu trong Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp, Đức Thầy đă t́m thấy những bạn tri kỷ, những người có thể trở thành đồng chí, cùng đứng chung trong một tổ chức chặt chẽ, có lập trường kỷ cương hẳn hoi: tổ chức một chánh đảng quốc gia, gồm nhiều thành phần cùng chung một chí hướng.

Ngài nhận thấy Phật Giáo Ḥa Hảo là một tổ chức qui tụ các thành phần nông dân, chỉ có ḷng thiết tha yêu nước và dám hành động cách mạng nhưng lại kém phần văn hóa, v́ là thành phần bạc đăi trong xă hội, thường bị bóc lột sức lao động, sống một đời cần cù, măi lo ăn lo mặc không rồi th́ c̣n đâu được rỗi rảnh để trau giồi về mặt văn hóa, trí thức.

Trái lại đảng viên của Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng của quí ông: Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn, Lâm văn Tết, Lê văn Thu, Trần văn Ân… là một tổ chức khá quan trọng qui tụ hầu hết các thành phần trí thức thành thị, có những cán bộ xuất thân trong hàng khoa bảng, có những đảng viên từng được trui luyện trong các cuộc tranh đấu quần chúng thợ thuyền, nhưng nếu đem sánh với khối nông dân của Phật Giáo Ḥa Hảo th́ họ trở nên thiểu số.

(hai tấm h́nh (trang 177, 178).

V́ vậy nếu đứng riêng rẽ tranh đấu, mỗi đoàn thể không sao tạo thành một lực lượng hùng hậu khả dĩ thay đổi được thế cờ, chuyển được vận nước: bởi một đàng có lực lượng quần chúng nhưng thiếu cán bộ điều khiển, c̣n một đàng có thừa cán bộ chỉ huy nhưng lại không có khối quần chúng ủng hộ.

Nếu hai lực lượng nầy được hợp nhứt và nếu có thể qui tụ thêm vài thành phần nữa, thành một một chánh đảng th́ chắc chắn đủ sức tranh đấu chuyển được thế nước, đem lại thắng lợi cho quốc gia, và đủ sức lănh đạo nước nhà theo một chương tŕnh cấp tiến, phù hạp với nguyện vọng của toàn dân và tiến kịp trào lưu thế giới.

Nhận thức được sự cần thiết xây dựng một lực lượng chánh trị duy nhứt, các nhà lănh đạo của hai đoàn thể Phật Giáo Ḥa Hảo và Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng, thống hợp nhau thành Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng, gọi tắt là Dân Xă đảng.

Đó là hai thành phần cốt cán của đảng Dân Xă, nhưng ngoài hai thành phần nầy, đảng c̣n kết nạp các thành phần khác, tuy không quan trọng về lực lượng quần chúng, nhưng có một số cán bộ tân tiến trong những tổ chức: Cần lao, kháng chiến, thanh niên…

Ban lănh đạo tổ chức theo h́nh thức chủ tịch đoàn gồm tối đa 15 nhân viên gọi là Ủy viên Trung Ương có thể mỗi ủy viên đảm trách một nhiệm vụ, Trung Ương đảng bộ được tổ chức và gồm có:

-         Nguyễn Bảo Toàn, Tổng Bí Thơ.

-         Nguyễn văn Sâm, Ủy viên Trung Ương đặc trách Ngoại Giao.

-         Trần văn Ân, Ủy viên Trung Ương đặc trách Tuyên Truyền.

-         Lê văn Thu, Ủy viên Trung Ương đặc trách Huấn Luyện.

-         Lâm văn Tết, Ủy viên Trung Ương đặc trách Tài Chánh.

-         đỗ phong Thuần, Ủy viên Trung Ương đặc trách Tài Chánh.

-         Trần văn Tâm, Ủy viên Trung Ương đặc trách Thủ Quỹ.

-         La văn Thuận, Ủy viên Trung Ương đặc trách Liên Lạc.

C̣n Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ngài chỉ giữ chức Ủy viên Trung Ương không có đặc trách một nhiệm vụ nào cả.

Cứ xem thành phần của Ban Chấp Hành Trung Ương ai cũng thấy hầu hết những chức vụ quan trọng đều giao phó cho anh em bên Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng. Đức Thầy giao trọn bộ máy điều hành đảng cho anh em thuộc thành phần trí thức và có thành tích đấu tranh, có uy tín trong nhân dân, từng tham gia các phong trào chống Pháp và từng vào tù ra khám như quí ông: Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn văn Sâm, Trần văn Ấn…

Có người hỏi Đức Thầy sao Ngài trao cả bộ máy điều khiển đảng cho anh em Việt Nam Quốc Gia độc Lập đảng, không sợ người ta lợi dụng để làm nấc thang danh lợi hay sao th́ Ngài có trả lời đại khái như sau:

Phàm đă hợp tác th́ nên thành thật, đă tín nhiệm th́ phải dùng và đặt để cho đúng chỗ, xứng với tài năng của người. Việc cứu nước là việc chung, ḿnh nên ủng hộ cho người ta làm, chớ đừng ganh tỵ, tranh giành địa vị mà hư việc lớn. Ḿnh nên thực tâm đem khối quần chúng hùng hậu của ḿnh ủng hộ cho các chiến sĩ cách mạng tranh đấu cho đất nước. Ngày nào ḿnh thấy họ có ư lợi dụng hay không thực tâm tranh đấu cho quyền lợi quốc gia th́ ḿnh rút sự ủng hộ lại. Quần chúng là của ḿnh, mất mát đâu mà sợ.

Trung Ương Đảng Bộ cho mở khóa huấn luyện chánh trị đầu tiên tại Sài G̣n và đồng thời cho xuất bản tờ Quần Chúng làm cơ quan tranh đấu. Ṭa soạn đặt tại đường Chaigneau, nay là Tôn Thất Đạm, có cả máy in riêng. Uy thế của đảng một ngày một lớn mạnh thu hút một số đông trí thức thành tham gia vào cuộc đấu tranh chống xâm lăng bằng hai đường lối: cách mạng ở bưng và đường lối chánh trị ở thành.

V́ sợ ảnh hưởng của đảng Dân Xă, Cộng sản t́m cách phá hoại bằng lối tung lựu đạn vào ṭa soạn báo Quần Chúng; c̣n thực dân Pháp th́ t́m cách ám hại Ủy viên Trung Ương.

 

Tham Chánh.

Mặc dầu đă lập đảng Dân Xă, hoạt động chánh trị ngoài thành với tờ báo Quần Chúng làm cơ quan ngôn luận, nhưng Ngài ít ở Sài G̣n, mà thường có mặt ở chiến khu. Ngài để chơn khắp miền Đông nào là: Bà Quẹo, Ḥa B́nh, Quéo Ba, Vườn Thơm, Thổ Địa, Cḥi Ṃi, Bù Lu, Mộc Hóa, Lạc An, An Phú Đông… sát cánh với anh em chiến sĩ, các cấp lănh đạo thuộc thành phần quốc gia như: Huỳnh văn Trí, Lê văn Viễn.

Nhận thấy ảnh hưởng của đảng Dân Xă được các thành phần trí thức thành thị tham gia khá đông và tiếng nói chánh nghĩa của báo Quần Chúng được đồng bào trong nước hân hoan tiếp nhận và dư luận quốc tế đặc biệt chú ư, Cộng sản mấy lần phá hoại hàng ngũ quốc gia không thấy hiệu quả, nên phen nầy thay đổi chánh sách khủng bố ra chánh sách ḥa dịu đối với Đức Huỳnh Giáo Chủ mong được hợp tác trở lại để tăng cường lực lượng kháng chiến hầu có đủ sức chống xâm lăng, nhứt là lực lượng vơ trang của Phật Giáo Ḥa Hảo đă từng biển diễn trong nhiều cuộc đột kích thắng lợi quân Pháp ở nhiều nơi.

Để nối lại liên lạc hầu đi đến sự hợp tác, Trường Phong Phạm Thiều t́m đến gặp Đức Thầy. Trong cuộc đàm thoại, Phạm Thiều có ư trách anh em tín đồ ở Hậu Giang gây nên cuộc xô xát giữa VM và Ḥa Hảo th́ Đức Thầy có đáp: đứng về mặt tôn giáo, lấy đức hiếu sinh của nhà Phật làm tiêu chuẩn song tôi đă ra làm chánh trị th́ những sự xô xát thương tâm do bên VM gây ra, tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo chỉ đứng về phương diện tự vệ mà thôi.

Sau đó một thời gian, trong lúc Ngài ở tại Tổng bản dinh Bộ đội An Điền, Phạm Thiều có gởi đến cho Ngài 5 bài thơ khích tướng, có ư mời Ngài tham chánh cứu dân cứu nước, dẹp bỏ mối hiềm xưa:

Mưa gió thâu canh măi dập dồn,

Ấm u tràn ngập cả càn khôn.

Hỡi ai thức ngủ trong đêm ấy,

Có thấu tai chăng tiếng quốc hồn.

Sao c̣n khắc khoải hiềm xưa,

Trang sử chùi đi những vết nhơ.

Ǵn giữ tim son không chút bợn,

Mặc ṭa dự luận thấu hay chưa.

Sao c̣n lănh đạm với đồng bang,

Toan trút cho ai gánh trị an.

Thảm kịch "tương tàn" chưa hết diễn,

Long Xuyên, Châu đốc lụy muôn hàng.

Sao c̣n ngần ngại chẳng ra tay,

Trước cảnh xâm lăng cảnh đọa đày.

Ngọn lửa binh đao lan khắp đất,

Phật Trời soi thấu cũng châu mày.

Chẳng có cà sa chẳng chiến bào,

Về đây tham chánh mới là cao.

Non sông chờ đợi người minh triết,

Chớ để danh thơm chỉ Vơ Hầu.

Ngày 1 tháng 10 năm 1946, Đức Thầy gởi bài thơ họa lại nguyên vận như sau:

Những nỗi đau thương măi dập dồn,

Càng nhiều luân lạc lại càng khôn.

Lặng nh́n thế sự nào ai ngủ,

Chờ dịp vung tay dậy quốc hồn.

Từ bi đâu vướng mối hiềm xưa,

Nhưng vẫn lọc lừa bạn sạch nhơ.

Nếu quả tri âm tri ngộ có,

Th́ là hiệp lực hiểu hay chưa.

Nh́n xem Trung quốc khách lân bang,

Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?

Nếu thiệt hai bên đồng hiệp trí,

Kẻ gây thảm kịch phải qui hàng.

Làm kẻ chực chớ đặng phỏng tay,

Mà sao chánh sách bắt dân đày.

Vẫn c̣n áp dụng v́ phe đảng,

Chẳng muốn xông ra sợ cháy mày.

Thà ở trong quân mặc chiến bào,

Ngày qua sẽ biết thấp hay cao.

Nào ai dám sánh ḿnh minh triết,

Mà dám lăm le mộng Vơ Hầu.

Trước t́nh thế nước nhà càng ngày càng trở nên nguy ngập, do nạn Thực Dân xâm lược, đồng bào bị giết, nhà cửa vườn tược bị tàn phá tan hoang, Đức Thầy trong tuần tháng 10 năm 1946 chấp nhận tham chánh, nhưng với một chức vụ hết sức khiêm tốn, có thể nói một chức vụ tượng trưng cho t́nh đoàn kết chống xâm lăng: Ủy viên đặc biệt trong Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ.

Ngài đă giải bày lư do của sự tham chánh ấy trong một bản tuyên bố đăng trên báo Quần Chúng ngày 14-11-1946 như sau:

"Hôm nay, nhận rơ cuộc tranh đấu cho tổ quốc c̣n dài và cần nhiều nỗ lực, hưởng ứng với tiếng gọi đại đoàn kết của chánh phủ Trung Ương, tôi quyết định tham gia hành chánh với những mục đích nầy:

1.      để tỏ cho quốc dân và chánh phủ thấy rằng chúng tôi chủ trương thống nhứt lănh thổ và độc lập quốc gia.

2.      để biểu dương tinh thần đoàn kết của dân tộc hầu mau đem thắng lợi cuối cùng.

3.      để tỏ cho các đảng phái thấy rằng chúng tôi không khi nào có những tham vọng cao sang vương bá hay v́ hềm riêng mà hờ hững với phận sự cứu quốc.

Biểu lộ tấm ḷng thành thật ấy, tôi chỉ nhận một nhiệm vụ cần thiết, hạp với hoàn cảnh và năng lực ḿnh, cố gắng giàn xếp về hành chánh và quân sự để củng cố tăng cường lực lượng của quốc gia”.

để giàn xếp các cuộc xô xát giữa Việt Minh và Ḥa Hảo – Dân Xă, Ngài chấp nhận thành lập một Ủy Ban Ḥa Giải gồm có ba nhân viên:

-         đi diện Cộng sản: Hoàng Du Khương

-         đi diện Thiên Chúa Giáo: Linh mục Lê bá Luật

-         đi diện Phật Giáo Ḥa Hảo: Mai văn Dậu

Linh mục Lê bá Luật đúng lư là đóng vai tṛ trung gian, nhưng theo dư luận, ông thuộc thành phần Thiên Chúa Giáo thân cộng. Thành thử ông Mai văn Dậu phải luôn luôn ở thế chống đối. Vả lại ông là người cương trực và khôn ngoan nên hai đại diện kia không thể lừa hay lấn áp. Nhờ vậy mà một số cán bộ Dân Xă được cứu thoát.

V́ có sự chinh lệnh cho nên công cuộc ḥa giải phải đi đến chỗ bế tắc. Cuộc xô xát giữa VM và Ḥa Hảo lại bùng cháy mănh liệt hơn trước. Việt Minh lợi dụng tư thế chánh quyền dở thủ đoạn đàn áp và thủ tiêu tín đồ Ḥa Hảo và đảng viên Dân Xă, khiến Đức Thầy phải di hành về miền Tây để giàn xếp.

 

Chi đội 30.

Trong thời kỳ toàn dân kháng chiến lúc bọn Trần văn Giàu rút về Rạch Giá rồi cuối cùng chạy về Cà Mau, quân Pháp trở lại chiếm cứ miền Nam ngày ngày đi ruồng bố hết làng nầy sang làng khác, đốt nhà phá cửa, giết hại lương dân, nhân dân của mỗi địa phương tự động tổ chức lấy lực lượng vơ trang chống Pháp. Ban sơ dùng tầm vong vạt nhọn chống lại thần công đại bác của giặc, nhưng nhờ chiến thuật du kích nhân dân đoạt thủ được súng đạn của giặc mà dần dần tổ chức thành những đội nghĩa quân, do nhân dân cung cấp lương thực và nhiều khi đóng góp tiền bạc mua sắm khí giới. Những đội vơ trang có phận sự bảo vệ hương thôn chống lại cuộc ruồng bố của Pháp, bắt đầu từ đó.

Phương chi, trong thời kỳ Nhựt Bổn, có nhiều đoàn thể hợp tác với Nhựt được Nhựt vơ trang nên thành lập riêng những lực lượng chiến đấu.

Đức Huỳnh Giáo Chủ không chịu nhờ Nhựt về quân sự, nên không có tổ chức lực lượng được Nhựt vơ trang như các đoàn thể khác. Mặc dầu không hợp tác hay nhờ Nhựt vơ trang, nhưng tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo để tự vệ và để đóng góp vào công cuộc kháng chiến chống xâm lăng cũng tự động tạo lập các lực lượng vơ trang.

Khi Đức Huỳnh Giáo Chủ chấp nhận tham chánh, Ngài đă có một lực lượng quân sự vơ trang rồi. Đó là Nghĩa Quân Cách Mạng Vệ Quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực.

Để thống nhứt lực lượng kháng chiến, sắp xếp có thứ tự và cùng đặt dưới sự chỉ huy duy nhứt, Đức Thầy đem những đội vơ trang ấy tổ chức thành một chi đội trong hàng ngũ Vệ Quốc đoàn Việt Nam. Đó là Chi đội 30 mà Ngài giao quyền chỉ huy cho ông Nguyễn giác Ngộ lúc bấy giờ từ Côn đảo mới trở về, v́ đă bị Pháp bắt và kêu án đày đi Côn đảo về tội tham gia và hoạt động cho Phật Giáo Ḥa Hảo. Ngoài thành tích là một tín đồ trung thành dám hy sinh địa vị cho đạo và chịu khổ cực đi đày trong ba năm, ông Nguyễn giác Ngộ vốn là một quân nhân của Pháp làm đến chức quản trong hàng ngũ lính tập; chính do cái khả năng quân sự đó Ngài giao quyền chỉ huy Chi đội 30 cho ông.

Tuy các lực lượng vơ trang của Phật Giáo Ḥa Hảo đă ḥa ḿnh vào đại gia đ́nh Vệ Quốc đoàn Việt Nam, nhưng v́ sự tản mác quân đội nên sự chỉ huy rất khó và lực lượng không được tập trung để chiến thắng quân giặc lúc bấy giờ đă tràn ngập miền Nam và đặt vững cơ sở quân sự khắp nơi.

Để thống nhứt hành động, gây lấy tin tưởng trong ḷng dân, cũng như tinh thần tranh đấu của chiến sĩ, Đức Thầy hợp với các nhà lănh đạo “Liên Quân" (được thành lập sau khi Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp bị Nguyễn B́nh ra lịnh giải tán, gồm các chi đội quốc gia đặt dưới quyền chỉ huy thống nhứt của hai tướng Huỳnh văn Trí và Lê văn Viễn) thảo luận để thành lập một Liên khu quốc gia ở miền Tây hầu phân tán lực lượng của Pháp đặng có cứu văn miền Đông đang bị giặc lấn áp. (1)

(1) đề nghị nầy được chánh quyền trung ương chấp nhận do điện văn ngày 18-1-1947.

Để chuẩn bị thực hiện kế hoạch đă định (thành lập một chiến khu quốc gia ở miền Tây), về mặt quân sự, Đức Thầy ra lịnh cho ông Nguyễn giác Ngộ mở trường huấn luyện quân sự tại núi Dài đào tạo cấp tốc 10.500 quân, đủ khả năng chiến đấu. Một Ban Giám độc thành lập, do kinh lư Nguyễn văn Nghiêm chỉ huy. C̣n phần huấn luyện th́ giao cho Lê Hoài Nam cùng 4 sĩ quan Nhựt cấp tá phụ trách.

Đồng thời, Ngài cũng cho đào tạo nhân viên cứu thương, sắm dụng cụ y khoa và thuốc men. Công việc mua sắm và chuyên chở th́ giao cho Sáu Rớt tức Trần văn Tươi, hiện nay là Đại Tá trong Quân đội Cộng Ḥa.

Ngài cũng ra lịnh cho tín đồ miền Tây lo quân nhu và thực phẩm để tiếp tế cho số quân đang tập dượt và số quân sau nầy khi hoàn thành Liên khu Quốc Gia.

Có người thắc mắc hỏi Ngài: Tập luyện 10.500 quân rồi lấy súng ống đâu vơ trang th́ ngài có đáp: Sợ là sợ ḿnh không có người cầm súng, chớ đừng sợ không có súng.

Đó là về mặt quân sự. Nhưng quan trọng là mặt chánh trị và ngoại giao. Nếu mạnh về mặt quân sự mà yếu về mặt chánh trị và ngoại giao th́ cuộc tranh đấu sẽ cô thế, thiếu chánh nghĩa, chẳng những không được người trong nước sẵn sàng hy sinh tham gia mà cũng không được các nước dân chủ bên ngoài ủng hộ.

 

Mặt Trận Toàn Quốc.

V́ vậy mà đồng thời với sự chuẩn bị thành lập Quân khu Quốc Gia, Ngài c̣n lo liệu thành lập một mặt trận chánh trị có ảnh hưởng quốc tế, Ngài bèn ra lịnh cho ông Nguyễn Hoàn Bích tức Nguyễn Bảo Toàn lên đương sang Trung Hoa, với sứ mạng ngoài đại diện cho Đảng Dân Xă, c̣n đại diện cho Phật Giáo Ḥa Hảo và Cao Đài Giáo, hai tôn giáo có một lực lượng tín đồ hùng hậu ở miền Nam để hiệp với các nhà cách mạng Việt Nam lưu vong ở Trung Hoa, thành lập một mặt trận chánh trị, qui tụ các lực lượng chánh trị thành một khối duy nhứt tranh đấu cho chánh nghĩa quốc gia, đ̣i lại chủ quyền dân tộc.

Những nhà cách mạng lưu vong nầy vốn là những lănh tụ các đảng chánh trị miền Bắc, sau khi bị Cộng sản liên quân với Pháp đánh bạt ra khỏi Bắc Việt chạy sang Trung Hoa sống nhờ sự che chở của chánh phủ Trùng Khánh cầu việc Trung Quốc giúp đỡ xây dựng lại lục lượng quân sự chờ cơ hội kéo về nước.

Sau khi tiếp xúc và thảo luận, ngày 27-2-1947, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc gọi tắt là Mặt Trận Toàn Quốc được thành lập tại Nam Ninh (Trung Hoa).

Mặt Trận gồm có các đoàn thể sau đây tham gia:

-         Việt Nam Cách Mạng đồng Minh Hội.

-         Việt Nam Quốc Dân đảng.

-         Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng và PGHH.

-         Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên đoàn.

-         Cao đài Giáo.

-         Đoàn Thể Dân Chúng.

-         Liên đoàn Công Chức.

Một Ban Chấp Hành Trung Ương thành lập, phân phối trách nhiệm như sau:

-              Chủ Tịch: Cụ Nguyễn Hải Thần, thuộc  Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội.

-         Ủy viên Ngoại Giao: ông Nguyễn Tường Tam, thuộc Việt Nam Quốc Dân đảng.

-         Tổng Thơ Kư: ông Nguyễn Hoàn Bích, thuộc Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng, đại diện cho Cao đài giáo và Phật Giáo Ḥa Hảo.

Ngoài ra c̣n có quí ông: Trần Côn tức Trần văn Tuyên, Lưu Đức Trung tham gia hoạt động.

Về đại diện trong nước th́ giao ông Nguyễn văn Sâm dùng tờ Quần Chúng làm cơ quan ngôn luận cho Mặt Trận.

Mặt Trận có liên lạc với công dân Vĩnh Thụy lúc bấy giờ ở Hương Cảng với mục đích xây dựng giải pháp quốc gia để tranh đấu đ̣i Pháp trả lại chủ quyền cho nhân dân Việt Nam.

Về sau, Bảo Đại chấp nhận theo kế hoạch của Pháp trở về nước làm Quốc Trưởng, chủ trương đem Việt Nam đứng trong Liên Hiệp Pháp.

Như thế, sứ mạng của Mặt Trận không thành, nghĩa là không tạo được thế chánh trị bên ngoài làm hậu thuẫn cho thế kháng chiến quốc gia bên trong. Dầu không đạt thành ư nguyện, Mặt Trận cũng đă làm được một việc có ích lợi cho dân tộc là khai sanh giải pháp quốc gia cho vấn đề Việt Nam.

Di chuyển về miền Tây.

Mặc dầu có Ủy ban Ḥa Giải đứng ra giàn xếp, nhưng v́ thành phần trong Ủy ban quá chinh lệch, trong lúc bên Ḥa Hảo Dân Xă chỉ có một đại diện th́ VM Cộng sản có đến 2 đại diện (1 của Cộng sản và 1 của Thiên Chúa Giáo thân cộng) thành thử không có cuộc giàn xếp nào được ổn thỏa. Cán bộ VM thường lợi dụng và nhân danh chánh quyền đàn áp và thủ tiêu tín đồ Ḥa Hảo và đảng viên Dân Xă, càng làm cho cuộc xô xát giữa VM và Ḥa Hảo tăng gia.

Với mục đích giàn xếp và chấm dứt cuộc lưu huyết ở Hậu Giang, Đức Thầy cần phải về miền Tây và hẹn với Ung văn Khiêm, đại diện Cộng sản sẽ gặp nhau tại Long Xuyên.

Thế là Đức Thầy chuẩn bị di chuyển về miền Tây. Nhưng trước khi rời miền đông, theo lời mời của Lê Trung Nghĩa, một phái đoàn gồm có Đức Thầy, Huỳnh văn Trí và Lai Hữu Tài đại diện cho Lê văn Viễn Phó khu trưởng, đến Ṭa Thánh Tây Ninh hội kiến với Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc vào hạ tuần tháng 3 năm 1947. Hai nhà lănh đạo tôn giáo đă thỏa thuận nhau nhiều vấn đề cứu nước và hẹn sẽ gặp lại.

Trước khi về miền Tây, Ngài cũng đă gởi về trước một nhóm văn nhân, chuẩn bị xuất bản một tờ báo trong khu làm cơ quan cho Liên khu Quốc gia. Nhưng rất rủi, nhà văn Khổng Dương bị tàu binh Pháp bắn chết tại vàm kinh Phong Mỹ. Chỉ có nhà văn Nguyễn Duy Hinh và một số kư giả may thoát nạn.

Trước nhóm văn nhân nầy, cuối năm Bính Tuất, Ngài cũng phái ông Lê văn Thu về miền Tây mở lớp huấn luyện chánh trị cho cán bộ đảng Dân Xă tại rạch Cái Gút, xă Nhơn Mỹ, trên cù lao ông Chưởng, quận Chợ Mới.

Đức Thầy ra lịnh cho Bộ đội Pḥng vệ và anh em tín đố chuẩn bị lên đường. Lúc 9 giờ tối ngày 23-3-1947 nhằm ngày 1 tháng 2 nhuần Đinh Hợi, Đức Thầy cho di chuyển khỏi Vàm Vè. Đến 6 giờ sáng hôm sau th́ đoàn binh đến thôn Thủy đông và chiều hôm đó di chuyển đến thôn Thuận Nghĩa Ḥa vào lúc 8 giờ tối.

Ngày 5-4-1947 (14 tháng 2 nhuần) vào 2 giờ chiều Đức Thầy đền từ giă anh em trong Chi đội 4 và 25 của B́nh Xuyên đóng tại Sông Xoài và Vịnh Sao. Đến 5 giờ chiều, Đức Thầy lên đường về miền Tây. Vào lúc 1 giờ khuya, đoàn binh đến trạm gát của Chi đội 18 của VM do Chi đội Xuyến chỉ huy. Chúng có bắt giữ ba chiếc ghe trong đoàn, về sau chúng trả tự do cho chiếc của Bà xă Được trước. Đến 6 giờ sáng th́ di chuyển đến kinh Gẫy.

Ngày 6-4-1947 vào lúc 8 giờ, đoàn binh đến chợ Tháp Mười, và 1 giờ trưa th́ đến chợ Cái Bèo, 2 giờ chiếu đến Ba Sao, 5 giờ chiều đến vàm kinh Phong Mỹ.

Vào khoảng 3 giờ rưỡi sáng th́ Đức Thầy đến ngọn Ba Răng và lên văn pḥng đặt tại nhà ông Bí Thơ Ban Chấp Hành Thôn Phú Thành, nơi đây đă có Chi đội 30 Vệ Quốc đoàn Việt Nam do ông Nguyễn giác Ngộ chỉ huy, chực sẵn tiếp rước và bố pḥng.

Về đến đây có 3 việc khủng bố của VM, giết hại tín đồ Ḥa Hảo và đảng viên Dân Xă làm cho Ngài xúc động.

Ngày 13-4-1947 một chiến sĩ Dân Xă trong Bộ đội Lưu động số 1 đi hớt tóc tại chợ Ba Răng bị cán bộ VM ập vào bắt đem đi chặt đầu.

Cũng trong ngày đó, anh Nguyễn Ngọc Phước, Bí Thơ Tỉnh đảng bộ Rạch Giá bị Trung đội 12 thuộc đại đội 66/22 bắt và đem hành quyết trong đêm 13 rạng 14-4-1947.

Ông Mai văn Dậu có về báo cáo với Đức Thầy và thú nhận bất lực trong việc can thiệp.

 

Thọ nạn.

Hôm sau, Đức Thầy nhận được 2 bức thơ, một của Trần văn Nguyên, đặc phái viên kiêm Thanh Tra chánh trị miền Tây Nam bộ và một của Bửu Vinh, mời Ngài đến dự Hội nghị họp tại làng Tân Phú để định liệu kế hoạch ḥa giải giữa VM và Ḥa Hảo Dân Xă.

Vào 7 giờ sáng ngày 15-4-1947 (24 tháng 2 nhuần) Đức Thầy xuống ghe đi với 3 người chèo, 4 tự vệ quân, ông đại đội trưởng đđ/2 và người thơ kư văn pḥng là ông Huỳnh Hữu Thiện.

Lối 8 giờ sáng ghe tới chơ Ba Răng, có Trần văn Nguyên xuống bến đón Ngài lên chợ. Ngài đến diễn giảng trước đông người kêu gọi sự đoàn kết chống xâm lăng và gác bỏ hận thù giữa VM và Dân Xă. Trưa lại Ngài dùng cơm với Trần văn Nguyên trong một căn phố gần đó. Sau bữa cơm, độ 12 giờ, Trần văn Nguyên và một thơ kư xuống đi chung ghe với Ngài đến Đốc Vàng Hạ thuộc thôn Tân Phú. Đến đây, một bản hiệu triệu được công bố, cho biết các cấp chỉ huy hai bên đang bắt tay nhau lo việc ḥa giải và kêu gọi hai bên đừng xô xát nhau.

Sau khi dùng cơm chiều, Đức Thầy lại nghỉ ở nhà một tín đồ gần đó.

Hôm sau, ngày 16-4-1947 (25 tháng 2 nhuần), lối 7 giờ sáng Đức Thầy trở lại hội đàm với Trần văn Nguyên, rồi phái ông Ngô Trung Hưng cùng một nhân viên của Trần văn Nguyên đi các thôn ḥa giải.

Sau khi dùng cơm trưa, Đức Thầy xuống ghe nghỉ th́ Bửu Vinh đến đưa thơ yêu cầu được gặp Ngài.

Trong cuộc hội kiến, Bửu Vinh báo cáo rằng Dân Xă giết VM ở Lấp Ṿ và buộc Đức Thầy phải đi, nhưng Ngài tỏ ra cương quyết biện bác và đ̣i Bửu Vinh cùng đi.

Bửu Vinh khước từ và đ̣i phải cho bộ đội có vơ trang theo pḥng vệ mới đi. Ngài trả lời một cách cứng cỏi: Tại sao tôi có một ít người không có bộ đội ủng hộ lại dám vào sào huyệt các ông. Như thế quí ông không thành thật.

Bửu Vinh không trả lời được nên buộc ḷng nhận lời đi và yêu cầu Đức Thầy đến văn pḥng của y để cùng đi. Liền lúc đó, Trần văn Nguyên đến trao cho Ngài một mảnh giấy nói rằng có điện tín từ Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ mời Đức Thầy trở về miền Đông lập tức dự phiên họp bất thường.

Đức Thầy trả lời không thể trở về dự phiên họp được v́ c̣n lo việc ḥa giải. Chiều hôm ấy Trần văn Nguyên từ giả Ngài vào lúc nhá nhem tối.

Y lời hẹn, Đức Thầy xuống ghe đến văn pḥng Bửu Vinh, có một liên lạc viên dẫn đường. Trời tối đen như mực, bỗng có tiếng kêu: Ghe ai đó? Sao giờ nầy đă thiết quân lực mà c̣n dám đi!

Người liên lạc trả lời: Đi lại văn pḥng ông Bửu Vinh.

Liền đó có lịnh: Ghe ghé lại. Rồi th́ đèn chóa rọi xuống, khi biết là ghe của Đức Thầy, chúng nói ông Bửu Vinh mời Đức Thầy lên văn pḥng.

Đức Thầy cùng 4 tên tự vệ quân lên một ngôi nhà ngói. Ngài vào ngồi bàn giữa nói chuyện với Bửu Vinh, c̣n 4 tự vệ quân th́ cầm súng đứng hai bên cửa gần đó.

Mười phút sau, lối 7 giờ rưỡi, có 8 người từ bên ngoài đi vào, chia ra làm 4 cặp tràn tới đâm 4 tên tự vệ quân.

Ba người bị đâm chết, chỉ c̣n anh thứ tư là Phan văn Tỷ lanh trí nên tránh kịp, liền thoát ra ngoài, bắn một loạt tiểu liên. Trong lúc anh Tỷ né th́ một trong 2 tên VM bị đồng bọn của ḿnh đâm chết.

Thấy chuyện chẳng lành, Đức Thầy lẹ làng thổi tắt đèn; văn pḥng trở nên tối đen, không ai nhận thấy Đức Thầy đâu cả.

Viên thơ kư của Ngài và 3 tên chèo ghe lẹ làng tẩu thoát, vội vă về báo tin.

Tiếng tù và, thùng thiết nổi dậy báo động. Binh sĩ toan vác súng kéo đi giải vây th́ vào khoảng 11 giờ đêm bỗng có một tín đồ phi ngựa mang về Phú Thành một bức thơ như sau:

Ông Trần văn Soái và ông Nguyễn giác Ngộ,

Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra tôi với ông Vinh suưt chết, chưa rơ nguyên nhân, c̣n điều tra: trong mấy anh em pḥng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát th́ các ông đừng tin và đừng náo động.

Sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.

Phải triệt để tuân lịnh.

Ngày 16-4-1947 9 giờ đêm.

Kư tên.

Ông Mai văn Dậu đem đối chiếu chữ kư th́ xác nhận là chính của Đức Thầy. Thế là mọi người phải tuân lịnh, chỉ nh́n nhau mà thở dài với niềm hy vọng ngày mai Ngài sẽ trở về.

Nhưng từ ngày 16-4-1947 cho đến nay vẫn bặt luôn tin tức

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

| CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

 

[TV. PGHH]