Đức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

Đức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích d́u sanh chúng,

Chủ ư chọn người vẹn Tứ ân.

(H́nh Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

 

Chương I

 

Bối cảnh xă hội

Lịch sử thường chứng nhận, trong những hoàn cảnh xă hội băng hoại, nhơn tâm ly tán, thế đạo suy đồi, ḷng người hung ác, mê muội bạo tàn… là lúc Thánh nhơn ra đời để d́u dắt nhơn dân, cải ác tùng lương, chấn chỉnh luân thường đạo nghĩa.

Như Đức Phật Thích Ca ra đời vào lúc xă hội Ấn độ phân chia giai cấp trầm trọng, các mối ngoại đạo thạnh khởi, mê hoặc ḷng người, gây thành một trạng huống hỗn loạn, làm cho tâm trí con gười đảo điên, đời sống mê mờ tăm tối. Ngài ra đời để đem đạo trí huệ soi sáng ḷng người, đức từ bi phá tan giai cấp xă hội.

Ở Trung Quốc, Đức Khổng Tử ra đời cũng vào thời Xuân Thu chiến quốc, các nước thôn tính lẫn nhau, trật tự xă hội rối ren, đời sống nhân dân cùng khốn, luân lư suy đồi, cang thường đảo lộn. Ngài ra đời đem lại đạo nghĩa, chỉnh lại nhơn luân, xây dựng lại trật tự xă hội băng hoại, đào tạo nên hạng người quân tử làm mẫu mực trong đời.

Ở Trung đông, Chúa Cơ đốc giáng lâm cũng vào thời con người hung ác, xă hội mê lầm. Ngài đem t́nh bác ái ban răi khắp nơi, treo gương hy sinh cao cả biểu dương t́nh thương bất diệt.

Cứ theo thông lệ, các bực Thánh nhơn hay các đấng cứu thế lâm phàm, luôn luôn phải hội ít nhứt ba điều kiện sau đây:

1/ Thời cơ hay vận mạng của quốc gia mà bực Thánh nhơn chọn lâm phàm có đúng lúc cần đến sự giúp đỡ của Thánh nhơn để dạy dỗ nhơn dân chưa?

2/ Hoàn cảnh có thuận tiện cho sự xuất hiện của Thánh nhơn chưa? Nghĩa là một xă hội băng hoại đang cần đến Thánh nhơn cứu văn.

3/ Cơ duyên của chúng sanh có chín mùi và có thuận cho sự giáo hóa của Thánh nhơn chưa? Nghĩa là Thánh nhơn đă gieo duyên với nhân dân ở một địa phương nào đó, nay Thánh nhơn ra đời, do nhân duyên đă gieo mà Thánh nhơn được chúng sanh hưởng ứng.

Nếu Thánh nhơn ra đời mà không hội đủ ba điều kiện trên đây, nghĩa là chưa hạp thời cơ, không hạp hoàn cảnh hay không có cơ duyên với chúng sanh th́ chẳng những trên không hạp ḷng Trời, mà dưới không hạp ḷng người th́ lấy ai hưởng ứng hầu có cứu thế độ dân, hoàn thành sứ mạng.

Xét về trường hợp Đức Huỳnh Giáo Chủ, chúng ta nhận thấy:

Về điều kiện thời cơ, Đức Huỳnh Giáo Chủ có cho biết: “V́ thời cơ đă đến, lư Thiên đ́nh hoạch định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan…"

Về hoàn cảnh, Ngài đă nhận: "Thiên Tào đă xét định, khắp chúng sanh trong thế giới trong buổi Hạ ngươn nầy, say mê vật dục, ch́m đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả, luật Trời đà trị tội, xét kẻ thiện căn th́ ít, người tội ác quá nhiều, chư Phật mới nhủ ḷng từ bi cùng các vị chơn Tiên lâm phàm độ thế, trước ra công cứu khổ, sau chỉ rơ cơ huyền, khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh th́ mới mong Thiên đ́nh ân xá bớt tội căn để kịp đến Long Hoa chầu phật”.

Về khoản cơ duyên, Ngài đă nhận rằng: "Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu đạo nơi quốc độ nào th́ cũng phải trở về quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân, v́ thể ḷng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh hồn đă trợ duyên trong nhiều kiếp giúp ta nương cậy tu hành nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ măo, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh…”.

Đức Huỳnh Giáo Chủ xuất thế cũng ở trong hoàn cảnh tương tợ như Đức Phật Thích Ca ở Ấn độ, Đức Khổng Tử ở Trung Quốc và Chúa Cơ đốc ở Do Thái, nghĩa là ở vào thời kỳ xă hội băng hoại, luân lư suy đồi, nhơn dân đồ thán.

A.- Về phương diện đời

Tháp tùng theo đoàn binh viễn chinh xâm lược, ngọn gió Tây Ấu tràn vào Việt Nam làm ngă đổ thuần phong mỹ tục của ngàn xưa. Tiêm nhiễm lấy nền văn minh vật chất, trọng ở sự phù phiếm xa hoa về thể xác hơn tinh thần, người đời đua chen theo những thói hư tật xấu, làm bại hoại gia đ́nh, hư hèn phong hóa.

1/ Về gia đ́nh

Việc loạn luân can kỷ càng ngày càng chất ngất, như giữa cha con th́ mất cả hiếu từ, giữa chồng vợ th́ mất cả ân nghĩa, giữa anh em th́ mất cả kính thuận, giữa bè bạn th́ mất cả thành thật, giữa chủ tớ th́ mất cả trung tín… Ngoài ra, giữa tôi chúa không c̣n trung nghĩa, giữa thầy tṛ mất cả kính thành. Nói tóm lại đạo luân thường đă hư hèn bại hoại.

Gẫm nhiều người bội bạc thâm ân:

Nào kể chi là đạo Quân Thần,

Tôi giết chúa, con đành sát phụ.

Lúc nguy cơ tớ mong hại chủ,

Tṛ giết thầy tội ấy đáng không?

Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng,

Niềm huynh đệ cùng nhau xâu xé.

Cũng hiếm lúc con c̣n giết mẹ,

Giành của tiền cốt nhục giết nhau.

Tranh lợi danh giết lẫn đồng bào,

T́nh nhân loại phân chia yểm bách.

2/ Về phong hóa th́ xă hội càng ngày càng đồi bại, nảy sanh ra nhiều hạng người: đàng điếm chơi bời, gian phi hung ác, ích kỷ sâu dân…

"1) Hạng đàng điếm chơi bời không lúc nào thạnh hành bằng từ khi có ngọn gió vật chất thổi mạnh vào làm cho con người say mê.

"a) Quen thói chè chén say sưa vất mả, la ó đánh đập, sanh ra lắm việc tồi tàn;

"b) đàng điếm đĩ thỏa, son phấn lả lơi, trêu hoa cợt nguyệt, bày tṛ dâm loàn, khả ố;

"c) đấu ké đổ bạc, dối gạt lận lường, thua thiếu nợ nần đâm ra cướp giựt;

"d) Hút xách nghiện gập, cạo ống vét nồi, cầm quần bán áo, làm những điều hèn hạ nhuốt nhơ.

"Về vấn đề này, Đức Huỳnh Giáo Chủ đă khéo trách thiện trong mấy vần thơ dưới đây:

Ở thị thiềng đua chen xướng khởi,

Những tuồng hư cho bọn gái lẫn trai.

Nào hút thuộc phiện hội ve chai,

Nào trùm đĩ ma cô, nghề hút máu.

Ai để mắt nh́n xem châu đáo,

Chẳng khỏi than giùm dân tộc quá hư hèn.

Diện áo quần son phấn lấn chen,

Miễn cho ḿnh được lên xe xuống ngựa.

Mảng điểm tô huy hoàng nhà cửa,

Ai khốn cùng để mặc đất trời xoay.

"2) Hạng gian phi là những kẻ:

"a) Chuyên sống về nghề khoét vách đào tường, năm nầy tháng nọ chẳng chịu ra sức làm ăn, ngoài ra c̣n bày mưu nầy kế nọ lường gạt kẻ làm ăn chơn chất mà ḷng không chút ăn năn cải hối.

"b) Chuyên sống về nghề mua giựt bán giành buôn lậu đầu cơ, lường cân tráo đấu, hại kẻ quê mùa dốt nát, v́ ḿnh mà sống cơ cực thiếu thốn.

"Về hạng nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ thường khuyên:

Việc bán buôn phải giữ ngang cân,

Chớ tập tành lận lường tráo đấu.

Các công cuộc của người tánh xấu,

Ta giữ ǵn đừng có nhiễm vào.

"c) Chuyên sống về nghề cho vay cắt cổ, vốn một lời mười, thi hành phát măi, ở đợ nát lời gây nên một cảnh trạng bức hiếp thê thảm cho kẻ cô thân bần tiện.

"3) Hạng hung ác là những người:

"a) Chưởi cha mắng mẹ, rủa xả xóm riềng, không kiêng già cả, kêu réo Thánh Thần, miệng không ngớt lời độc ác với kẻ trong nhà cũng như người ngoài ngơ.

"b) Ỷ khôn lanh húng hiếp những người hiền lương khờ khật, từ miếng ăn cho đến thức mặc đều đặt trên lẽ hung tàn ác độc.

"4) Hạng ích kỷ là hạng người chỉ biết sống riêng, ngày tháng cứ bo bo giữ của, không ḷng bố thí. Chẳng những thế mà lại c̣n tham lam vùa hốt của người một cách sâu hiểm.

"5) Hạng sâu dân là hạng người giá áo túi cơm, phỉnh gạt dân chúng bằng ng̣i viết ngọn roi khiến cho đám dân đen phải sống dưới sự đàn áp bóc lột mà họ vẫn ngang nhiên không biết xấu xa hổ thẹn.

"Về hạng nầy Đức Huỳnh Giáo Chủ đă lắm phen thống trách như mấy vần thơ dưới đây:

Đời cũng lắm bao người giá áo,

Nương bă vinh nhiều hạng túi cơm.

Thấy dân ngu trong dạ sẵn hờm,

Quyết kiếm thế đặng toan lừa dối.

"6) Hạng người ngộm là hạng người:

"a) Vô ích trong xă hội, sống một cách trơ trẽn dưới sự ám ảnh của nhục dục, chỉ biết ăn với ngủ, không khác ǵ đời sống của con vật.

"Về hạng nầy trong Sám Giảng có đoạn tả như vầy:

Đời lắm kẻ đầu trâu mặt ngựa,

Coi sự sống như Tiên nưa nửa:

Mê mồi thơm như cá lục châu

Sao chẳng lo thức tỉnh quày đầu,

Cho khỏi thẹn với người Thượng cổ.

"b) Vô liêm sĩ, chỉ vùi đầu óc trong cuộc truy hoan dật lạc, lo chưng dọn h́nh vóc lả lơi, bày tṛ bướm ong hoa nguyệt một cách nhơ nhuốt tối tăm. Chẳng những thế mà lại c̣n tự phụ vào mớ học văn minh cặn bă, trở lại phỉ báng ông cha, khinh chê cổ tục, không chút liêm sĩ thẹn thùa.

"Về hạng nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ không ngớt than phiền như mấy câu dưới đây:

Văn minh sửa mặt sửa mày,

Áo quần láng mướt ngày ngày ăn chơi.

Dọn xem h́nh vóc lả lơi,

Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.

Trong tâm chứa những điều tà,

Lời ăn tiếng nói thật là quá lanh.

Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,

Chẳng trau hiền đức học hành làm chi?

Khôn ngoan thời những chuyện ǵ,

Cũng là lừa dối vậy th́ dân quê.

Người xưa nó lại khinh chê,

Ông cha hủ bại u mê hơn ḿnh.

Tư do trai gái kết t́nh,

Với lo trau sửa cho ḿnh đẹp tươi.

Gái trai đến tuổi hai mươi,

Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả lơi.

So h́nh sửa sắc chiều mơi,

Đặng làm những chuyện trái đời vô liêm.

Cớ sao chê cổ trọng kim,

Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.

Thấy đời trần hạ thon von,

Ai nuôi cho lớn mà c̣n khinh khi.

Ông cha thuở trước ngu si,

Mà ngay mà thật hơn th́ đời nay.

Học hay lợi dụng tiền tài,

Lên quan xuống huyện ăn xài lả lê.

Gặp ai đói rách cười chê,

Miệng kia hễ mở chưỡi thề vang rân.

Chẳng lo rèn trí lập thân,

Để làm xảo trá khổn thân sau nầy". (1)

Thanh Sĩ và Vương Kim: để hiểu Phật Giáo Ḥa Hảo, tr. 55-59.

Trên đây là trạng huống đồi trụy của xă hội Việt Nam về phương diện đời, đến như về phương diện đạo, tinh thần đọa lạc cũng không kém.

B.- Về phương diện đạo.

Nước ta từ ngàn xưa đă tiêm nhiễm đạo Nho và đạo Phật là hai mối đạo làm nền tảng cho phong hóa kỷ cương, xây dựng nên quốc thạnh dân cường, đào tạo nên hạng người anh hùng tiết liệt làm rạng rỡ cho quê hương đất nước.

Nhưng mấy lúc gần đây, những nền đạo lư nhân nghĩa tốt đẹp ấy đă bị làn sóng văn minh vật chất lôi cuốn, khiến cho thất chơn truyền và một ngày một suy lạc.

"I.- Về đạo nho th́ thuyết tu, tề, trị, b́nh luân thường đạo nghĩa của ngàn xưa đă đến hồi suy vi hủ bại. Kẻ học Nho ngày nay không c̣n mấy người được phong độ quân tử, đem đạo Thánh Hiền truyền bá trong dân gian, chấn chỉnh cang thường đạo nghĩa, gây nên một học phong sĩ khí mà chỉ đem cáo sở học ra áp dụng vào những việc buôn y bán lễ, làm thơ cợt nhă trêu đời, coi như dưới mắt không ai, hiêu hiêu tự đắc.

"Về hạng hủ Nho nầy, Sám Giảng có đoạn biệu trạng như vầy:

Đàng nhu thầy lễ cũng kỳ,

Mắc phải chuyện ǵ phủ phục b́nh hưng

Lại thêm đờn địch từng tưng,

Đem con heo sống mà dưng làm ǵ.

Chủ gia kẻ lạy người qú,

Làm chuyện dị kỳ giả dối hay không?

Nếu không th́ trả lời không,

Bằng mà có dối th́ ḥng sửa đi.

Thương đời Ta luống sầu bi,

Học Nho cứ măi làm thi ngạo đời.

Rung đùi ngâm chuyện trên trời,

T́nh duyên cá nước vậy thời dỗ con.

Thấy đời Ta cũng héo von,

Học Nho mà chẳng làm tṛn nghĩa nhơn (1)

(1) Thanh Sĩ và Vương Kim: Để hiểu Phật Giáo Ḥa Hảo, tr. 59.

 

Về hiện trạng suy đồi của đạo Nho, ông Thanh Sĩ có viết:

"Trong nước chúng ta, trước kia hầu hết trong nước từ hàng vua quan đến dân đă đều đồng nhứt hưởng ứng lư thuyết của Khổng Tử là tu về nhân đạo. Mỗi người đều phải học việc: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Việc nầy, phô trương khắp xứ, ai cũng biết. Sau khi biết nhân, nghĩa, lễ, trí, tín rồi họ thật hành, như:

Tôi trung với vua, con hiếu với cha mẹ v.v... dù ai cũng vậy. Nhưng từ sau ngày nước nhà bị trị, nghĩa là kể từ đời vua Tự Đức trở lại đây, làn sóng văn minh phương Ấu tràn vào xứ sở, bôi xóa tất cả thành tích đạo nghĩa trước kia của dân tộc; từ đó đạo nghĩa bị bôi lọ tất cả, đổi lại lắm thói tồi bại trong xứ sở. V́ thế đạo luân thường phai dần đi, cho đến ngày nay, mặc dù có nhiều chùa miễu, nhiều tổ chức trùng hưng đạo Thánh Hiền, nhưng không trở lại như cũ” (1)

(1) Chú nghĩa loạt bài Huấn Luyện đạo đức của Ban Hoằng pháp tại ngôi Tây An Cổ Tự, tr. 122.

II.- Về đạo Phật.

đạo Nho đă thế, đạo Phật cũng không hơn ǵ. Trên lịch sử Việt Nam, Phật Giáo đặt cững cơ đồ ở đời Lư đời Trần. Nhưng trải qua bao cuộc thăng trầm của đất nước, cháp pháp cũng theo thời gian mà suy dần trong dĩ văng. Thừa lúc loạn lạc, Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi tiếp theo thực dân đô hộ non một thế kỷ, tinh thần dân chúng hoang mang mất cả tự tin; những lối tu yếm thế, mê tín dị đoan pha màu phương thuật lại được dịp xây dựng qui mô, làm cho nền giáo pháp dân tộc phải thoái triều trong khoảng thời gian ngót năm thế kỷ.

Ông Thanh Sĩ cũng nhận t́nh tệ suy đồi của đạo Phật ở Việt Nam như sau:

"Cùng một cảnh huống đạo Khổng Tử, đạo Phật Thích Ca ở xứ ta hồi thời nhà đinh, Lê, Lư, Trần rất thịnh đạt, không những trong dân chúng mà luôn đến hàng vua chúa cũng cùng một tin tưởng mạnh mẽ...

"Nhưng kể từ khi các vị Tổ bên Trung Hoa ngưng việc truyền y pho bát đến nay, phái Thần Tú càng lúc càng thêm mạnh, không những ở Trung Hoa mà c̣n truyền qua xứ ta, họ bày ra cách thờ cúng đầy thinh, âm, sắc, tướng (đờn đẩu, trống phách, lầu phướn xá hạc v.v...) làm việc hữu h́nh, hữu ảnh, dân chúng xứ ta dần dần theo đó mà xa lần mối đạo vô vi chánh pháp của Phật. Nền chánh giáo từ đó càng ngày càng lu, các ngôi chùa miếu phần nhiều chỉ là cái vỏ để các tà sư làm mê hoặc thập phương lợi dụng việc no cơm ấm áo vậy thôi, chớ họ không chủ vào việc dắt người đến chỗ sáng sủa giải thoát”. (1)

(1) Chú nghĩa loạt bài Huấn Luyện đạo đức của Ban Hoằng Pháp tại ngôi Tây An Cổ Tự, tr. 125-126.

Về những lưu lệ do Thần Tú bày ra, như làm thầy đám, bày chuông mơ, lầu phướn xá hạc, làm trai đàn, bày lắm tṛ âm thinh sắc tướng... đă được Sám Giảng mô tả trong những đoạn như sau:

Lũ thầy đám hay bày tṛ khỉ,

Mượn Kinh Luân tụng mướn lấy tiền.

Chốn Diêm đ́nh ghi tội liên miên,

Mà tăng chúng nào đâu có rơ.

Theo Thần Tú tạo nhiều chuông mơ,

Từ xưa nay có mấy ai thành.

Phật từ bi độ tử độ sanh,

Là độ kẻ hiền lương nhơn ái.

Xá với phướn là tṛ kỳ quái,

Làm trai đàn che miệng thế gian.

Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,

Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu.

Ngoài những tệ đoan vừa kể, c̣n nhiều điều sai lầm khác nữa như khác áo thầy tu làm như bông tụng mướn, bày việc đốt giấy tiền vàng bạc, cúng kiếng chè xôi, bày tṛ hát Phật mà trong Sám Giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ đă vạch trần nhiều đoạn sai lầm giả dối:

Kinh với Sám tụng nghe thảnh thót,

Lũ như bông tập luyện đă rành.

đẩu với đờn kèn trống nhịp sanh,

Làm ăn rặp đặng đ̣i cao giá.

Tâm trần tục c̣n phân nhơn ngă,

Th́ làm sao thoát khỏi luân hồi.

Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,

Chớ có đốt tốn tiền vô lư.

Xưa Thần Tú bày điều tà mị,

Mà dắt d́u bá tánh đời đường.

Thấy chúng sanh lầm lạc đáng thương,

Cơi âm phủ đâu ăn của hối.

Đúc phật lớn chùa cao bối rối,

Mà làm cho Phật giáo suy đồi.

Tu vô vi chớ cúng chè xôi,

Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót.

Tăng với chúng ưa ăn đồi ngọt,

Nên bày ra cúng kiến hoài hoài.

ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,

Cúng với lạy khó trừ cho đặng.

Kẻ nghèo khó tu hành ngay thẳng,

Không cầu siêu Phật bỏ hay sao?

Lập trai đàn chạy chọt lao xao,

Bôi lem mặt bày tuồng hát Phật.

Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,

Vậy hăy mau bỏ bớt dị đoan.

 

Cao đài Giáo cũng nhận thời kỳ nầy Tam Giáo đă thất truyền nên nhơn sanh "lần lần tiêu đạo đức, phế tinh thần, mới chuộng sự hữu h́nh, nên bày nhũng âm thinh sắc tướng. Không ai c̣n để chí lưu tâm đến chỗ thâm huyền cao viễn, chỉ ưa sự dễ dàng, tạn thấy tạn nghe, rồi cứ dăy ḷng nhơn dục tham mê, mới gây tội án nặng nề, phải mang lấy sừng ḷng mà bị thối hóa lại súc sanh và luân hồi lục đạo”.

"1.- Đạo Thích, đạo Thiền bày dị đoan từ thời Thần Tú làm mê hoặc nhơn sanh. Vậy cũng phổ độ, cũng giựt giành mà chỉ đem con người vào đường u ám, lạc lầm. Kinh Sấm truyền lại mà không khảo cứu, kiếm tầm cho ra chơn lư, chẳng trí tham thiền, không gom thần nhập định.

"2.- C̣n Nho Giáo, sau đời Mạnh Tử, càng ngày càng lạc lầm, đường Thiêy lư chẳng cần, chỗ thâm nhiệm không rơ, chỉ học đặng khoe tài hay giỏi, dục lợi cầu danh, tổn nhơn ích kỷ, chớ không chịu học để sửa ḿnh, tầm hiển cho tột cùng cái lư cao siêu huyền bí, cáo cơ nguồn cội muôn loài…" (1)

(1) đại Thừa Chơn Giáo, tr. 4-8.

Nói tóm lại, xă hội Việt Nam, sau ngày bị Pháp đô hộ, đă bănghoại cả hai phương diện đời sống vật chất và tinh thần.

Nhan nhản những cảnh tượng đồi trụy diễn ra khắp hang cùng ngơ hẻm, lắm tṛ bại lư thương luân. Nơi thành th́, vật chất hào hoa đă đánh chết bao nhiêu mầm non của đất nước, sống với dâm ô, cờ bạc rượu chè, nhà thổ áp phiện, gục ngă bên đường trụy lạc.

Chốn thôn quê, tệ lâu mê tín dị đoan gieo rắc ủy mị yếu hèn trong tâm hồn nông dân thiếu học. đa số đồng bào chịu cảnh mù chữ. đời sống đều quây quần theo thầy bùa, thầy pháp, thầy ngải, thầy lỗ ban, xin xăm bói quẻ, hối lộ Thánh Thần, sống cùng ma quỉ, làm ngăn cản con đường tiến thủ quốc gia, tiêu trầm đức tự tín của dân tộc.

Người đời phó thác tánh mạng cho thầy pháp thầy phù, cho ma cho quỉ. Hằng đêm cùng làng khắp xóm, vang lên tiếng trống tiếng kèn, tiếng ḥ hét của thầy pháp, của nhưn bông, của đồng bóng.

Đầu óc của hạng dân quê mất học đă thế, đến như hạng thanh niên tân học th́ trái lại, một khi cặp sách đến trường là xây mộng làm quan, riêng hưởng vinh hoa phú quư trên mồ hôi nước mắt của đám dân đen chất phác.

Đến như giới cần lao th́ âm thầm chịu đựng số phận tôi đ̣i, bị bóc lột, khủng bố mà không dám than van, phản kháng.

Chính trong hoàn cảnh đen tối thê thảm ấy, Đức Huỳnh Giáo Chủ ra đời.

MUC LUC | CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

| CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

 

[TV. PGHH]